vhnt, số 314
22 July 1997
Trong số này:
thư vhnt................................................................BBT
T h ơ:
1 - Suy niệm & Nàng...............................Trương Trọng Hoàng
2 - Bím tóc tuổi thơ..................................... Ðinh Thăng
3 - Tháng sáu sương mù...................................... Hàn Trân
4 - Phượng tím................................................... Ý Nhi
5 - Hấp hối............................................... Phượng Vỹ
6 - Trời em, hoa dại thiên thần...................... Ðinh Yên Thảo
7 - Tiễn Ðưa & Chút Gì........................................ Cát Nhu
8 - Chùm thơ William Carlos William.......... Trần Thuyên chuyển ngữ
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Tiếng Việt & một số tác phẩm mới phát hiện (p 2/2)................... Nguyễn Vy Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10 - Sợ ..................................................... T V Nguyễn
11 - Hoàn cảnh một bài thơ......................... Nguyễn Nguyễn
Số VHNT bạn đang đọc phát hành ngày hôm nay đánh dấu VHNT vừa tròn hai tuổi.
Thời gian như dòng sông lặng lờ trôi, không ngừng, không đợi. Mỗi chu niên, bất quá, chỉ là mốc điểm cho một lần nhìn lại đoạn đường đã đi qua của VHNT, từ thuở phôi thai cho đến hôm nay.
Bắt đầu bằng tâm ước của một số người nhỏ, VHNT đã chuyển mình từ đơn sơ của những số đầu tiên cho đến những đóng góp đa dạng bạn đang đọc trong số này. Rồi gia trang, rồi Tuyển Tập VHNT đầu tiên, rồi họp mặt thân hữu VHNT tại Houston, và Tuyển Tập VHNT thứ nhì đang trong giai đoạn trình bày và in ấn, v.v... Chắc chắn sự trưởng thành của VHNT không phải là do công sức của một nhóm nhỏ, mà là của nhiều người, nhất là đóng góp bài vở từ các bạn viết và sự hưởng ứng của bạn đọc.
Trong năm qua VHNT cũng trải qua nhiều mất mát. Hai cây bút nhiệt tình của VHNT là Y Yên và Dương Hùng đã qua đời thật đột ngột. Anh Y Yên là người đã chia cùng chúng ta những truyện dịch từ Nhật Bản thật xuất sắc. Anh Dương Hùng đã cho chúng ta những truyện ngắn và loạt bài về văn học thật ý nhị, sâu sắc. Cách đây vài tháng, thân mẫu của chị Phạm Chi Lan, người thành lập và mang trách nhiệm nhiều nhất với VHNT, cũng đã qua đời.
Bên cạnh những nỗi buồn đó, là niềm vui. Trong năm qua, vài cây bút thường xuyên của VHNT đã lập gia đình. Vài cây bút khác có thêm niềm hạnh phúc được làm cha, làm mẹ lần đầu.
Và niềm vui ấm cúng nhất của anh chị em trong nhóm chủ trương, từ lúc ban đầu đến nay, vẫn là đã thực hiện được một môi trường để khai triển và đúc kết những thăng hoa của những tấm lòng yêu nghệ thuật. Và để phổ biến những thăng hoa đó đến với những tâm hồn yêu nghệ thuật khác - Là bạn đọc.
Cám ơn. Xin cám ơn tất cả - những đóng góp, những hưởng ứng. Hôm qua. Hôm nay. Ngày mai.
thân ái,
BBT/vhnt
Suy Niệm...
Vật lộn với đời
Bao đêm
Thức khuya
Dậy sớm.
Chợt có phút nghỉ tay
Giật mình
Nhìn lại mình
Dường như
Ðang làm công việc của ai.
Ðời là mộng?
Hay thực?
Ta đang nằm mơ?
Hay đang sống đây?
Có lẻ bạn ta
Sẽ trả lời giùm ta...
16/06/97
Nàng
Thượng Ðế tạo ra Nàng
Ðặt cùng thế giới với Ta.
Cỏ cây muôn hoa
Dường như phai màu
Dường như kém tươi
Vì Nàng
Ở đây.
Thượng Ðế tạo ra Ta
Con người
Nhưng quên xóa đi đau khổ
Nhưng quên xóa đi buồn thương
Ðể hôm nay
Ta đau
Ta buồn
Vì Nàng
Ði đâu.
Nàng đi đâu?
Biết hỏi ai?
Biết nói chi?
Biết làm sao?
Thế giới
Cô quạnh
Mình ta.
Nàng đi đâu?
17/06/97
Trương Trọng Hoàng
Bím Tóc Tuổi Thơ
Kỷ niệm của tôi với em
Chỉ một mình tôi nhớ mãi
Nhà tôi trong khu tập thể
Nhà em ở ngoài đầu đường
Em học trên tôi một lớp
Hai đứa cùng chung một trường
Nhà em kín cổng cao tường
Thoảng xanh một giàn thiên lý
Chẳng rõ bắt đầu từ đâu
Biết em về chung một lối
Nắng vàng đôi vai thấp thoáng
Ðể tôi lặng thầm theo em
Từ đó sáng nào cũng vội
Ðợi em quán nước bên đường
Cánh cổng xanh cao kín tường
Chia đôi một mùi hoa lý
Em luôn kết tóc thành hai
Bím dài buông ngang lưng aó
Nắng đọng vai thưa thấp thóang
Phượng ngẩn vần thơ không lời
Một năm có bao nhiêu ngày
Bấy nhiêu niềm vui thầm lặng
Bím tóc em dài đong đưa
Ðường thơ hai hàng cây nắng
Xe em không hỏng bao giờ
Cũng chẳng bao giờ tuột xích
Em chẳng bao giờ trông ngang
Tôi chẳng bao giờ dám vượt
Hè ấy tôi về quê nội
Nhớ hai bím tóc quá chừng
Chiều dõi những làn mây trôi
Phượng ở đâu về đỏ rực
Ðến ngày khai trường tôi đợi
Cành hoa run rẩy trên tay
Cánh cổng xanh im suốt ngày
Hương lý xưa quên chẳng dậy
Bím tóc đi xa mất rồi
Một phương trời nào thấp thoáng
Cành hoa cháy đỏ không màu
Ðường trưa trần chang chang nắng.
Nhớ hè 1984
Ðinh Thăng
Tháng Sáu Sương Mù
Sáng tháng sáu sương mù mặc cây lá
Mặc nụ cười em đến tựa hôm qua
Những con chim tiếng nước rụng thật thà
Lòng xa lắc khung trời em có thấy
Ta gõ chân con đường chưa thức dậy
Từng nhịp đời loang lở vẫn còn đây
Ta chúc em tình cũng lên thật đầy
Ðể ly rượu mừng em là nước mắt
Rượu mắt đó đầy men sầu héo hắt
Chếnh choáng lòng năm tháng vẫn còn say
Một cánh mây rụng xuống bờ cỏ lầy
Và trong đó tim ta thoi thóp thở
Sáng tháng sáu lời em xưa cứ ngỡ
Ta mơ hồ ngộp nước những hồ mơ
Vẫn tưởng em gửi gấm chút lặng lờ
Trời sương trắng hay hồn ta thật trắng
Những hồn nhiên nhốt vào nôi cay đắng
Giọt sữa đời nuôi lớn cuộc bâng khuâng
Cây cô đơn mọc nhánh khổ bao lần
Nên trang điểm bằng nụ cười nhung nhớ
Sáng tháng sáu nhìn vào ta bỡ ngỡ
Ngày bắt đầu đêm đã đến trong ta
Một cánh thư chưa viết đã thấy già
Chờ đợi mãi xa xôi bờ môi đó
Hàn Trân
Phượng Tím
Chân trời - tím sắc hoàng hôn
Phượng kia - thoáng cũng tím buồn
Hoa buồn đơn lẻ
Hoa rơi lặng lẽ
Lối sỏi ngọc - sao hững hờ
Lối xưa cũ - chỉ là mơ
Hồn vào hư vô
Hồn như tan vỡ
Ý Nhi
Hấp Hối
Xanh như tàu lá chuối
Tiêu
Nằm trên giường
Bệnh
Ðã nhiều ngày
Ho / ra máu
Ðỏ
Ðờm xanh
Pha / mật đắng
Nạo tim gan
Chờ bác sĩ
chối
Tử thần chê
Thuốc gì
Cũng vô hiệu
Cuốn nhật ký vẫn còn
Nhiều trang bỏ trống
Xác hồn / đã chực lìa chốn dương gian
Chờ
Chết
Phượng Vỹ
Trời em, hoa dại thiên thần.
