vhnt, số 313
17 July 1997
Trong số này:
thư vhnt................................................................ BBT
T h ơ:
1 - Ta - em, cuộc đời.......................................... Cỏ Dại
2 - Tình buồn.................................................. Thùy Trang
3 - Em........................................................ ...Ðinh Thăng
4 - Xa vời........................................................ Tim Tím
5 - Thiền tụ.............................................. Phạm văn Tiên
6 - Thức dậy............................................ Ngô Minh Hằng
7 - Lãng đãng & Người-đời.................... Trương Trọng Hoàng
8 - Hành trình vào hôn nhân..............................Từ Ðông Nghị
9 - Trăng Mười lăm, Trăng Mười sáu...................... Hàn Trân
10- Lặng ngắm..................................................... Ý Nhi
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
11 - Tiếng Việt & một số tác phẩm mới phát hiện (p 1/2).................. Nguyễn Vy Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
12 - Cũng cần cho hạnh phúc.................................Thạc Nhiên
Năm 1930 nữ văn sĩ người Mỹ Pearl Buck (Nobel 1938) viết tác phẩm đầu tay Gió Ðông, Gió Tây (East Wind, West Wind) như là một nhìn nhận về những cách biệt đầy tính xung khắc giữa hai nền văn hóa Ðông - Tây. Hai phần ba thế kỷ đã trôi qua, những ngọn gío Ðông - Tây ấy dường như không ngơi nghỉ trong việc cuốn phăng đi những cây non còn mong manh cội rễ.
Bạn thân mến! Chúng ta là những cây xanh đứng giữa những ngọn gió Tây đầy hấp lực. Cái cơ may là chúng ta được thừa hưởng khá nhiều những ưu đãi về dân sinh, nhân quyền và thành tựu kỹ thuật. Và sự thử thách là làm sao chúng ta giữ vững và bồi đắp giá trị vào nền văn hóa sẵn có của chúng ta giữa trời Tây.
Bạn thân mến! Những sinh hoạt thi ca mà chúng ta đang dự phần là một trợ cụ đắc lực trong sự tiếp nhận luồng gió Tây trên nền tảng văn hóa của chúng ta. Thi ca là sự thể hiện cao của văn hóa, mang đầy tính triết lý, nhân sinh. Một cách vô thức hay ý thức, chúng đem lại cho ta sự suy vấn về con người, về nguồn cội qua những dòng chữ, những chất chứa. Chính điều này sẽ đưa ta về gần gũi với bản sắc dân tộc. Và truyền đạt lại cho những thế hệ nối tiếp. Mong các bạn, chúng ta cùng tiếp sức nhau trên những chặng đường.
Chúc các bạn một ngày hè nhạt nắng và đầy gió.
thân ái,
ĐYT/vhnt
Ta - em, cuộc đời
Ta
Mù lòa và câm điếc
Bởi thấy những điều không nên thấy
Phải lặng câm trước sự thật đau buồn
Và giả điếc như kẻ khờ mất trí.
Nhưng sự thật cứ phơi bày
Em bảo ta làm sao?
Vẫn tiếp tục làm trò hề, con rối?
Ðể đổi lấy bình yên
Dù bình yên giả tạo.
Em
Em khao khát tự do
Ðể vô tình rơi vào vấp ngã
Cạm bẩy nào cũng đẹp
Lấp lánh những hào quang
Mời em từng bước một.
Rồi một ngày cảm nhận
Mọi việc đã lở làng
Em đau bên vũng tối
Tôi đau cả một đời.
Cuộc đời
Sao không cho ta điên
Ðể ta không còn nghĩ
Sao không cho ta thoát
Ðể ta không còn đau
Mỗi ngày một lo âu
Lo gì ta không biết?
Nếu vì ta thắm thiết
Rắc rối cuộc đời em
Từ nay ta xin mất
Khuất xa những muộn phiền.
Ta đi tìm thánh thiện
Nhưng chẳng gặp bao giờ
Nên không tin thánh thiện
Hiện hữu ở cõi đời.
Cỏ Dại
Tình Buồn
chữ tình
phiền muộn đắng cay
quen nhau, vương vấn
đắm say rồi buồn
mưa hạ
từng giọt giọt tuôn
tơ lòng trống vắng
tình hồng cuồng si
sầu ơi
héo hắt xuân thì
tuổi thơ lắm mộng
cớ chi âu sầu?
đêm nay
người ở nơi đâu?
riêng em thương nhớ
tình đầu trái ngang
mưa rơi
từng giọt bẽ bàng
người đi gieo cảnh
hợp tan chi ngườỉ
xa anh
đời có gì vui
hoa buồn chẳng nở
bướm lười chẳng bay
vắng anh
thương nhớ từng ngày
dệt vần thơ nhỏ
cùng say với tình
Thùy Trang
Em
Anh nhốt lang thang trong chiều nắng lửa
Ðóng cửa bằng những trang sách khô khan
Anh thả quay cuồng trên những đường phố chật
Dọc dài những chuyến đi xa
Anh -
Kẻ lang thang như ngọn gió không nhà
Thời gian dìm chết thời gian
Một chiều lòng bỗng nhớ làn tóc mây
Tìm em, anh đến
Giấu một cánh hồng thay câu nói vô duyên
Em - làm mặt giận, quay đầu, khẽ nói
Sao chẳng quên luôn, còn tới làm gì?
