vhnt, số 312
14 July 1997
Trong số này:
thư vhnt......................................................................
T h ơ:
1 - Ngục tù.................................................Phạm Văn Tiên
2 - Tình khúc yêu..................................................Cát Nhu
3 - Biệt..............................................Nguyễn Ðăng Tuấn
4 - Anh đến................................................Lillian Nguyễn
5 - Quán đêm...................................................Phượng Vỹ
6 - Một nửa trăng.............................................Tường Vi
7 - Mưa..............................................................Cỏ Dại
8 - Trầm niệm cùng em.......................................Hoàng Vi Kha
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Nói về sáng tạo............................Nguyễn Phước Nguyên
10 - Lớp học ở nhà quê...............................Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Ðường tắt.........................................Bùi Thanh Liêm
Những buổi chiều rảnh rỗi, vào giờ giấc nhất định, tôi thích ngồi xem chương trình Wheel of Fortune trên TV. Một hình thức giải đố ô chữ có thưởng, tuỳ theo sự may rủi của người chơi khi quay bánh xe có chia ô tiền thưởng cho mỗi mẫu tự đoán trúng.
Nó được mệnh danh là American game, bởi có số lượng khán gỉa khá lớn. Tôi đoán khán giả thích xem chương trình này bởi vì họ cùng có chung cái hồi hộp, thất vọng hay vui sướng với người chơi khi giải một ô chữ.
Tôi có đi xa quá không, khi liên tưởng qua trò chơi đến thơ văn? Bởi vì mỗi bài thơ hay bài viết, dăm lúc như một ô chữ mà chúng ta phải cùng giải đoán. Chữ nghĩa thường mang lại cảm xúc cho người đọc - vui, buồn, suy tư... Ðó cũng là hình thức giải đố một ô chữ ngữ nghĩa, là sự đồng cảm hay phản hồi lại cách thể hiện của người viết. Họ chia xẻ cái thất vọng hay vui sướng trong những lời văn với nhau. Chính ở điều này họ cần nhau. Và gần nhau.
Nghệ thuật cũng là một cuộc chơi. Cuộc chơi lý trí đầy cảm xúc. Bạn, tôi và chúng ta, đang cùng trong trò chơi mà giải thưởng là những cảm xúc bất chợt - hay sâu lắng, đều rất thật, rất người.
thân ái,
ĐYT/vhnt
Ngục Tù
Trong ngục tù xưởng máy
Ban ngày cũng như đêm
Ðèn neon theo dõi
Bắt ngay lúc ngáp ruồi
Trong ngục tù, cũng sướng
Ít là ngày lãnh lương
Mồ hôi mình đổ xuống
Chẳng ai cướp giật công
Trong trại giam Cồn Cát
"Nhà nghỉ mát Bác Hồ"
Trăng vàng soi rõ nét
Cùm đỏ vắt quanh chân
Tôi muốn về nơi ấy
Mua lại cái cùm chân
Qua bên này xay nát
Làm bút viết văn chương
Phạm Văn Tiên
Tình Khúc Yêu
Bé nhớ mãi bầu trời đêm hôm đó
Sao thật nhiều và trăng cũng thật thơ
Ngồi bên anh bé cứ ngỡ trong mơ
Nên khẽ hát bài tình ca Chờ Ðợi
Rồi từ đó bóng anh xa dịu vợi
Lời tự tình cũng theo gió bay xa
Nhớ thương anh, bé cứ ngẩn ngơ ra
Thay đợi chờ bằng bài ca Ngăn Cách
Như sợ rằng bé sẽ hờn, sẽ trách
Anh trở về, bé hát Chuyện Hợp Tan
Nhưng buồn thay khi trăng sáng vừa tàn
Cũng là lúc bé đây vừa tỉnh giấc
Bé sợ rằng tình yêu rồi sẽ mất
Anh, anh ơi hãy xiết chặt bé thêm
Bé sẽ ngủ trong vòng tay thật êm
Ðể mơ được làm Giọt Nắng Bên Thềm
Cát Nhu
BIỆT
em bỏ lên vùng xưa bắc cạn
con cá đòng đòng hứng nước mưa
dăm ba măng nứa nhú theo mùa
hoàng lan cội. Cành treo cúng hạn
vạt áo che thời. Hoàng kim. Thẫm
nón lá rộng vành dây ủ. Ê
tứ thân mầu lẫm cũng nạm thề
dáng nhỏ se lòng. Sao khuất lấp
hình như tình yêu là/tội/kiếp
em tiếc, ai, cùng. Nhớ. Long lanh
mùa thương người hương tóc xuân xanh
nước lũ lìa Nguồn xưa/nối/tiếp
thành ra non côi/cùng hồi/động
cái bản, cái làng, cái xa xăm
cái lư, trống. Ðồng trăng hội. Rằm
giăng đất đầm đầu/hồ/đình/động
nguyễn đăng tuấn
ANH ÐẾN
Anh đến chiều nay hay chiều qua
Mà như còn đó lại vừa xa
Gót giầy buông nhẹ bên thềm nắng
Chiếc lá vàng rơi cũng lụa là
Vắng anh thêm vắng căn nhà vắng
Chiều cũng chiều hơn, gió nhạt hơn
Chỉ cần anh đến là xuân đến
Là góc đời em lại có hồn
Lillian Nguyễn
Quán Ðêm
Trong quán rượu tối Bombay
Một mình
Nốc cạn
Nửa chai whisky
Gái đêm hỏi
Có muốn đi?