Nếu em còn giữ trời hoa dại
Xin hãy tặng ta, chút hương đài
Khúc du ca, trên đồng cỏ nội
Biêng biếc chiều, phủ kín đôi vai
Ta sẽ ca, khúc ca giông bão
Những đam mê, thửa mới con trai
Ta sẽ kể, chút tình lưu lạc
Chưa bao giờ đến được ban mai
Nếu em còn giữ trời hoa dại
Ép cánh bướm hoa, lá thuộc bài
Cho ta mượn, rụng rơi hoa khế
Làm cánh sao băng giấc mộng dài
Mượn trăng em, mọng tràn tinh khúc
Ðắp lại vần thơ, khuyết lửa tình
Trả vũ hội, mặt nạ trang sức
(Ðêm Romeo, đâu cần cả trăng sao)
Hãy cho ta trời em hoa dại
Những vì sao sáng tỏa trên trời
Ta làm gã chăn cừu mẫn cán
Canh một đời, giấc mộng thiên thần.
Ðinh Yên Thảo
Tiễn Ðưa
Tiễn đưa mây trắng xa vời
Tiễn đưa dù chẳng một lời từ ly
Tiễn đưa người đã ra đi
Tiễn đưẳ người ở lại thì lòng đau
Tiễn đưa giữa trận mưa ngâu
Tiễn đưa - đưa tiễn âu sầu đầy vơi
Tiễn đưa nhau cuối chân trời
Tiễn đưa nhau... một nụ cười làm duyên
Chút Gì...
Chút gì như thể nhớ thương
Chút gì như thể màu hường của môi
Chút gì như máu tim tôi
Chút gì thôi... đã chia đôi hai đường
Chút còn lại là vấn vương
Chút còn lại là đêm trường nhớ nhau
Chút còn lại là nỗi đau
Chút còn lại là khắc sâu nỗi buồn
Cát Nhu
thơ William Carlos William
trích The Collected Poems, Volume III (1939 - 1962)
The Deceptrices
Because they are not,
they paint their lips
and dress like whores.
Because they are uncertain,
they put on the bold
looks of experience.
This is their youth, too
soon gone, too soon
the unalterable conclusion.
Những Người Nữ Dối Gian
Vì họ không là,
họ tô sơn lên môi
và trang phục như gái điếm.
Vì họ không vững tin,
họ khoát lên nét mạnh dạn
của kinh nghiệm.
Thế đấy, là xuân thì của họ
qua mau, rất mau
một kết cuộc không thể nào biến đổi.
Illegitimate Things
Water still flows -
The thrush still sings
though in
the skirts of the sky
at the bottom of
the distance
huddle
... echoing cannon!
Whose silence revives
valley after
valley to peace
as poems still conserve
the language
of old ecstacies.
Của Rơi
Nước vẫn trôi -
Chim vẫn hót
dù trong
tà áo của bầu trời
ở đáy của
khoảng cách
tụ họp
... đại bác rền vang!
Sự im lặng của chúng phục sinh
thung lũng tiếp theo
thung lũng vào an bình
như thơ vẫn chắt chiu
ngôn ngữ
của tuyệt cảm xưa.
The Thoughtful Lover
Deny yourself all
half things. Have it
or leave it.
But it will keep - or
it is not worth
the having.
Never start
anything you can't
finish -
However do not lose
faith because you
are starved!
She loves you
she says. Believe it
- tomorrow.
But today
the particulars
of poetry
that difficult art
require
your whole attention.
Người Tình Tuyệt Ý
Bạn hãy chối từ tất cả
những gì nửa vời. Có trọn
hay bỏ trọn.
Nhưng nó sẽ tự lưu - hay
nó không đáng
để có.
Ðừng bao giờ bắt đầu
những gì bạn không thể
chấm dứt -
Tuy nhiên đừng đánh mất
niềm tin bởi vì bạn
đang đói khát!
Nàng yêu bạn
nàng nói. Tin thế
- ngày mai.
Nhưng hôm nay
những chi tiết
của thơ
thứ nghệ thuật khó khăn
đòi hỏi
trọn chú tâm bạn.
Pigheaded Poet
Everything I do
everything I write
drives me
from those I love
If it is good
they are bewildered
if it is bad
ashamed
At great risk
to the love they bear me
I walk barefoot
in quicksand
Thi Sĩ Ngoan Cố
Tất cả chuyện tôi làm
tất cả điều tôi viết
đẩy tôi xa
những người tôi yêu
Nếu là hay
họ hoang mang
nếu là dở
xấu hổ
Trong đe dọa mất mát
của tình thương họ dành cho tôi
tôi đi chân trần
trong vũng lầy cát lún
Trần Thuyên chuyển ngữ
TIẾNG VIỆT & MỘT SỐ TÁC PHẨM MỚI PHÁT HIỆN
Phần II
3. Truyện Ông Gioang Ngô Kim Thạch (1916):
Ðây có thể nói là một trong những truyện Việt Nam viết theo truyện Tàu đâu tiên đượm tinh thần Thiên Chúa giáo. Truyện được đăng trên tờ Nam Kỳ Ðịa Phận từ số 403 (1916) đến số 415 (1917), tác giả là Charles Ngọc Minh đến nay vẫn chưa tìm ra tiểu sử. Truyện cho thấy ở Nam Kỳ, truyện Tàu rất ảnh hưởng đến quần chúng thế nào, khiến cho những người truyền đạo mượn lối viết đó để truyền bá đạo mà tác giả tin là phù hợp với đạo lý dựa trên Nho học bình dân. Truyện cũng có nhiều tình tiết giống các truyện Kiều và Lục Vân Tiên; các truyện này được viết theo thể văn vần trong khi Truyện Ông Gioang Ngô Kim Thạch viết theo văn xuôi.
Ðoạn mở đầu truyện:
Tôi thường nghe bên Nho giáo nói rằng: Họa vô đơn chí (cái họa không xảy đến lẻ một mình). Chữ từ chữ thì nghĩa như vậy mà hiểu cho rõ câu ấy có ý chỉ làm sao, thì tôi chưa hiểu rõ. Nay nhơn lúc rảnh, giở sách tích truyện đời xưa gặp cái cơ hội nhà ông Gioang này, thì bây giờ tôi mới thấu động ý nghĩa sâu cái câu "họa vô đơn chí" là gì.
Sau đó tác giả cắt nghĩa thêm: "Anh hùng hào kiệt đời xưa có chăm lo bốn chữ Trung Cang Nghĩa Khí, thì vẫn có ý trông danh vọng lưu hậu thế, hoặc cho đặng thắng lộc tấn quyền. Còn như ông Ngô Kim này thì lại khác, không màng chi danh tiếng phước lộc, can tâm gánh hết các sự gian nan vì biết trong trời đất có Ðấng Chí Linh, công bình chính trực, chầy kíp cái nạn người ngay có ngày phải hết, đặng lãnh thưởng và chẳng bao lâu chước độc kẻ gian phải tỏ bày mà chịu phạt..."
Truyện Ông Gioang Ngô Kim Thạch theo chuyện Tàu ở chỗ nội dung nói chuyện đạo đức, ở lối chia truyện làm 11 hồi với hai câu thất ngôn ở đầu mỗi hồi, cũng như lối mở đầu câu chuyện:
Lối năm 1685, gần rốt đời nhà Minh, buổi vua Thần Tông, ở Triệu Khánh phủ về tỉnh Quảng Ðông có nhà kia hai vợ chồng sanh đặng một trai đặt tên là Joseph Ngô Kim Luông, cha tên là Gioang Ngô Kim Thạch, mẹ là Martha Ðặng Ngọc Khanh.
Nội dung là chuyện luân lý, một kết hợp giữa tam cương ngũ thường của đạo Nho với mười điều răn (thập giới) của Thiên Chúa Giáo, giữa nhân ái của Khổng giáo với bác ái của đạo Chúa, với đức tin vào Thiên Chúa là cha trên trời chí công và chí nhân:
Ông Gioang Ngô Kim ra sức dạy dỗ con cho nó ghi tạc vào lòng khăng khăng đức tin, cậy, kính, mến, và lo các nghĩa cho con hiểu biết mấy điều luật tự nhiên: Tam giáo và tam cương ngũ thường (...) Cha mẹ yêu thương con thật, nhất là vì có một con mà thôi, song cha mẹ bằng lòng thấy con chết trước mặt, chẳng thà thấy con sai lỗi điều gì trong đạo thánh, tam cang ngũ thường. Chẳng những lành phải trả lành, mà lại dầu dữ cũng phải trả lành thay vậy, mắc giữ sự trung với bạn trung, mà cũng mắc giữ trung với kẻ bất trung nữa, làm người thì phải lo cho tròn trung tín".