Anh chớp tình yêu trong mắt em huyền
Mênh mông như đêm, ào cơn mưa hạ
Anh là đứa trẻ ngày xưa
Ðuổi mưa cầu vồng bảy sắc
Trách anh nữa đi
Nhưng cho anh hôn dòng nước mắt
Ngọt ngào em dành cho anh
Ðể lại phần mình mặn chát
Anh thả lang thang trên dải Ngân hà
Chọn một vì sao làm nhà ta ở
Chấm hết những ngày chờ chiều thứ bảy
Hết ồn ào, chật chội phải không em
Em lắc đầu
Anh ngốc nghếch của em
Em không thích những vì sao lạnh giá
Anh sẽ lại đi nhu nhọn gió không nhà.
Cũng không trách anh, người hay lỗi hẹn
Người suốt đời để em giận, hờn, ghen.
Em chỉ ghét anh, ghét quá lắm mà thôi.
Ðinh Thăng
Xa vời
Con đường ngày xưa cằn cổi
Bánh xe ai chạy ngoằn ngoèo
Ðôi mắt ai bên song cửa
Nhoẻn cười, thơ mộng, hửu tình.
Con đường hôm nay phẳng mượt
Vết bánh xe cũ đâu còn
Ánh mắt xa xưa đâu thấy
Bơ phờ, lạc lỏng, vô tình.
Thời gian kiến tô vực thẳm
Không gian tạo vẽ đôi bờ
Bánh xe kia, đôi mắt ấy
Phôi pha, hoài cảm, xa vời.
Tim Tím
Thiền Tu
Ðêm nghe tiếng mõ
Tụng kinh
Chiêm bao cõi niết bàn
Mình
Phật
Tiên
Ngồi thiền
Tâm trí chẳng yên
Ðời dâu bể
Khổ
Nhân
Duyên
Bẽ bàng
Tay lần chuỗi hạt
Ðứt ngang
Bồ đề
Rơi
Rụng
Xuống sàn nhà
Lăn
Phạm Văn Tiên
Thức Dậy
Lạ quá, hôm nay gặp một người
Mà về xao xuyến mãi không thôi!
Chia tay từ đấy sao mà nhớ
Phảng phất đâu đây bóng dáng người
Sau phút mà tôi đối diện người
Vấn vương rộn rã cả lòng tôi
Chín năm tôi ngủ yên là thế
Mà bỗng hôm nay thức dậy rồi!!!
Thức dậy làm tôi biết nhớ nhung
Và tôi ái ngại nhắn nhe lòng:
"Người dù gặp gỡ như dòng nước
"Như áng mây trôi, chớ bận lòng!"
Nhưng có quên đâu được dễ dàng
Tâm hồn từ đó cứ thênh thang
Người ơi, gặp gỡ làm chi để
Nhung nhớ riêng ta những võ vàng!
Ngô Minh Hằng
LÃNG ÐÃNG
Buổi tối yên tĩnh
Lắng nghe tiếng nhạc êm đềm
Lòng nhẹ nâng hồn bay
Quên đi những buồn, lo, phiền muộn hàng ngày...
Nào nhớ những gì
Nào trông những gì
Nào đợi những gì
Trong một giây
Tất cả tan thành một làn sương
Mỏng
Êm êm.
Tim hòa với hồn nhạc
Ðôi bạn tâm tình với nhau
Thân thương
Quyến luyến
Không muốn xa.
Thiên đàng có lẻ
Ðịa ngục có lẻ
Cũng có phút lảng đảng
Như ta
Ðang đắm chìm trong đây...
NGƯỜI - ÐỜI
Ánh sáng vàng vọt
Soi mặt đường
Loang loáng nước
Sau cơn mưa
Có vẻ bôi bác
Có vẻ cẩu thả.
Ta chợt trông thấy ta
Rồi lại không thấy ta
Ẩn
Hiện
Một con người
Một cuộc đời.
Mưa rồi lại nắng
Ướt rồi lại khô
Nay thấy đây
Mai mất đó
Hư vô...