Cầm chai tu nửa chai
Khà
Bao nhiêu?
Năm ngón
Bớt chút
Không nhiều
Bỏ ba
Bỏ bốn - sấc - keo quá chừng
Phượng Vỹ
Một Nửa Trăng
Trăng đêm nay mỏng mảnh
Chỉ có nửa vầng thôi
Nửa vầng là ảo ảnh
Nên lơ lửng chừng trời
Tôi nhìn qua khung cửa
Bỗng thấy vầng trăng soi
Linh hồn tôi một nửa
Bỏ đi tìm... trăng ơi!
Tôi tìm tình huyền hoặc
Dạt dào trong tim côi
Sông Ngân xa vằng vặc
Hóa thành ngàn sao rơi
Tôi tìm lời yêu dấu
Hát bên trời yên vui
Như ngày xưa thơ ấu
Mẹ lưng tròn bên nôi
Tôi tìm con diều biếc
Trong chiều vàng rong chơi
Lòng căng dây mải miết
Trăng cười hồng đôi môi...
Tìm hoài vầng trăng nửa
Hay tìm cho riêng tôi
Tình yêu ơi, lần nữa
Dẫu biết là chia phôi...
tường vi
Mưa
Mưa trút xuống đời tôi bao nỗi nhớ
Một hạt rơi , một nỗi nhớ trong tôi
Dĩ vãng xưa vẫn tiếp nối khôn nguôi
Ngày tháng cũ dường như còn quanh quẩn.
Em vẫn đó! sao tình hoài u uẩn
Vẫn trông mong theo năm tháng mõi mòn
Những tin yêu ngày cũ vẫn sắc son?
Mãi còn đó trao em làm hạnh phúc.
Trong cuộc sống đã quá nhiều rạn nứt
Anh chẳng còn trung thực để em yêu
Kỷ niệm xưa xin cất giữ yêu kiều
Ðừng bôi nhọ lên mô,t thời tuổi ngọc.
Ðể về sau khi những đêm trằn trọc
Hình bóng em vẫn ngà ngọc trong anh
Giữa cuộc đời chẳng còn lấy màu xanh
Anh xuất hiện bên em dù địa ngục.
Mong cuộc sống trao em nhiều hạnh phúc
Những gian truân xin hãy để cho anh
Tình nghĩa xưa xin được mãi còn xanh
Em cất giữ cho mình thời con gái.
Anh chẳng dám trông mong lần gặp gỡ
Ðược kề vai nhắc nhở chuyện ngày xưa
Tay đan tay thơ thẩn dạo trong mưa
Cùng cảm lạnh lấy ai người săn sóc.
Nếu ngày sau bên gương em chải tóc
Tìm cho mình sợi tóc rối vì anh
Một cuộc tình sao lại quá mong manh?
Anh cất giữ làm hành trang tuổi trẻ.
Cỏ Dại
Trầm Niệm Cùng Em
Thương gởi Kh
Em đi vào cõi nhớ
giọt buồn ngấm vào thơ
trong tận cùng đau khổ
thơ vào đời xác xơ
những đêm dài trông đợi
mới hiểu niềm đắng cay
Hồn ai vừa mới chết
như lá rụng chiều nay
Dòng dư hương, chăn nệm
làm nỗi nhớ cuồng điên
trong cõi lòng hoang vắng
sóng nhớ cuộn triền miên
Nỗi buồn em gởi lại
trói cuộc đời tang thương
giờ chừng như đã hiểu
nỗi cô đơn đêm trường
Anh khép đi đôi mắt
để nhìn thấy dáng em
trong bờ sâu tư tưởng
thoang thoáng áo trắng mềm
Áo trắng về trên phố
tạc vào phiến thời gian
dù trăm ngàn năm nữa
bóng hình chẳng phai tan
Nói làm sao em hỡi
Ngôn ngữ không trọn đầy
Dòng đời hoài trôi mãi
Ngọn gió buồn qua tay
Anh đi tìm định nghĩa
rối bời giữa mông lung
tóc thêm nhiều sợi bạc
rụng xuống giữa muôn trùng
Một trò chơi cút bắt
Hạnh phúc mãi chạy rong
Tình yêu hoài thách đố
Hai tay, tập tầm vông
Thời gian không hiệu nghiệm
Trí nhớ vẫn đọa đày
Mơ hồ nhiều khái niệm
rối rắm hàng mi cay
Ðời không là huyền thoại
Xoay đi thấy vô thường
Ðịnh số cho nhân loại
không thoát vòng đau - thương
Em đi, em đã đi
thấm thía cuộc từ ly
mình có duyên không phận
buồn thêm có được gì?