Truyện kể chuyện cấm đạo bên Trung Hoa nhưng tác giả có ngụ ý nói chuyện Việt Nam. Vì cấm đạo, nhiều vị quan tài ba phải lẳng lặng từ quan quy điền, gia đình ông Gioang Ngô Kim Thạch phải trốn lên núi, rồi lạc nhau và phải chịu nhiều đau thương. Nhưng chính những người bị vua quan bách hại vì nghi ngờ lòng trung lại là những người trung quân ái quốc. Cuối cùng biết chuyện, vua đã phong tặng các người có đạo và ban sắc chỉ khen đạo "cho phép mọi người giữ đạo và phép đạo mặc ý mình". Con ông Ngô Kim Thạch là Kim Luông giúp vua đánh diệt giặc, được vua quan phong lãnh ấn Nhị Lộ Nguyên Soái. Vua đón Kim Luông hồi triều, lại đứng ra làm chủ hôn: "Vua đứng làm mai và cho phép làm theo lễ phép hôn nhân có đạo. Cũng thêm một dịp cho vua chúa nhìn biết lòng can đởm trung quân ái quốc thẳng ngay của kẻ có đạo. Và từ đó vua ra sắc ban khen đạo thánh Chúa Kirixitô và cho phép giữ đạo và phép đạo mặc ý mình". Rõ là những lời muốn nhắn gửi những vị vua thiển cận như Minh Mạng, Tự Ðức đã nhắm mắt nghe sự xiển nịnh các vị hủ nho. Chính sự hủ lậu này làm mất nước chứ không phải vì đạo Chúa; đạo nào cũng có kẻ theo giặc, ai đi với giặc thì cứ bắt người đó nhưng đừng lấy cớ đó để bắt đạo, cấm đạo!
Tiếng Việt dùng trong truyện là một lối văn bình dị, đơn sơ mà sáng sủa, của đầu thế kỷ XX, khác xa truyện Kiều và gần với Lục Vân Tiên về tiếng nói dân gian, ngôn ngữ của người bình dân.
4. Tiếng "nhà thờ" hay tiếng Việt xưa?
Tác phẩm chữ Nôm xưa hiện có phải nói đến là cuốn Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông (thế kỷ XVÌI) của Majorica và một tác phẩm văn học xưa viết bằng chữ quốc ngữ đã in là cuốn Inê Tử Ðạo Văn gồm 560 câu thơ lục bát in trong cuốn Tự Vị Latinh-Việt Tabert (1838). Nhưng qua ba tác phẩm vừa giới thiệu, người đọc đã có thể thấy có một "thứ" tiếng Việt khác phần nào với tiếng Việt hiện nay, khác về cấu trúc, khác trong cách xử dụng chữ và thành ngữ, tiếng Hán Việt cũng ít hơn, v.v...
Tiếng nói là một bộ phận chính của văn hóa một dân tộc. Tiếng Việt từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh và Nam tiến cho đến ngày nay đã có những khía cạnh chưa được điều nghiên kỹ. Chiến tranh nối tiếp nhau đã khiến con người chỉ lo sống còn, rồi trở nên phân hóa, có những thành kiến, vv. Tiếng nói và chữ viết người Việt chúng ta đã tiến hóa theo thời đại và con người. Nhưng nếu tiến hóa mà mất cội nguồn, phải chăng đó là chuyện tốt?
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, sự mở cửa đón nhận những trào lưu văn hóa và khoa học hiện đại, tiếng Việt đã phải thu nhận, sáng chế ra thêm những từ ngữ mới. Nghiên cứu sách báo xuất bản trong Nam là nơi phải tiếp xúc văn hóa thực dân trước cho thấy có những cố gắng du nhập trên căn bản dân tộc, những cuốn từ điển của Huình Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, những biên khảo giới thiệu các khoa học mới như Phép Toán, Phép Ðo, Bác Học Sơ Giai của Huình Tịnh Của, rồi những phong trào Ðông Du, Duy Tân xuất phát trước trong Nam. Ðàng Trong và miền Nam cho đến đầu thế kỷ XX đã thành công chận đứng xâm nhập văn hóa từ thuộc địa Pháp bằng cách phát huy những căn bản văn hóa bình dân của dân tộc. Xuất hiện sau nhưng báo chí miền Bắc có thể vì vị trí địa lý thuận tiện và cũng có thể vì giới trí thức dễ đón nhận sản phẩm văn hóa ngoại nhập dễ dàng từ hàng xóm Trung Hoa, do đó các trào lưu văn học và khuynh hướng học thuật đã dễ nhập đất "ngàn năm văn vật", mà sau đó các trường phái văn học và tư tưởng cũng đâm bông dễ dàng hơn ở vùng đất này. Trên tạp chí Nam Phong số 16 (tháng 10-1918), ông Nguyễn Háo Vĩnh, ký giả, từ Sài Gòn gửi "Thư ngỏ cho chủ bút Nam Phong" đã lên tiếng đả kích chủ trương nhu nhập ào ạt vào tiếng Việt những từ ngữ mượn từ tiếng Hán Việt mà lúc bấy giờ Phạm Quỳnh, chủ bút Nam Phong là người hăng hái nhất cùng với các cộng sự viên khác như Nguyễn Ðỗ Mục, Phan Kế Bính, vv. Nam Phong đã có những ảnh hưởng rất lớn về văn chương học thuật và đã đóng góp nhiều cho sự phát triễn của chữ quốc ngữ, nhưng đồng thời đã biến tiếng Việt phát triễn theo một con đường tuy lớn rộng nhưng đã xa lần những người Việt không đi cùng đường và người Việt trong Nam. Miền Nam đã là nơi trú ẩn những thành phần chống lại đô hộ văn hóa của Tống Nho, những người chỉ thu nhận những cốt lõi văn hóa của Tam giáo, sau lại là phần đất tị nạn của những người Việt theo đạo Thiên Chủa hoặc không sống được ở Ðàng Ngoài. Phan Khôi đã nhìn nhận: "Ðại khái chữ quốc ngữ nước ta, phát nguyên tuy từ Bắc, mà bắt đầu thạnh hành lại từ miền Nam. Cho nên bây giờ chúng ta có thể nói được rằng xứ Nam kỳ đối với lịch sử chữ quốc ngữ lại có quan hệ mật thiết hơn Trung, Bắc kỳ" (3). Xin nhắc: ông Phan Khôi đã nói như vậy vào năm 1929!
Thật vậy, người miền Nam lúc bấy giờ đã không hiểu thứ tiếng Việt dùng trên Nam Phong tạp chí. Nhập cảng từ vựng Trung Hoa rồi Hán Việt hóa, trong khi đó tiếng Việt đơn giản đã có lại không được dùng, cái họa bắt đầu được nhìn thấy, người còn để lại dấu vết là ông Nguyễn Háo Vĩnh, tác giả cuốn Cách Vật Trí Tri Phổ Thông Sơ Giai (1927) và chủ trương báo Khoa Học Tập Chí từ năm 1924. Ông tố cáo tạp chí Nam Phong: "Các ngài làm thư thế thì hình như các ngài là người Tàu qua lấy nước An Nam, muốn đem tiếng nó qua mà thế tiếng ta vậy" (4).
Trong Sấm Truyền Ca, Ðại Nam Việt Quấc Triều Sử Ký và Truyện Ông Gioang Ngô Kim Thạch, ta đã thấy tiếng Việt miền Nam ở thế kỷ XVÌI đến XX thật đơn giản, bình dị. Rồi trong Tuồng Cha Minh (1881, thật ra gần kịch nói hơn là tuồng), theo giáo sư Hoàng Châu Ký từng viện trưởng viện nghiên cứu sân khấu Hà Nội, văn đối thoại trong vở này rất gần gũi với lời nói của dân giả, mới mẻ và đơn giản hơn câu văn đầu thế kỷ XX như văn Nam Phong chuộng lối văn biền ngẫu và cách điệu. Ông nhân đó đặt lại quan niệm cho rằng vở kịch Chén Thuốc Ðộc của Vũ Ðình Long diễn năm 1921 ở Hà Nội là vở kịch nói đầu tiên (5).