Trương Trọng Hoàng
10/06/97
hành trình vào hôn nhân
tim ủ lòng sa mạc
ru hồn cát thủy tinh
tình yêu chớm bình minh
trên nhánh đời gai nhọn
ta, gã cuồng sinh, chọn
cuộc người nhọn vết đinh
vác thập tự nhục vinh
lên đỉnh trời cô niệm
em diệu kỳ trắc hiểm
môi độc liệm đam mê
ta hôn trọn tái tê
thiên đường, nên địa ngục
nắng reo lời hạnh phúc
đêm tấu khúc tuyệt ân
ta hong cánh thiêu thân
em, lửa bùng cám dỗ
đưa nhau vào diễm lộ
lấp kín mộ-ngàn-sau
trái cấm đắng hương đau
chia nhau cùng nuốt, ngọt
trăm năm, trầm, lối thoát
em, mủ nhọt lên da
em tận tụy giết ta
bằng dịu dàng nỗi chết
một lần cùng thấm mệt
ngã vào, hết đời nhau
từ đông nghị
Trăng Mười Lăm, Trăng Mười Sáu
Trăng tôi nóng giữa Hè, mười lăm đó
Cũng rất tròn như thuở bờ ruộng nương
Sáng trong trong trãi nhẹ xuống nẽo đường
Vài đóm bạc rọi sầu lên đỉnh nhớ
Tôi đứng ngắm mà lòng như ngờ ngợ
Một lần nào xa lắm ở thật xa
Tập làm thơ chập chửng mượn trăng già
Rồi xấu hổ dấu vào trong cặp sách
Tôi cứ ngỡ trong trăm ngàn lau lách
Em nhìn tôi cả nét chữ rung rung
Cả lòng tôi sau bóng cũng ngại ngùng
Nên thơ ấy chỉ tôi là ôm ấp
Trăng ngày đó nhẹ hơn trời hâm hấp
Của bây giờ xứ lạ nóng Hè qua
Của gió xưa chỉ mát nỗi nhớ nhà
Của lòng tôi về xưa bằng trăng sáng
Trăng tròn lắm vỏ vàng như thiếu bạn
Ðứng giữa trời cô độc hay mồ côi
Mấy người thân đã lạc lối đâu rồi
Em đâu đó gió còn mang hương cũ?
Sợi tóc trắng xõa bên màn liễu rũ
Bài thơ nào cố nhớ chẳng thành thơ
Cọng ước mơ cũng rụng xuống hững hờ
Ánh trăng sáng chắc mờ rồi đi cũng
Ai người quen lạnh lùng trăng vẫn đứng
Chỉ một mình mây khói một mình thôi
Có yêu ai đời cũng cũ xưa rồi
Nên ai hỏi, đã quên rồi cả tuổi
Trăng mười lăm về em già một tuổi
Ðây ngậm ngùi, trăng mười sáu có vui?
Ðời già mau hay cát bụi dập vùi
Treo lơ lững rồi ngày tàn cũng hết
Ai còn ai? tri kỷ tình đã mệt
Trăng mười sáu còn đủ sáng nơi em?
Thà hai nơi chắc gợi chút êm đềm
Ðể u tối tưởng mình còn có bạn
Hàn Trân
Lặng Ngắm
Lặng ngắm mưa rơi, lặng ngắm chiều
Mưa về mang cả những đăm chiêu
Quê xa phượng nở đà tươi thắm
Nhưng vẫn nào qua khỏi kiếp nghèo
Lặng ngắm mưa rơi, lặng ngắm mơ
Nhớ về quê cũ bỗng thẫn thờ
Em nhỏ giờ này lo cơm áo
Cụ già đơn bóng có ai nhờ?
Lặng ngắm mưa rơi, lặng ngắm mây
Hỏi rằng người hỡi có ai hay
Quê hương mình đó giờ xa vắng
Ðang ngóng chờ người giúp một tay
July 10th, 97
Ý Nhi ( D.H. )
TIẾNG VIỆT & MỘT SỐ TÁC PHẨM MỚI PHÁT HIỆN
Phần I
Trên các sách báo xuất bản mấy năm gần đây, người đọc đã có dịp biết đến một số những khám phá mới về văn học Việt Nam qua các đóng góp của hai học giả vừa quá cố: Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp. Nhiều học giả khác cũng có những công trình đóng góp đáng kể. Các phát hiện, khám phá về Nguyễn Trãi (thơ Nôm, Gia Huấn Ca), Nguyễn Du, Dương Khuê, Lê Quý Ðôn, Hồ Xuân Hương (thơ chữ Hán Lưu Hướng Ký), vv sẽ buộc người viết văn học sử tu chính lại những gì đã được viết. Theo ý chúng tôi, có những phát hiện khác về văn học miền Nam chưa được phổ biến rộng rãi một cách chính thức sẽ thay đổi hơn nữa nội dung của một bộ văn học sử Việt Nam đúng nghĩa. Trong bài Miền Nam Khai Phóng (1), chúng tôi đã đề cập đến những công bố mới về Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ cũng như một số khai phá tiên phong về văn học báo chí mở đường cho nền văn học bằng chữ quốc ngữ như ngày nay. Sau đó chúng tôi khám phá thêm công trình nghiên cứu Lục Châu Học (dựa vào Văn, Sử bằng chữ quốc ngữ xuất bản ở miền Nam Việt Nam 1860-1930, tìm hiểu con người vùng đất mới) của giáo sư Nguyễn Văn Trung cũng như một số công trình khác của khoa Ngữ văn thuộc đại học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh sau khi có chính sách Ðổi mới ở trong nước, như tập Về Sách Báo Của Tác Giả Công Giáo (Thế kỷ XVÌÌ-XIX). Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cuốn Sấm Truyền Ca, cuốn sử Ðại Nam Việt Quốc Triều Sử Ký và Truyện Ông Gioang Ngô Kim Thạch cũng như một vài khám phá khác về những đóng góp văn học và văn hóa của miền Nam; từ đó chúng tôi sẽ nêu một số ý kiến về sự phát triển của tiếng Việt.