Học giả Phan Khôi trong bài "Chữ quốc ngữ ở Nam kỳ với thế lực của phụ nữ" trên tờ Phụ Nữ Tân Văn số 28 (7-11-1929) đã nhìn nhận thứ chữ quốc ngữ dùng trong môi trường đạo Công giáo thống nhất một mối nghĩa là pha lẫn Bắc Nam. Ông cũng đề cao hai tiền bối Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của mà ông tôn là "đại sư" vì hai ông đều viết đúng tiếng Việt: "hai ông cùng học trường bên Ðạo mà ra cho nên các ông ấy viết chữ như người bên Ðạo nghĩa là viết đúng" (6) Tưởng cũng nên ghi lại ở đây, "trường phái" Trương Vĩnh Ký tiếp nối với Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản tác giả tiểu thuyết đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ Thầy Lazarô Phiền. Linh mục Thanh Lãng trong các nghiên cứu cuối đời, những nghiên cứu trong tâm tình dân tộc như ông đã tự kiểm thảo (7), đã kết luận về tiếng Việt "nhà thờ" "đúng thật là tiếng Việt thông thường, phổ thông mà mọi người Việt thời xưa đã nói, tức là cái giới gọi là "nhà thờ" đó, đã nói như mọi người Việt nhà quê cái thứ tiếng nói nhà quê, tiếng nói dân gian mà mọi người Việt nhà quê nói với nhau, hiểu vơí nhau một cách bình thường" (8). Cũng theo ông, tác phẩm do cộng đồng Công giáo biên soạn vào thế kỷ XVÌI hiện còn giữ được, sách vở bằng chữ quốc ngữ chỉ có khoảng 700 trang, trong khi đó tài liệu bằng chữ Nôm còn đưộc 14 tựa với cả 4200 trang; 4200 trang chữ Nôm gốc của thế kỷ XVÌI chưa bị sửa đồi theo thời gian. Ngoài các tác phẩm chữ Nôm và quốc ngữ đã giới thiệu ở trên, còn có nhiều văn bản chữ Nôm và quốc ngữ khác được lưu trữ ở Âu châu mà các giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Tạ Trọng Hiệp, linh mục Thanh Lãng, Ðỗ Quang Chính, vv đã khám phá và chụp vi bản đem về nước. Viện Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội đã sưu tầm được 24 văn bản chữ Nôm thuộc thế kỷ XVIII trong đó có những bản từng được lưu trữ ở chùa Kiểng Phước tại Vọng Các, Thái Lan. Những văn bản sau này là dấu vết chữ Nôm dùng ở đàng Trong.
Những người đàng Ngoài vào Nam lập nghiệp, theo chân các chúa Nguyễn, đã mang theo gia tài văn hóa trong đó có tiếng nói và chữ viết Nôm (và chữ Hán). Sự phân chia địa lý sẽ đưa đến những dị biệt hay cách biệt về văn hóa. Một văn hóa trưỡng thành song hành với những điều kiện khác biệt và với những con người thành phần tập hợp mới. Ông bà ta sẽ đồng hóa người Chiêm Thành, nhưng ta cũng đã bị ảnh hưởng trở lại về văn hóa. Tổ tiên ta cũng sẽ nuốt phần Thủy Chân Lạp. Vua chúa nhà Nguyễn sẽ mở rộng tay đón nhận con cháu nhà Minh; những người này sẽ khai phá những vùng thị tứ mới nay là Chợ Lớn, Biên Hòa, Hà Tiên, v.v... Xa Ðàng Ngoài, một tập thể người Việt mới được thành lập, trên mảnh đất đã trãi qua những văn minh Sa Huỳnh, Ðồng Nai hoặc xa xưa hơn như Óc-Eo, Phù Nam; những lưu dân này sẽ giữ lại những nòng cốt văn hóa của Nho giáo, Ðạo giáo, Phật giáo đại thừa rồi thêm ảnh hưởng của Phật giáo tiểu thừa và đạo Bà La Môn.
Từ những lý đó, tiếng nói lưu dân nơi vùng đất mới sẽ "cập nhật" theo hoàn cảnh sinh hoạt và môi trường địa lý mới. Những "hội nhập" này khiến chữ viết Nôm trong Nam đã có những biến hóa, cấu trúc khác đi theo phát âm, lối viết và phương ngữ Nam bộ. Thí dụ phương ngữ như "chả", "dùa", dị biệt về phát âm như "Chun, chuyến, chiền", thay vì "chung, chiến, truyền / chuyền" (9). Từ đó như tạo thành một "thứ" tiếng Việt của miền Nam lưu dân mà từ lâu nay vẫn bị gán là "tiếng của nhà thờ". Ông Nguyễn Háo Vĩnh trong bài nói trên đã viết tiếp lời phê về văn Nam Phong như sau: "Coi mà chẳng hiểu thì có ích gì đâu, dần dần người ta ngã lòng trông cậy chẳng còn muốn coi nữa". Mới nghe thì có vẻ văn "nhà thờ", nhưng thật ra không có thứ văn nào gọi là văn "nhà thờ", chỉ có tiếng Việt dùng vào chốn nhà thờ cũng như tiếng Việt dùng ở chùa đình vậy thôi. Với những khám phá mới, có khi chỉ là một trở về nguồn với văn bản thời thế kỷ XVÌI và sau đó như đã đề cập trong bài này, có thể nói từ khi Nam Bắc phân tranh, ở Ðàng Trong, tiếng nói bắt đầu xa dần đồng bào ở Ðàng Ngoài; đến khi các vua Nguyễn Huệ và Gia Long thống nhất đất nước, tiếng Việt Ðàng Ngoài sẽ tiếp tục phát triễn theo một hướng độc lập với người trong Nam, trở thành một tiếng nói và viết có khác biệt. Trong khi đó trong Nam, đồng bào di dân từ Bắc vào, từ các thế kỷ XVII và XVIII, vẫn tiếp tục nói tiếng nói họ mang theo vào. Ðó là tiếng Việt được giới tu sĩ và giáo dân Công giáo như các linh mục Lữ Y Ðoan, Philippe Phan Văn Minh, vv xử dụng cũng như mọi người trong cùng xã hội. Ðó cũng là tiếng Việt mà các nhà văn nhà báo và trí thức trong Nam từ Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của đến Nguyễn Trọng Quản, Trương Minh Ký, Nguyễn Háo Vĩnh, các nhà báo của tờ Nam Kỳ Ðịa Phận, vv xử dụng. Ðó cũng là tiếng Việt mà những cộng đồng người Việt lưu vong ở Miên, Lào và Xiêm vẫn nói từ khi họ phải rời đất nước. Tiếng Việt đó là tiếng Việt thống nhất mà Phan Khôi trên Phụ Nữ Tân Văn nói đến và khởi từ đó ông phê bình những nhà báo ở Sài Gòn lúc bấy giờ viết sai tiếng Việt - nghĩa là sai tiếng Việt của Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, tiếng vẫn bị coi là của "nhà thờ"! Nếu có ai muốn phê tiếng Nam viết sai nói sai, nên phân biệt với tiếng Việt thống nhất này, tiếng xưa nay có nhiều dấu vết ở trong Nam!
Như vậy, vì hoàn cảnh canh tân, hiện đại, tiếng Việt đã phát triễn mạnh từ những năm 1920 với sự nhập cảng ồ ạt từ vựng mới của Trung Hoa (và Nhật) với tạp chí Nam Phong, sau đó theo đà Âu Tây hóa, các báo của Tự Lực Văn Ðoàn, Tân Dân, nhóm Hàn Thuyên, rồi phân chia Nam Bắc, tiếng Việt thêm nhiều từ mới. Và tiếng Việt trước 1920 bị xem là tiếng "nhà thờ" và bị bỏ quên, các hoàn cảnh biến cố tiếp sau đó đã tiếp tục đẩy đưa cái khuynh hướng này. Cùng tiếng nói nhưng có những dị biệt về chữ viết, thành ngữ và phát âm khiến không hiểu nhau trọn vẹn. Ðây cũng cùng trường hợp với tiếng Pháp dùng ở Canada là tiếng Pháp cổ thế kỷ XV do những di dân từ mẫu quốc sang vẫn xử dụng. Ðế quốc Pháp thua Anh, bỏ rơi luôn dân của họ. Bên này Ðại Tây Dương, người mẫu quốc phát triễn tiếng nói và xa dần hẳn tiếng Pháp của "anh em họ" (cousins) ở Canada.
Mặt khác, tiếng Việt trước 1920 đơn giản, bình dị thế nào thì tiếng Việt canh tân sau 1920 trừu tượng hơn nhiều, dù từ những thế kỷ XVÌI đã có nhu cầu sáng chế nhiều từ Hán Việt và từ Tây hóa (phiên âm) để theo kịp đà tiến hóa và tiếp xúc với Tây phương. Trừu tượng, đó là lý do khiến ký giả Nguyễn Háo Vĩnh phàn nàn với ông Phạm Quỳnh. Một "học sanh về điện máy chuyên nghề", Nguyễn Duy Thanh ở Paris, góp ý trên Phụ Nữ Tân Văn số 119 (18-12-1932), đã chỉ trích Phạm Quỳnh làm tối tiếng Việt. Ông đưa ra những thí dụ những tiếng Việt dễ hiểu như "màng ngăn bụng, mạch máu nhỏ tí, mạch máu đi, mạch máu về" hay "chung của" bị ông Phạm Quỳnh thay thế bằng "hoành cách mô, vi ti huyết quản, hồi huyết quản, khứ huyết quản" và "cộng sản". Theo ông, người Tàu phát âm ngọng vì có những âm không có trong tiếng nói của họ, nên đã phiên âm sai nhiều danh từ riêng và địa lý như Hoa Thịnh Ðốn (Washington), Anh Cát Lợi (England), Bỉ Lợi Thì (Belgium), nay Phạm Quỳnh "theo đuôi" người nói ngọng thì lại càng đi xa từ gốc (10). Ðó là người có học; còn người bình dân chắc còn ít hiểu tường tận những chữ như "ý thức hệ, thủy quân lục chiến" dù họ nghe đã quen và biết là nói cái gì. Gần đây các vị thuộc Văn Bút hải ngoại chia rẽ "pháo" văn thư và báo rơi qua lại một phần cũng vì không hiểu cùng một trình độ (hoặc không muốn hiểu, hoặc hiểu vầy vậy!) các từ "nội quy, đại hội đồng, xử lý thường vụ, vv". Bản thân chúng tôi gần đây sau khi phổ biến bài Miền Nam Khai Phóng trên báo chí, có người đem bài lên mạng lưới internet khiến bài bị (và được)... chiếu cố khá mạnh; cái "hic" là nhiều người đã "tấn công" vì hiểu sai chữ "khaì-phóng" (cởi mở, open mind) là "tiền phong, đi trước", tựa bài bị dịch ra là "Pionneering South", từ đó có người đội cho tác giả cái mũ "kỳ thị Nam Bắc". Rồi chính chữ quốc ngữ cũng trở thành một trở ngại cho sự phát triễn kiến thức, vì so với chữ Nôm, chữ quốc ngữ không "hồn", thường hay trùng chữ trùng âm và không gợi hình, rất hợp cho tưởng tượng thơ văn nhưng xa dần căn bản ý nghĩa của văn tự dễ đưa đến những diễn văn không nội dung hoặc "ông nói gà bà nói vịt"!
Văn học Việt Nam cổ kim có những nhà văn thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, v.v... tư tưởng tâm tình rất tổng hợp về tín ngưỡng, về nguồn cảm hứng. Ðến các tác giả miền Nam của thời văn học quốc ngữ tiên phong cũng tỏ ra rất tổng hợp và khai phóng về văn hóa. Văn học đã tổng hợp, khai phóng, người nghiên cứu không thể không có được cái tinh thần chủ động căn bản của nền văn học đối tượng nghiên cứu đó.
Văn học Việt Nam ngày nay phong phú với nhiều thể loại đa dạng nếu so với văn chương cổ điển Hán Nôm thời lịch triều xưa: tiểu thuyết, kịch nói, bút ký, hồi ký, báo chí, v.v... Ðây là những hình thức diễn tả văn hóa của Tây phương ta đã du nhập, khởi đầu với các tác giả Thiên Chúa giáo vì họ gần gũi và theo đa số hay vì tiện lợi phổ thông (chẳng hạn vào thế kỷ XVII, giới tu sĩ Công giáo đã viết chữ Nôm nhiều hơn chữ quốc ngữ, như sẽ nói dưới đây): thể nhật ký với Philipphê Bỉnh (Sách Sổ Sang Chép Các Việc, thế kỷ XVIII), thể kịch nói với Tuồng Cha Minh (1881), thể khảo cứu về thể loại văn học với Hồ Ngọc Cẩn tác giả loạt bài Thi Phú Qui Pháp trên Nam Kỳ Ðịa Phận năm 1913 (Việt Hán Văn Khảo của Phan Kế Bính ra đời 17 năm sau), thể ký sự với Trương Vĩnh Ký (Chuyến Ði Bắc Kỳ Năm Ất Hợi, 1876), thể truyện với Nguyễn Trọng Quản (Thầy Lazarô Phiền, 1887), thể hồi ký với Michel Tình (Chơn Cáo Tự Sự, la petite biographie de Michel Tình par lui même, 1910). Ba tác giả sau viết ngoài môi trường giáo hội. Và trái với những gì nhiều người vẫn nghĩ, người Việt đã tham gia tích cực trong việc sáng chế ra chữ quốc ngữ: thầy giảng Bento Thiện đã viết về lịch sử nước ta từ năm 1659 bằng chữ quốc ngữ (11), và cuốn Từ Ðiển Tabert là công trình của các cộng tác viên người Việt như linh mục Philippe Phan Văn Minh, tác giả Phi Năng Thi Tập.
Vì lẽ đó, những gì chúng tôi nêu lên trong bài này, cũng như trong bài Miền Nam Khai Phóng, chỉ nhắm bổ túc những thiếu sót, khiếm khuyết và đưa ra một số đặc thù văn hóa, xã hội chứ không phải để chia rẽ, kỳ thị, vì chúng tôi chủ trương phải thống nhất tiếng Việt. Thống nhất đồng thời phải chấp nhận có những đặc thù địa phương phải tôn trọng. Về tiếng nói cũng như văn học sử. Mặt khác phải có thái độ chấp nhận, sát nhập những tác giả tác phẩm của người Phật giáo, Công giáo, Cao Ðài, Phật giáo Hòa Hảo vào dòng văn hóa chung. Thơ văn đời Trần có nội dung Phật giáo, đời Lê và Nguyễn rất Nho giáo, đã là gia tài văn hóa chung của người Việt, vậy không lý gì thơ văn do người Công giáo viết ra lại bị xếp loại ra ngoài. Nay là thời đa văn hóa, đối thoại, cảm thông, mà ngay từ thời lập quốc, dân tộc ta từng tỏ ra rất bao dung và khai phóng: đã qua rồi cái thời xem cái gì liên hệ đến đạo là không phải dân tộc hay không phải là văn hóa. Vả chăng, Phật, Chúa, Khổng hay Lão, đâu có tín ngưỡng hay tôn giáo nào xuất phát từ Việt Nam; tổ tiên chúng ta đã đón nhận và sống với các văn hóa, tư tưởng, tôn giáo ngoại nhập qua bao thế kỷ, có thời Phật Nho đã là quốc giáo, nhưng khi xong nhiệm vụ vẫn trở về trong tâm linh người Việt, một tâm linh tổng hợp, trong tinh thần khai phóng, bao dung. Ở trong nước, từ sau thời Ðổi mới (1986), những người nghiên cứu của một nền văn học vẫn nỗi tiếng là "một chiều, phải đạo, minh họa" đã có những cố gắng thay đỗi cách nhìn và cách nghiên cứu. Có thể nói nếu không có chính sách Cởi trói văn hóa, đã không có những công trình nghiên cứu mới mẻ về nền văn học Miền Nam trước thế kỷ XX. Hoàn cảnh mới đã cho phép những phát hiện mới, mà sau nhiều thập niên mù quáng vì chiến tranh, có những cái đã bị biến hủy nhưng cũng có những nhận diện, cảm thông về những cái tưởng đã chết hoặc yếu đi như tôn giáo. Vả lại, tôn giáo đã trở nên nguồn sống của nhiều người, kể cả cán bộ. Cuộc chiến chính thức tàn năm 1975, những thất bại của chuyên chính từ 1975 đến 1986 đưa đến Cởi Trói như một lối thoát dọ dẫm có cái hay là đã tạo môi trường những cố gắng mới với quan điểm mới hơn, dân tộc hơn, tổng hợp hơn. Trong hoàn cảnh đó càng ngày càng có những nghiên cứu trở về với truyền thống dân tộc thật sự, đó là điều nên mừng. Bước đầu khó khăn đã có người đi, dĩ nhiên còn cần nhiều nghiên cứu sâu xa và khách quan hơn nữa!
Nguyễn Vy Khanh
THAM-KHẢO:
- Ðỗ Quang Chính. Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659. Sài Gòn: Ra Khơi, 1972. 171 tr.
- Nguyễn Khắc Xuyên. "Chữ quốc ngữ vào năm 1838" Văn Lang số 4, 12-1992, tr. 117-124.
- Thanh Lãng. 13 Năm Tranh Luận Văn Học (1932-1945). 3 tập. Tp HCM: NXB Văn Học, 1995. Nhờ bộ sưu tập này mà người đọc có thể tham khảo những bài báo đã đăng trên Hà Nội Báo, Ích Hữu, Phụ Nữ Diễn Ðàn, Ngày Nay, Tiễu Thuyết Thứ Bảy liên hệ đến những cuộc tranh luận thời đó về văn học, ngữ học và cả chính trị, thời sự.
- Về Sách Báo Của Tác Giả Công Giáo (Thế Kỷ XVÌÌ-XIX). Tài liệu tham khảo. Tp HCM: Trường Ðại học tổng hợp tp HCM. Khoa Ngữ Văn, 1993, 184 tr. Các tác giả: Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Ðỉnh, Thanh Lãng, Võ Long Tê, Nguyễn Nhã, Trần Thanh Ðạm, Phạm Ðình Khiêm, Ðỗ Như Thắng, Cao Xuân Hạo, Hoàng Châu Kỳ.