1. Sấm Truyền Ca (1670):
Ðạo Thiên Chúa du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, đến thế kỷ XVÌÌI đã chỉ có một thời được ít nhiều thuận lợi nhất là ở miền Nam, dù liên tục bị các vua chúa cấm, đã "giúp" Nguyễn Ánh thống nhất hai miền Ðàng Trong Ðàng Ngoài, thật sự thống nhất sau cái thống nhất ngắn ngủi của vua Quang Trung. Về văn hóa xã hội, nói chung, đạo Thiên Chúa đã góp phần giải phóng cá nhân. Trong hoàn cảnh tiếp xúc mới xuất hiện những truyện Nôm đáp ứng nhu cầu mới của những tiếp xúc với người Tây phương và của cả chiến tranh. Theo bà Quách Thanh Tâm, hai truyện Phan Trần và Thạch Sanh đã ra đời trong hoàn cảnh đó (2). Bên cạnh những tác phẩm của giới trí thức, có khi khuyết danh cố ý, đã có những tác phẩm tôn giáo có giá trị văn học viết bằng chữ Nôm như Sấm Truyền Ca (1670) của Lữ Y Ðoan, như Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông (cùng thế kỷ XVIII) của Majorica, hoặc viết bằng chữ quốc ngữ như Tuồng Joseph (1888) của Trương Minh Ký, Phi Năng Thi tập của Philippe Phan Văn Minh, linh mục được phong thánh năm 1989 và là tác giả cộng sự viên soạn Tự điển Tabert (1838), khuyết danh có tập Vãn Và Tuồng (1899, in lần 3). Hay như tập Ðại Nam Việt Quấc Triều Sử Ký (1879) có thể nói là bộ sử đầu tiên viết theo lối Tây phương và có đặc điểm viết với quan điểm của người dân thường miền Nam thay vì viết theo chính sử.
Sấm Truyền Ca nguyên tác viết bằng chữ Nôm, tác giả là thầy giảng (linh mục) Lữ Y (Louis) Ðoan, được viết vào năm 1670. Hiện nguyên tác đã thất lạc, chỉ còn bản quốc ngữ. Sấm Truyền Ca là một tác phẩm văn học đặc sắc vì phản ảnh một nỗ lực Việt Nam hóa và bình dân hóa Kinh Thánh bằng cách mượn những yếu tố văn hóa Việt Nam và Ðông phương để diễn dịch Kinh Thánh. Lưu truyền hạn chế trong giới thu hẹp "nhà thờ", tác phẩm chắc đã được sửa đổi nhiều lần vì bản hiện còn dễ khiến người đọc nghĩ đến các truyện Nôm nỗi tiếng của thế kỷ XVIII và XIX. Theo bản chép tay chúng tôi hiện có của Paulus Tạo, người dịch bản Nôm ra quốc ngữ là Simong Phan Văn Cận. Trong lời tựa ghi tại Cái Mơn ngày 8 tháng chạp Tây năm 1820, ông giới thiệu:
Truyền rằng sách STC là của Thầy Cả Lữ Y Ðoan đặt ra năm 1670, viết bằng chữ Nôm. Thầy cả này đã trở lại đạo hồi nhỏ và đã làm thầy giảng giáp địa phận Ðàng Trong, thầy rất tinh thông chữ nho, thuộc Tứ Thư, Ngũ Kinh. Thầy làm sách này cho hạng văn nho đọc để biết rõ đạo Chúa Giề-su. (...) Sách này của thầy bị nhiều thầy cả Tây dang hồi đó không ưng vì nó lai sách đạo Nho và đạo Phật, nhưng bổn đạo rất ưa và chép lại để đọc...
Trần Hớn Xuyên (1854-1940) là người đã sưu tầm tập Sấm Truyền Ca kể lại trường hợp ông khám phá ra bản hiện nay vào năm 1910: "Trải qua cơn bắt đạo dữ dằn đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðừc, việc giữ đạo ở miền Nam phải âm thầm, sách vở ảnh tượng đều được chôn giấu. Ðến năm 1870 có người đào được tại Cái Nhum (Chợ Lách, Vĩnh Long) một hầm vô chủ, có nhiều sách vở về đạo thánh, trong đó có Sấm Truyền Ca, giấy đã mục nhiều (...) Các linh mục Pháp thời đó không nhìn nhận là đúng với Kinh Thánh của bổn đạo, nên cấm bổn đạo vì sách dị đoan. Vì đó Sấm Truyền Ca bị mai một (...) Sấm Truyền Ca là sự dung hòa giữa nền văn hóa Ðông phương và Tây phương. Tôi không nhận xét về mặt hợp hay không hợp Kinh Thánh, tôi mến phục lối thơ lục bát của người xưa và cách dùng chữ An Nam hồi đó, đã lột được ý nghĩa của Kinh Thánh cho người An Nam dùng cách dễ dàng. Vì thế tôi đã xin chép lại để làm tài liệu quý giá, dành cho con cháu ngày sau được biết ông bà xưa cũng đóng góp rất nhiều vào kho tàng quốc văn của dân tộc"
Paulus Tạo của tuần báo Nam Kỳ Ðịa Phận và Nguyễn Văn Nhạn của báo Tông Ðồ là hai người đã phổ biến bản Sấm Truyền Ca vốn gồm 5 quyển của Kinh Thánh Cựu Ước, bản hiện có chỉ còn quyển 1 Genesis và một phần của thiên Exodus.