Chú thích:
(1) Tuyển tập Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, số 1 (9-1996), tr. 13-32. Tạp chí Ði Tới số 30 (1-11-1996), tr. 46-53. Ðặc San Trung Học Mỹ Tho, số 1 (1997).
(2) Quách Thanh Tâm. "Suy nghĩ về các truyện Nôm khuyết danh thế kỷ 18" Tr. 152-161 IN 90 Năm Nghiên Cứu Về Văn Hóa Và Lịch Sử Việt Nam / 90 ans de recherches sur la culture et l'histoire du Việt Nam. Hà Nội: NXB Xã Hội; École FranE7aise d'Extrêmè-Orient, 1995.
(3) Phan Khôi. "Chữ quốc ngữ ở Nam kỳ với thế lực của phụ nữ" Phụ Nữ Tân Văn số 28 (7-11-1929). Trích từ 13NTLVH. Sđd, t. 2, tr. 470.
(4) Nam Phong, số 16, Octobre 1918, tr. 199. Trích lại từ Thanh Lãng "Thử thiết lập hồ sơ về hai người con gái: một con của Phật, một con của Chúa" IN VSBCTGCG Sđd, tr.13.
(5) VSBCTGCG. Sđd, tr 132.
(6) Trích từ 13NTLVH Sđd, t 2, tr 473.
(7) Ngoài ra trong di chúc viết ngày 28-11-1988, linh mục Thanh Lãng đã xin lỗi các Giám mục và linh mục: "Tôi công khai sám hối tất cả với tình anh em linh mục mà tôi vô tình hay cố ý làm mất lòng..." (VSBCTGCG, tr. 182). Hy vọng vào dịp giỗ 10 năm (1998) các công trình hãy còn di cảo của ông sẽ được xuất bản.
(8) VSBCTGCG, Sđd, tr. 6
(9) Xem thêm Vũ Văn Kính. "Vài nét sơ lược về chữ Nôm miền Nam", tr. 328-331 IN 5 Năm Hán Nôm 1991-1995. TpHCM: Trung Tâm Nghiên Cứu Hán Nôm, 1995.
(10) Trích từ 13NTLVH Sđd, t. 2, tr. 100-118.
(11) Tài liệu viết tay, 12 trang chữ nhỏ, khổ 20X29 cm. Phát hiện cũa linh mục Ðỗ Quang Chính. Sđd.
Sợ
Cho người tôi yêu suốt đời...
Anh lại viết cho em một bài thơ. Vẫn chưa là bài thơ hay đẹp nhất, nhưng mỗi vần thơ chứa một điều rất thật, của hai mươi năm dài thương nhớ, mộng mơ. Anh sẽ không dùng những danh từ triết lý, để nói lên một cuộc tình thi vị, để mang tình anh qua nữa vòng trái đất...
Nhớ ngày gặp nhau chưa nói hết chuyện tương lai; Nửa nụ hôn đầu đã vội thay bằng nước mắt; Rồi anh bỏ lại em nhỏ nhoi qua cái nhìn yên lặng, với yêu thương dâng đầy trong ánh mắt chia taỵ
Một lần đến... một lần đi... bao giờ trở lại?
Anh sợ cho ngày mai cách xa. Anh sẽ mất ánh thu buồn trong mắt em sâu, mất nụ hôn nồng trong những đêm thao thức, và mất tiếng nói hiền lành trên đôi môi mọng ướt.
Anh sợ cho ngày mai xa cách. Ai sẽ cầm tay em đếm từng ngón xuân hồng? Ai sẽ vuốt ve bờ vai mềm nhỏ, giãi gió sương? Và ai sẽ đan tay trong vùng tóc rối?
Anh sợ cho ngày mai xa cách. Anh sẽ nhớ nhiều lòng chung thủy từ tuổi mười ba; Nhớ chuyện thu phong trong những chiều đông phủ tuyết pha; Nhớ hơi thở dài, quyến rũ, mong manh của một đời con gái.
Anh sợ cho ngày mai xa cách. Anh sẽ mất những bài thơ tình đầy chữ "chỉ anh thôi", để mỗi đêm dài anh lại thổn thức cùng nỗi nhớ chơi vơi; và mỗi bình minh chỉ thấy quanh mình đơn chiếc...
Anh sợ cho ngày mai xa cách. Sợ mùa hoa phượng đỏ sẽ lại đến mau, nhắc lại anh ngày ướp hoa cho kỷ niệm nơi nào? Lá thư ngày Chúa Nhật chắc sẽ tan vào vọng xác.
Anh sợ quá những ngày tháng xa em. Anh sẽ mất đi màu áo tím mình thường mơ ước, và chiếc áo lụa Hà Ðông mà anh chưa hề mua được, để cùng em một lần dạo phố thủ đô. Anh sẽ lỗi hẹn cùng em về thăm Huế, để em nép vai anh nghe bà con tắm tắc: "... dễ thương thế!". Anh sẽ mất những hẹn hò về quê ngoại ngắm trăng, để cùng dựa vai nghe tiếng hò trên sông vắng trong đêm...
Anh sợ nếu ngày mai ta mất nhaụ Khi anh lầm lỗi, biết cùng ai thú tội; khi anh chết, ai sẽ tiễn anh về miền sám hối, và ai sẽ vuốt mắt cho anh vào cõi hư vô?
Em ơi! anh nhớ em như ngàn mây ấp núi, như thuyền lạc hướng trên biển cả mênh mông. Em ơi! dẫu cho núi lỡ biển bồi hết, tình anh còn mãi mãi, em biết không?
T V Nguyễn
Sydney, Tháng Năm, 97.
Hoàn cảnh một bài thơ
Những dòng chữ sau được trích đoạn từ nhật ký, từmột mảnh deposit slip, hay những trang giấy có vạch kẻ xé ra từ một notebook nào đó, và hình như là truyện không có thật... Khởi đầu là tâm sự của nàng, và kết thúc bằng một bài thơ cho nàng... Truyện được hư cấu từ ba nhân vật, nàng, chàng và Th.
Từ nhật ký nàng (đã xé), tháng 9 chín tư... "Lạy Trời cho cơn điên mê của Em trôi qua... Nếu không qua được, anh tha lỗi cho em...
Thiếp trả nợ chàng
cái chết này dâng..."
Anh yêu dấu, em lại vừa đứng nhìn em trong gương với những giọt nước mắt lăn xuống không che dấu. Ðã bao nhiêu lần rồi em nhìn em khóc như thế, như thể em nhìn vào sự thật. Một sự thật rất thật về sự hiện hữu không thật của mình. Anh vẫn thường hỏi em, cái tình yêu bất chính đó có gì đâu để cho em không quên được? Tại sao em không nhìn thấy anh, thấy tình yêu của anh và quay lại với anh? Chính em cũng không thể nào ngờ được ở vào một lúc cuối đời, em lại gục ngã bởi điều hết sức vô lý tên là tình yêu đó... Có phải vì em đã chỉ nhìn thấy tình-yêu-anh quá trễ, khi mà, vào lúc mệt mỏi nhất của đời sống vợ chồng, và em đã trút hết cái lãng mạn của em vào một vẽ vời mới. Em nâng niu, em tô mầu cho tác phẩm của em với tất cả tấm lòng em, em dựa vào nó như một lẽ sống để em thăng hoa thêm cho đời sống riêng em, để em làm tròn mọi nhiệm vụ em với cuộc sống thường ngày. Con người em ích kỷ quá, phải không anh? Em nghĩ hoài đến một chân lý mà trong những ngày này em đã tìm thấy: "Khi một người con gái lấy chồng, điều đó có nghĩa là tất cả mọi cánh cửa của trái tim phải được đóng lại. Khi cánh cửa còn được mở ra, thảm kịch sẽ bắt đầu...". Vâng, thảm kịch quả đã bắt đầu. Thảm kịch bùng ra không còn che đậy được từ một ngày cuối tháng y... thần thánh của em và anh xưa kia... Nó tiếp nối, lúc âm ỉ, khi điên cuồng... Nó giết anh lần mòn và nó gieo vào em cái mầm mống của chết chóc. Trong em cứ luôn luôn có lời kêu gọi của sự tự huỷ. "K., mày không xứng đáng là một người VỢ". Mày không xứng đáng là một người MỄ Mày sống để làm gì???" - Ba trên trời cao đã nhìn thấy em, nghiêm khắc, và có lẽ, nếu có gặp lại, chắc Ba cũng không nhận em làm CON của Ba nữa. Em lại nhớ những ngày cuối của Ba, với Mẹ thủy chung một lòng, bên Ba chăm sóc... Anh, anh đã sống với em bằng một trái tim trước sau như nhất. Anh đã lo cho em một cuộc đời yên bình hơn những người đàn bà khác có được sau khi lập gia đình, và có phải đó là những gì em đã hằng ao ước? Cái ao ước giản dị, có một người thương yêu, chăm sóc suốt đời bên mình, điều mà người con gái nào cũng đã mơ ước khi nghĩ về đời sống lứa đôi... Với anh, em có, em đã có, tại sao em không nhìn thấy? Tại sao em chỉ nhận ra hạnh-phúc-bình-dị ấy quá trễ, khi mà thương yêu em đã trao cho người khác để em không còn trở về cùng anh được nữa? Trong tình yêu vừa tìm được muộn màng, em đã tin tưởng hết mức vào sự rung động của lòng mình. Em đã lý tưởng hóa cuộc tình như một lẽ sống, để rồi sau cùng, khi em biết, một lần nữa, cái bong bóng xà phòng nhiều mầu đã lại bể tan nát... Em thấy, em cũng đang rơi xuống một vực sâu chẳng ai cứu nổi, kể cả anh. Em thấy, em cứ dật dờ từ ngày nọ sang ngày kia. Và em chỉ còn có một cái XÁC cùng anh và con cái, và chẳng có tình yêu nào kéo em dậy nổi nữa, anh ơi. Tại sao, tại sao???
14h -
Hôm nay, anh lại vào sở trễ sau buổi trở về ăn trưa. Những sự trễ nải đã xẩy ra thường xuyên từ khi em kéo anh vào con-đường-đau-khổ-của-riêng-em. Ðau khổ vì một tình-yêu-bất-chính... Như ngày xưa, em đã là người đàn bà để cho voi dầy ngựa xé, phải không anh? Trưa nay, khi nhìn thấy em, có lẽ anh cũng đã lại đoán thấy tất cả những gì bất thường em đang cố kìm gi Câu nói của anh về giấc mơ đêm qua: "Anh mơ thấy Th. ở nhà mình, Th. xin phép anh cho em đi theo Th. vì em đã thuận như vậỵ. Anh nhìn em, em không trả lời. Và anh đã giận dữ nói với cả hai, "hãy đưa nhau đi xa, thật xa...". Giấc mơ anh kể lại là vết dao đâm sâu vào nhức nhối em cố quên. Em khóc, chẳng bao giờ có chuyện đó đâu anh. Ðúng! Khi mà Th. nói yêu em, em đã biết không có chuyện đó, huống chi lúc này, Th. cũng đã ngoài tầm tay với của em. Sự ra đi, nếu có ở em, chỉ là một ra đi vĩnh viễn vào cõi vô cùng. Sự ra đi ấy, thực sự chỉ là một trốn chạy cuối cùng để tìm lấy sự an thân vĩnh viễn cho chính em, mặc những người còn lại. Sáng nay, khi em nhìn em trong gương, tưởng tượng đến cái ngày ấy, tưởng tượng đến những đứa con ngơ ngác bên quan tài của mẹ, một người mẹ chẳng ra gì nhưng vẫn là một người mẹ tuyệt vời trong trí tưởng chúng, tưởng tượng đến anh bên quan tài của người vợ, một người vợ tội lỗi nhưng vẫn không huỷ diệt được TÌNH YÊU cao cả trong anh, em chẳng còn biết mình phải làm gì... "Thiếp trả nợ chàng cái chết này dâng...". Em mượn câu hát trong bài Trương Chi của Phạm Duy - Thiếp trả nợ chàng nước mắt này dâng - đổi lại mấy chữ, để cho anh hiểu hết nỗi ân hận dầy vò em từng ngày... Cái CHẾT của em có trả được hết nợ không? Hay anh sẽ phải một mình trả nốt nợ cho con cái? Em hèn mọn, em ích kỷ quá, phải không anh? Em không xứng đáng một phần với tình yêu anh, với những hy sinh của anh đã cho em. Em nhìn thấy anh, em nhìn thấy tình yêu anh mà em vẫn thấy em xa anh lăng lắc. Em vẫn thấy em quẩn quanh trong một bãi sương mù, không sao bước ra khỏi. Em thấy em - như anh nói - tự huỷ diệt sự -SỐNG-em hàng ngày... Anh mắc nợ gì em kiếp trước? Em mắc nợ gì Th. kiếp trước? Có những lúc em đã ngã vào anh như một cái phao thật chắc, nhưng khi buông anh ra, em lại thấy em rơi vào những cơn khủng hoảng cũ. Tại sao? Tại sao? Cơn khủng hoảng của em đang lên dần theo từng ngày, và dường như nó đang ở mức cao nhất. Ngày xưa, thời gian đầu khi Ba mới mất, em nhìn cuộc đời bằng một con mắt thật lạ lùng. Vẫn cây xanh, vẫn nắng vàng, vẫn hoa đủ mầu sắc, mà mỗi trưa thả bộ đến trường đón con tan học, thế giới chợt xa lạ với em khủng khiếp. Em lại trở lại cái tâm trạng những ngày ấy, ngày em biết em thực sự mất Ba đó anh. Cả những gì của đời sống dường như không thật, và không cả sự vui sống. Nhiều lúc em ao ước có một người phụ nữ nào đó đọc được trái tim anh, cõi lòng anh, yêu anh, và đem lại hạnh phúc cho anh, thay em trông lo được các con để em có thể ra đi, chẳng khổ anh, chẳng khổ con. Anh có đang tìm không anh? Anh có đợi người đó đến với anh không? Em chẳng ra gì cả, anh ơi.
Khi tờ deposit slip không dùng cho banking... tháng 05 chín lăm,
"Tất cả chỉ là hoang tưởng, kể cả cái-gọi-là-tình-yêu trong những dòng chữ... " - Lời của K. khi chàng tình cờ đọc được tờ giấy nguệch ngoạc trong cơn đau, của cả hai...
"Buổi trưa ngôi trường, ngọn đồi. Tôi nơi một chốn cũ. Tìm gì ở ngày tháng xưa, kỷ niệm cũ. Chỉ biết quay quắt một mong đợi không bao giờ đến. Những dòng xe dưới kia lao đi vun vút. Cứ mong đợi một chiếc xe, có một người quay nhìn ngôi trường. Không, không có gì hết. Chỉ một tôi, một tôi điên cuồng, chung tình cùng kỷ niệm. Tôi ơi. Th. ơi. Kỷ niệm tôi đâu rồi? Thời gian đã đi qua... Không ai lôi lại được, sống lại được một tháng ngày cũ. Cái gì đã trôi qua là đã mất. Vĩnh viễn. Vĩnh viễn một ánh mắt xưa. Vĩnh viễn một trái tim xưa. Ðã đi qua. Một thời. Một đời. Chỉ có tôi. Tôi dại khờ trong đời sống. Tôi chết dần theo ngày tháng. Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ở lại. Cuộc tình nào đã xa khơi ta còn mãi nơi đây... Dòng sông nhỏ của tôi. Nước êm đềm. Nước tàn khốc. Nước bào mòn. Nước cuốn lốc tôi đi. Còn gì đâu mà tôi mãi đợi? Còn gì mà trái tim cứ mãi cay đắng. Tôi ơi. Tôi ơi... Th. ơi..."
một trang vở nàng, vò vụn tình cờ.... tháng 02 chín sáu, "Em chỉ viết trong một cơn điên, và không hề đọc lại, không hề nhớ mình đã viết gì... Em đã xé bỏ..." - cũng lời của K.
" Em hãy nói cho tôi biết tình yêu là gì, là hạnh phúc tộtđỉnh hay đắng cay tận cùng?. Tôi đã có được tất cả,hạnh phúc cùng cay đắng...".Bây giờ đang là 3h. sáng của ngày 1 Tết. Lại một lầnnữa cánh cửa dầy nặng của một năm khép lại buồn bã. Ðêm 30, đưa H. trở lại trường Ðại học, tôi lái xe trong đêm với trái tim quặn thắt đau đớn cùng những giọt lệ lại tầm tẩ Làm sao để quên?. Một cái Tết, hai cái Tết... Nỗi đau vẫn cứ như ngày nào... Trái tim tôi vẫn cứ như thuở nào đam mê, ngu ngốc..."
"Làm sao ru được tình tôi... À ơi, nỗi đau này người..."