Trước hết, có thể nói Sấm Truyền Ca là dấu tích văn bản Nôm xưa nhất của Việt Nam (1670) vì các văn bản văn học Nôm khác như Thơ Nôm hay Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi (hay Lý Văn Phức?!), Thơ Văn Quốc Âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồng Ðức Quốc Âm Thi Tập, vv cũng chỉ là những bản chép lại vào thời Tự Ðức với chữ Nôm của thời vua Tự Ðức (1840-1883). Tình trạng văn bản, thư tịch Việt Nam trước thời hiện đại vừa thô sơ vừa phức tạp. Thô sơ về cách in ấn và vì nguồn gốc văn bản thường không được ghi lại; phức tạp vì các văn bản thất tán, sao lục sai lạc bừa bãi, có khi sự nhuận sắc tự đồng hóa với bổ sung, hiệu đính cho hoàn hảo hơn dù chủ quan; tên tác giả không phải lúc nào cũng được tôn trọng, lại có truyền thống ẩn danh đối với một số tác phẩm. Việc kiểm soát thư tịch Việt Nam rất khó đối với các tác phẩm chữ Hán và Nôm. Một lý do văn hóa của vấn đề nằm ở truyền thống kiểm soát của các chế độ lịch triều quân chủ: vấn đề chính thống, dù có thời chỉ là Tống Nho. Truyện Kiều của Nguyễn Du chẳng hạn, nay không còn dấu vết bản Nôm gốc đầu thế kỷ XIX, thơ Nôm của Nguyễn Trãi chỉ được sưu tầm biên soạn 400 năm sau (Ức Trai Di Tập của Dương Bá Cung, 1868 đời Tự Ðức); nói chi đến thơ văn Thiền Tông (chữ Hán) đời Lý Trần thế kỷ X và XI bản in đầu chỉ vào năm 1715 (Thiền Uyển Tập Anh).
Là một trong bốn linh mục Ðàng Trong đầu tiên được thụ phong tại Kẻ Chàm (Quãng Ngãi) năm 1676, Lữ Y Ðoan đã Việt hóa và Ðông phương hóa Kinh Thánh với một tinh thần dân tộc rất cao, việc làm mà chỉ từ công đồng Vatican III (1962) mới được cho phép. Ông đã dùng những quan niệm Tam cương, Ngũ Thường của nền luân lý Á đông cũng như những thực tế và truyền thống văn hóa dân tộc để giải thích giáo lý của Kinh Thánh về vũ trụ vạn vật. Ông đã theo sát Kinh Thánh Cựu Ước nhưng đồng thời chứng tỏ có óc sáng tạo độc đáo và tầm trí tuệ hiểu Thần học cao hơn cả các vị bề trên người Pháp của ông; ngoài việc không hiểu văn hóa Ðông phương, đó có thể là lý do những người này loại Sấm Truyền Ca cho là dị đoan, sái đạo, đi lệch ra ngoài tinh thần cơ bản của Kinh Thánh. Lữ Y Ðoan chứng tỏ giới linh mục, tu sĩ thời đó có tinh thần độc lập, tự chủ, tự hào về văn hóa Việt Nam, bình đẳng với các thừa sai ngoại quốc chứ không mất độc lập và bình đẳng như sau này khi thực dân Pháp đã thôn tính cả nước Việt Nam.
Lữ Y Ðoan đã Việt hóa tên người tên địa dư của nguyên tác cũng như dịch rất văn hóa tựa Kinh Thánh Cựu Ước là Sấm Truyền Ca, Genesia là Tạo Ðoan Kinh, Exodus là Lập Quốc Kinh.
Hãy đọc đoạn thơ "Vào Ðề" quyển I Tạo Ðoan Kinh:
Ngày ngày trước mắt chúng sinh
Chữ đời chữ đạo phân minh đôi đường
Xưa nay trong kiếp vô thường
Thấy điều vân cẩu mà thương nhơn phàm
Loài người từ thuở À-đam
Ðua nhau xây dựng mộng ham làm trời
Một pho Kinh Thánh ra đời
Chứng minh vạn đại những lời do Thiên...
Thiên Lập Quốc Kinh thì được mở đầu như sau:
Xưa nay diễn biến trò đời
Ðồ vương tranh bá bao người máu xương
Một dân dựng nước khác thường
Bàn tay Thượng đế đo lường trước sau
Giếp Tô quyền lực Phan trào
Muôn binh hùng dũng, đất giàu dân đông
Yết Linh đứng dậy tay không
Phá xiềng nô lệ về vùng Trà Nam..."
Trong đoạn trên, Lữ Y Ðoan đã có một cái nhìn sáng tạo độc đáo khi quan niệm chuyện dân tộc Do Thái (Yết Linh) 40 năm thiên cư qua sa mạc để về vùng đất hứa Canaan (Trà Nam) như một sự đứng dậy tay không phá xiềng nô lệ. Sáng tạo và mới cả đối với ngày nay, thì làm sao Sấm Truyền Ca không bị các thừa sai người Tây phương vốn coi thường văn hóa phương Ðông thời đó hiểu được.
Ðoạn diễn ca truyện Tháp Babel kể chuyện con cháu ông Nô Ê (Lữ Y Ðoan dịch là Nhữ Y) sau trận hồng thủy ngạo nghễ rủ nhau xây tháp cao chạm trời. Chúa đã trừng phạt bằng cách làm cho họ ngôn ngữ bất đồng không hiểu được nhau và hết đoàn kết với nhau; cuối cùng họ phải bỏ dở và phân tán đi khắp mặt đất thành nhiều chủng tộc khác nhau:
Vả chăng, ngôn ngữ cổ thời
Những điều cảm nghĩ, nói lời như nhau
Phía Ðông nhiều tộc vùng cao
Dân đông, đất chật, hoa màu cũng vơi
Ðịnh cư đất mới kịp thời
Bàn nhau xây tháp để đời hậu lai
Góp nhau vật liệu đủ đầy
Công trình kiến tạo mỗi ngày rộng cao
Vươn lên tháp đụng Thiên Tào,
Muôn đời danh tiếng, trăng sao phải nhường
Nhân gian ngạo nghễ thiên đường
Trời rằng: "Hiệp nhất vi cường, đại công...
Phải cho ngôn ngữ bất đồng
Mỗi chi một ngả là xong ý đồ!
Thế là nhứt hữu cửu vô
Thế nhân bỏ cuộc, trở cờ chống nhau
Hỗn Lầu (Ba Bên) danh gọi về sau
Kể từ việc ấy, ngũ châu người tràn..." (đoạn XI)
Ông đã dịch tài tình tháp Babel là Hỗn Lầu, và đã có ý niệm về năm châu. Trong Sấm Truyền Ca, dịch giả đã dùng những tư tưởng Phật như "vô thường, hỉ xả, tiền định, chống sát sinh", của Ðạo học như "cửu hào, dịch tượng quẻ kiền, thái ất, vv" và quan niệm Nho giáo như "âm dương, ngũ hành, hiếu trung, thiên thời, v.v...": "Cơ trời sinh hóa hóa sinh Ngũ hành thiên địa tiến trình yên xuôi" (đoạn III).
Tóm lại, Sấm Truyền Ca là một tác phẩm thuộc di sản văn chương cổ điển của dân tộc hiếm hoi còn sót lại sau bao chiến tranh, khủng hoảng. Sấm Truyền Ca là dấu tích gia tài của người xưa, dấu tích sáng tạo đồng thời là dấu tích của tiếng nói và viết của người xưa. Lâu nay vì nhiều lý do đã bị bỏ quên, ngay bởi người Công giáo, thì nay Sấm Truyền Ca cần được nghiên cứu hơn nữa. Có thể nói Sấm Truyền Ca là một giao lưu điển hình theo kiểu Việt Nam, khởi từ căn bản tự chủ dân tộc để thu nhận các nền văn hóa thế giới.
2. Ðại Nam Việt Quốc Triều Sử Ký (1879):
Ðây là một tác phẩm sử học viết bằng chữ quốc ngữ, in lần đầu năm 1879 tại Sài Gòn (256 trang), do các linh mục địa phận Nam kỳ ở Tân Ðịnh biên soạn và sửa chữa ở những lần in lại (lần 5, 1909). Tập sử này là dấu tích chữ quốc ngữ và việc học sử ở Nam kỳ vào cuối thế kỷ XIX. Ðặc biệt, tác phẩm này cung cấp nhiều tài liệu giá trị, mới mẻ về Tây Sơn và vua Gia Long chưa từng được các sách sử khác nói đến. Tựa sách và ở nhiều nơi gọi Tây Sơn là nguỵ hay giặc, nhìn chung các tác giả có quan điểm gần với các sử quan nhà Nguyễn, nhưng Gia Long hay Nguyễn Ánh đều "được" gọi là Ông. Khen chê Tây Sơn và nhà Nguyễn khách quan hơn và khác với quan điểm của sử thần nhà Nguyễn. Một đoạn nói lên nỗi khổ của người dân giữa hai lằn "đạn":
Sau nữa, dầu quân Tây Sơn, dầu ông Hoàng Tôn (cháu đích tôn Vũ Vương) thì cũng lấy điều dữ mà nộ nạt thiên hạ và bắt người ta theo mình bằng như nói lời bảo không thì chẳng ra ích gì. Bởi đó cho nên thiên hạ cực khổ lắm phải còn giặc hai bên chỉ đánh nhau mãi. Khi thì bên nọ được khi thì bên kia, mà người ta chẳng biết vâng cứ ai, chẳng biết mình thuộc về ai. Hoặc bên nọ được xứ nào một ít lâu, mà đến sau phải thua lui thì nhường chỗ, thì bên kia liền bắt tội những người xứ ấy, vì khi trước đã giúp quân giặc" (tr. 34).