Th. yêu dấu, ngày đầu của năm mới đang bắt đầu. Em cứ nằm yên đó, nhìn trời xuân (?) nặng chĩu mây xám... Mùa xuân nào đâu? Trong trí em vẫn lơ mơ giấc mơ của lúc gần sáng, có Th.. Có Th. như thuở nào nồng-nàn-yêu-nhau... Nước mắt em lại chẩy xuống... Có ai không hả Th. khóc ròng rã 505 ngày không ngưng nghỉ. Th. có tin được điều đó không? Trong tiền kiếp, em đã là gì của Th.? Tại sao nghiệp em cứ mang hoài chẳng dứt?
và bài thơ của chàng, tháng x chín bẩy...
chàng đã viết bài thơ cho nàng, cho tình yêu của chàng sau ba năm chờ đợi vô vọng một sự hồi sinh... " Tình yêu như một loài chim quí để nâng niu, một khi đã chết sẽ không bao giờ hồi sinh lại được... " - Chàng nhớ lại câu nàng đã trả lời khi chàng hỏi về cái tình yêu xa xưa nàng đã có với chàng. Hôm đó, Th., gã con trai bạc hãnh đang ngồi bên cạnh nàng...
Hai mươi năm sau...
Hai mươi năm nhìn lại cuộc tình,
hai mươi năm ấy thấy mình tay không...
Ngày tháng mùa đông,
xuống phố
mua đoá sương hồng
cắm bình hoa cũ
ngậm ngùi
cho tình đã hai mươi...
Ðã hai mươi năm,
anh giam đời em
không xót thương tiếc nuối
như hai mươi năm
em vẫn soi gương
cúi mặt
soi cuộc tình xa đã khuất
và cuộc tình sau
lỡ hẹn bùi ngùi...
Ðã hai mươi năm
anh cột chặt đời em
lửa nào của thương yêu, lửa nào cho tù ngục?
nên em giờ như
chim nhốt trong lồng,
ngứa cổ hót chơi
tiếng hát rời rụng!
Em yêu dấu,anh còn lại gì
ngoài cuộc tình không có hậu,
anh còn lại gì
ngoài những nỗi đau lâu?
Em ơi,
có khi nào em ngoảnh lại,
gót chân chai dấu đời
thả bước quay lui
tìm về nẻo cũ
đường mơ xa xưa,
giờ chắc đã nhạt nhoà theo cát bụi...
Em ơi,
có bao giờ em đi lại
tuổi học trò,
tuổi đã thương yêu,
đã chờ đã đợi
cho lược gương xưa
có lúc cũng buồn tênh nỗi hững hờ
Em ơi
có bao giờ em nhớ lại
mảnh đời nào
dang dở thương đau,
mảnh đời nào ta chửa có nhau
theo sóng nước
cũng nổi trôi thân bèo bọt
Em còn nhớ
thuở đã nguyện cầu tha thiết
thuở tin yêu
còn khan hiếm cõi trần gian
nên một thời sỏi đá cũng hoang mang
đã đánh dấu,
hạnh phúc
đếm từng giây từng phút
trong những ngày quỷ sứ cướp ngai vàng
Em yêu dấu
lối mòn xưa em có đến,
thuở rất xa
và một thuở rất ngu ngơ...
ta tìm nhau,
từng chuyến đò đưa vội,
như chuyến đời chở khách qua sông
suốt dọc đường mặc gió bụi mênh mông
đêm quấn quít,
sáng còn thương tóc rối
sợ vướng chân nhau
lúc bịn rịn vẫy tay chào...
Em yêu dấu,
còn bao lần vội vã,
chia tay nhau kẻ ở,
người đi
Chuyến xe đò khắc khoải suốt chân mây
lời hò hẹn
sợ không vuông tròn theo đời bão nổi...
Và những chuyến trở về từ miền gió bụi,
cả một trời thương nhớ ngập chìm sâu
tình dậy tình cho bão lại lên mau,
cơn bão tố
dấu phong lưu
thiên thu còn nhớ...
Hai mươi năm,
anh chẳng còn nhìn lại
đời mệt mỏi rồi nghĩa lý gì đâu
khi cửa tin yêu đã khép thuở ban đầu
thì xá gì những cỏn con trần thế
Hai mươi năm
ta cùng con xuống phố,
mua đóa hồng tưởng nhớ đến người xưa
Cắm cành hồng sương
thương tình cũ dịu dàng,
chợt gai nhọn bỗng đâm sâu
trái tim buốt đau nỗi nhớ
Lòng tự hỏi
ngàn vàng có đổi
cho ngàn sau đi lại thuở ngàn xưa?
Những hạnh phúc xa xưa nếu có
đã đủ cho đời
cười lớn một trận cười
Những giây phút lỡ cùng em hò hẹn
cũng đủ cho người
ôm tình nhớ khôn nguôi...
Cám ơn em
đã nhiều năm chịu đựng,
cám ơn em
đã giúp dựng thiên đường
(cõi thiên đường trong trí nhớ mông lung
đã xụp đổ
khi ta bỗng hai người xa lạ...)
Ðường còn lại...
xin chào giã biệt
giã biệt tình và giã biệt người
Hai mươi năm sau ta đành làm người lỗi hẹn
hai mươi năm sau ta đã hết một đời...
Ðoạn cuối năm hai ngàn lẻ chục...
Hình như, chàng và nàng, hai người vẫn chưa chia tay nhau, hay đã chia tay rồi lại trở về bên nhau, không ai rõ. Bây giờ, người ta gọi chàng là Cụ, và người ta gọi nàng là Bà, có lẽ vì con người thời nào cũng có chút nịnh đầm, dù là đã bước sang thế kỷ thứ hăm mốt từ lâu...
Một tình cờ nọ, cơn mưa đột nhiên lớn bất ngờ, đứng trú mưa trước cổng và được mời vào (tôi vẫn có thói quen đi bộ khi trời mưa nhỏ, dù bây giờ phương tiện không trung không thiếu, và chỉ những người nghèo khó mới phải cực khổ lái xe hơi để di chuyển), tôi đã được chàng, phải gọi là cụ ông mới đúng, ngâm nga cho nghe bài thơ đã làm cho tình yêu hơn chục năm về trước. Tiếng đọc thơ của cụ còn khoẻ, nhưng nghe rất chán, vì hình như ông cụ không có cả hơi lẫn giọng (tôi nghĩ thế thôi chứ đâu dám nói ra e thất kính). Trong lúc chưa biết trả lời sao để khỏi mất lòng ông cụ tốt bụng khi ông cứ gặng hỏi cảm nghĩ của tôi về bài thơ, cái bài thơ cổ lỗ cả về ý tưởng lẫn cách trình bầy (bây giờ, người ta làm thơ mỗi câu chỉ chữ một, hoặc thiên một - từ vài trăm đến khoảng ngàn chữ gọi là một thiên, và tất cả các dấu chấm, phẩy, kể cả những vạch xéo trước, xéo sau... một thời khá thịnh hành ở cuối thế kỷ trước đều đã bị dẹp bồ Người ta cũng cũng không còn viết về Tình yêu nữa, từ khi máy Ðiện-toán-thông-minh đã thay ông Tơ bà Nguyệt, dựa trên những phân tích gene di truyền cũng như phả hệ, bảo đảm tìm ra ít nhất mười đối tượng perfectly matched cho mỗi người tới tuổi lập gia đình để chọn lựa không sai lầm - dĩ nhiên là phải 5 nam, 5 nữ. Những từ gay, lesbian, của thời kỳ homo đã bị xoá bỏ khỏi ngôn ngữ nói và viết cũng như khỏi máy tự điển (máy này thay thế những bộ đại bách khoa tự điển lúc xưa) khi cách đây chừng mười năm, LHQ đã long trọng cử hành lễ Tuyên Ngôn Quốc Tế Giải Phóng thực sự và hoàn toàn CON NGƯỜI )... Giữa lúc ấy thì nàng, bây giờ đã là một bà cụ, từ trong nhà bưng nước ra mời khách, chợt nghe thấy. Bà nhìn ông cười khúc khích, "gớm cái ông này, già rồi mà còn... ", bà ngập ngừng một chút rồi tiếp, " già rồi mà còn... thơ với phú...". Hình như bà không định nói về thơ và phú. Ông cụ cười lên ha hả, quên ngay mình đang đợi câu trả lời của khách. Dù thời gian đã để lại nhiều dấu ấn, trên cả hai người, tôi vẫn cảm nhận được sự vui tươi thoải mái và không khí giản dị mà ấm áp toát ra từ khi có bà xuất hiện... Tôi uống vội chén trà, rồi đứng lên cám ơn xin phép tiếp tục quãng đường đi bộ của mình. Cả ông và bà đều ân cần tiễn tôi ra cửa. Có tiếng bên tai tôi, của ông hay bà nhỉ, "Về nghe Th.". Tôi quay lại chỉ thấy nụ cười còn đọng lại trên môi cả hai. Tôi lững thững bước đi, ngoài trời hình như vẫn còn mưa...
Nguyễn Nguyễn