Vũ Vương tức chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), con là Nguyễn Phước Thuần tức Ðịnh Vương nối ngôi cha. Các tác giả cho biết như sau về nguồn gốc suy yếu của Ðàng Trong đưa đến phong trào khởi nghĩa của Tây Sơn:
Vũ Vương là chúa dữ, gây cực khổ cho dân. Vũ Vương rất xấu tính, biết ai có của gì hay sản vật quý, ít nhiều ngay cả chó, ngựa, chim, vượn hay hoa quả, cam, quít, mít hoặc những giống khác thế ấy hay là vợ con đẹp đẽ xinh tốt thì ông ấy cướp lấy những vợ con ấy. (...) Vũ Vương ăn ở thế thì chẳng có phép tắc gì. Trong nhà nước, các quan muốn làm sao thì làm, cho nên ai cũng chỉ ra sức bắt chước Vũ Vương mà hiếp dân sự. (...) Sau nữa ông ấy mê sắc dục, ra như chẳng còn biết tính loài người nữa. Chẳng những là có nhiều vợ mà sinh ra nhiều con. (...) Huệ (Duệ) Vương lại là con với người em mà Vũ Vương lấy làm vợ. (...) (Duệ Vương) giống tính cha, ít trí khôn, cũng mê ăn uống chơi bời, xem trò xem hát cùng xem săn bắn, cho nên các quan ấy có ý tìm ích riêng cho mình, vì tin thật, ông Hoàng Thượng (Duệ Vương) mê chơi bời làm vậy, thì sẽ có tên chúa mà thôi (bù nhìn). Còn quỡn thế chỉ thời tại mình. (...) Bởi thế hai ông ấy (một trong hai là Trương Phúc Loan) vâng lời trối Vũ Vương, rằng bao giờ mình qua đời rồi, thì phải lo liệu cho Hoàng Thượng lên làm vua (tức chúa Nguyễn) (...) Bao nhiêu quan chẳng hiệp một lòng một ý với mình hay là có binh ông Chưởng Vũ (bố Nguyễn Ánh) thì lẽ nọ lẽ kia mà bắt tội cất chức, kẻ thì phải giam ngục, lại có kẻ thì phải chết chém nữa
Về việc Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm:
Giám mục Bá Ða Lộc qua đến Xiêm, sau "vui mừng quá bội" được gặp lại Nguyễn Ánh ở "trong cõi Hòn Dừa cách xa đất Xiêm ba ngày đàng". Sau đó, "quân Tây Sơn trở về Qui Nhơn, để ông quan lớn tên là Nam Ðĩnh ở lại trong thành Sài gòn làm quan quận công cai trị xứ Ðồng Nai, và các xứ khác xung quanh. Vậy ông Nam Ðĩnh ấy gửi thơ cho vua Xiêm mà cách nói phụ phàng rất kiêu ngạo, cùng lấy quyền bề trên mà truyền dạy cho ông vua Xiêm hoặc vua An Nam là ông Nguyễn Ánh có qua bên Xiêm hay là có gặp vua ấy ở đâu thì phải bắt mà nộp cho mình bằng không thì sẽ đem quân sang đánh mà đoạt lấy cả nước Xiêm. Vua Xiêm thấy thơ ấy nói một cách vô phép làm vậy thì giận lắm, cùng uyết sang đánh giặc bên An Nam để phạt quân ấy song chẳng có ý cứu vua An Nam đâu".
Ðức Thầy (Bá Ða Lộc) biết ý vua thế nào nên đã xin lại vua An Nam dù cực khổ thế nào thì đừng tin cậy vua Xiêm, vì vua ấy có ý làm hại nước Nam mà thôi. Cho nên khi Ðức Thầy còn ở bên Xiêm mà xin phép về thì chẳng nói tỏ mình có ý đi giúp vua An Nam một lấy lẽ khác, người lại thử lòng vua và các quan Xiêm thì người biết được mọi sự. Vậy người lại vào trong cõi Hòn Dừa ở lại hai tháng tròn mà vua bàn các việc cùng người. Các quan đã bỏ vua hết, còn một chiếc tàu và ba trăm quân mà thôi
... Vậy vua thiếu thốn thể ấy thì xin Ðức Thầy Vêrô (Bá Ða Lộc) chịu sang bên Tây xin vua Pha lang sa sai nhiều binh sĩ cứu giúp mình. Vua giao ấn nhà nước cùng ban phép rộng cho người được giao cùng vua Pha lang sa thế nào thì mình sẽ vâng thể ấy...
Quân Tây sơn những tìm bắt người (Nguyễn Ánh) nên phải cứ ẩn mình trong Hòn Dừa và sai kẻ đi do trong các xứ xung quanh cho biết việc ra thế nào. Quân do ấy đến Hà Tiên thì gặp một đội quân Xiêm đang sắm sửa đi đánh quân Tây Sơn. Quan đại tướng quân Xiêm biết quân do vua An Nam thì tỏ ra lòng thương cùng cho xem sắc chỉ vua Xiêm đã ra mà sai mình đi đánh quân Tây Sơn và nói nhiều lời cho quân tin thật bởi vua Xiêm có nghĩa riêng với vua An Nam có sẵn lòng hiệp cùng mình thì càng lo liệu các việc. Quân Xiêm lại gởi nhiều của lễ quí trọng mà mừng vua. (...) Vua nghe điều ấy thì chẳng vội tin một sai người khác hai ba lần cho đặng tỏ quân ai có lòng đánh giặc mà giúp mình chăng, kẻ ấy trở về cũng nói như những người trước và quyết quân Xiêm có lòng ngay và có ý giúp vua thật. Bởi đó cho nên vua mới tin mà sang qua Hà tiên cho đặng gặp quan đại tướng Xiêm. Nhưng mà khi đến nơi rồi thì quân Xiêm bắt lấy và chẳng nói đến sự đi đánh giặc nữa, một sắm sửa bỏ về nộp vua An Nam cho vua Xiêm. Bấy giờ vua thấy mình đã mắc mưu làm vậy thì phàn nàn cho đến nỗi la khóc cùng trách mình dại, vì nhớ khi trước Ðức Thầy đã nói đi nói lại rằng: Ðừng bao giờ tin quân Xiêm bởi vì quân ấy chẳng thực lòng song le hối bất cập"
Toàn bộ cuốn sử này viết từ thời kỳ Vũ Vương đến thời vua Gia Long, sách không liệt kê các nguồn tài liệu hoặc nhân chứng và có nhiều sai lầm về tên gọi như các quốc hiệu nước ta, chỉ dùng "Giao Chỉ", "An-Nam" để gọi chung. Việc này dễ hiểu vì trước thế kỷ XX, thi Hương chỉ thi Bắc sử (Trung Hoa), đến đầu thế kỷ XX mới cho học và thi Nam sử; và cuốn sử duy nhất là bộ Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư khắc in từ cuối thế kỷ XVIII mà không phải ai cũng có ở tầm tay trong hệ thống in ấn và thư viện ngày xưa. Ðó là lý do của những sai lầm trên. Tác phẩm sử này có thể viết từ tài liệu riêng của các giáo sĩ nhân chứng thời kỳ lịch sử đó. Ðặc biệt của tập Ðại Nam Việt Quấc Triều Sử Ký là quan điểm không theo chính sử và những chi tiết cụ thể kể lại với một ngôn từ bình dị của cuối thế kỷ XIX chứ không như những bộ sử chính thức. Một cuốn sử viết theo lối Tây phương, của những người dân thường, Công giáo, ở miền Nam. Gần đây có khuynh hướng xét lại "công tội" của hai vua Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh, chúng tôi tin cuốn sử đặc biệt này sẽ giúp ích không nhỏ.
(Còn tiếp)
Nguyễn Vy Khanh
Cũng Cần Cho Hạnh Phúc
1.
Đêm qua. Vợ đã đi ngủ. Tắt đèn. Vặn lên một bài nhạc. Và ngồi trong bóng đêm để nghe thời gian qua thật chậm...
2.
tôi đã yêu em trong mùa gió
khi lá cây khô bay đầy ngỏ
yêu em không cần vội vã...
Đời sống có quá nhiều sắp xếp của thời gian, chạy đua với những công việc hằng ngày. Ngay cả khi nghỉ ngơi cũng có thời khóa biểu - đi đâu, làm gì, thăm ai.
Chiều hôm qua, đi làm về bị nhức đầu. Thay đồ xong, nằm trên cái ghế dài chờ vợ về để ăn chiều. Rồi ngủ đi lúc nào không biết.
Một bàn tay mát đặt lên trán làm thức giấc.
- Anh lại nhức đầu phải không?
- Ừ.
- Anh ngủ đi, khi nào làm cơm xong sẽ gọi anh dậy.
Nhắm mắt lại, nhưng không ngủ. Nằm đó lắng nghe những tiếng động quen thuộc vang lên từ nhà bếp - tiếng vòi nước chảy, tiếng bàn cơm đang được dọn bày, tiếng nấu nướng, và mùi thơm của thức ăn... Những âm thanh, hương vị hằng ngày bỏ ngoài tai như bao nhiêu âm thanh khác liên quan đến những gì gọi là việc-phải-làm.
Ấy vậy mà trong buổi chiều qua, nằm lắng nghe trong vô vàn hạnh phúc. Những hạnh phúc rất gần, rất thật. Trong cuộc sống vợ chồng, tình yêu có khi chỉ còn là những cử chỉ thân mật, lời nói ngọt ngào, nụ cười chia sẻ. Và cho rằng đó là hạnh phúc.
Đôi lúc, cũng cần có những phút giây im lặng lắng nghe để biết vì sao tình yêu hiện hữu. Vì sao cần nhau, yêu nhau.
Tình yêu
là
nhận diện ra những khoảng-trống-sẽ-có-nhưng-không-còn-nữa từ sự có mặt cần thiết của một người, cho một đời còn lại.
3.
Tôi đã yêu em như trẻ thơ
Đâu biết đôi khi có lìa xa
Yêu em trái tim thật thà...
Khuya. Bước vào phòng ngủ. Đứng nhìn vợ say giấc. Thật lâu. Cúi xuống. Vuốt tóc. Và hôn lên trán.
- Có gì không anh? Anh đở chưa?
- Không có gì, em ngủ đi. Anh yêu em.
Nàng mỉm cười.
Như trẻ thơ.
Thạc Nhiên