Vàng xưa đem xếp lại
Một đoạn tiểu thuyết buồn
mai này về cát bụi
xin trời đừng mưa tuôn.
Hoàng Vi Kha
Nói Về Sáng Tạo
Sáng tác là sự lựa chọn tuyệt đối của ngôn ngữ và tâm linh.
Thưởng thức nghệ thuật, cũng thế.
Khi ý niệm phát sinh trong tâm tưởng, tác phẩm có thể thành hình ngay sau đó để trở thành những rực sáng của cảm xúc, những tiếng sét của tư duy. Hay tác giả có thể nghiền ngẩm ý niệm vào sâu trong tận cùng cô thức để chắt chiu nó thành những giọt mưa hiếm hoi, long lanh trong sa mạc của mặc tưởng. Thậm chí, những ảo ảnh tác giả nhìn thấy trong sa mạc mặc tưởng đó, vả chăng, chỉ là những thử thách để tác giả gạn lọc để tìm thấy mình khi sáng tạọ Cuộc hành trình của sáng tạo là cất bước đi từ những gì mình-nghĩ-mình-là qua những gì mình-biết-mình-không-là, để đi đến chốn-mình-là.
Ðó là quyền của tác giả, trong tâm linh. Tuyệt đối.
Khi ý niệm đã đong đầy trong tư tưởng, chữ nghĩa sẽ thành hình. Trong thơ, tác giả có thể chọn "giam" mình vào vần luật hay "thoát" mình vào thể tự dọ Một bài thơ vần xúc tích ý niệm và cảm nhận vẫn tuyệt vời hơn một bài thơ tự do nhiều chữ mà ít ý. Ngược lại, đôi khi vần luật lại là những hàng rào giới hạn không cho tư tưởng được diễn tả thật đầy đủ, thật phóng khoáng như ý muốn của tác giả. Trong sáng tạo văn chương, ngôn ngữ là phương tiện. Nghệ thuật của ngôn ngữ nằm ở chỗ tác giả đã thành công hay chưa khi đã tận dụng hết khả năng ngôn ngữ của mình để chuyên chở thận trọn vẹn, thật nát ý điều mình muốn nói, cần nóị Ðầy, mà không tràn. Vừa, mà không vơi.
Ðó là quyền của tác giả, trong ngôn ngữ. Tuyệt đối.
Người đọc đứng trước một tác phẩm như đứng trước một bờ sông. Có người muốn tác giả đưa họ qua bên kia bờ. Có người không muốn qua sông, nhưng muốn tác giả nói cho họ nghe về những gì tìm thấy bên kia. Có người không quan trọng hoá vấn đề bờ bên nay hay bên kia, mà là được cùng tác giả làm một chuyến hành trình trong tâm linh và cảm xúc. Họ đến với tác giả và tác phẩm như họ đang chọn người lái và con thuyền để đưa mình sang sông. Có người chỉ chú tâm vào con thuyền - rộng hẹp, đẹp xấu, chắc chắn hay èo ọp. Có người chỉ chú tâm vào người lái - quen biết hay xa lạ, thâm trầm hay sôi nổi. Thậm chí, có người chỉ muốn chọn những con thuyền xuôi dòng tư tưởng vô định, lìa xa những bến bờ để làm một cuộc hành trình không-bao-giờ-đến.
Ðó là quyền của người đọc, khi thưởng thức. Tuyệt đối.
Những dòng chữ này chia xẻ đôi diều suy nghĩ của người tạo ra nó. Và nếu nó làm được điều này, đó cũng là một thành công. Tương đối.
npn
LỚP HỌC NHÀ QUÊ
Mùa Hè, ở nhà quê, chim muông đua hót. Nào tiếng cu cườm gáy vang vang trên ngọn tre; tiếng chim sẽ ríu rít ở đầu hiên nhà, nơi bồ lúa; tiếng chim khách kêu " khách... khách " liên hồi trên nhánh nhản, cành chanh; tiếng chim trao trão gọi nhau ơi ới trên buồng chuối chín bói hoặc cây ớt hiểm ngoài bờ; tiếng chim chìa vôi gọi buổi sáng và rồi cả tiếng chim vịt kêu chiều... tít... tít... tít... buồn não nuột...
Mùa hè, ở nhà quê, còn là mùa nắng như lửa đốt, mùa mận oằn cây, mùa xoài oằn nhánh đong đưa theo từng ngọn gió heo may nhè nhẹ hoặc tơi tả rụng lịch bịch khi gió giật, dông mưa; mùa của rạch khô, rạch cạn; mùa của tát đìa, đăm lươn, đào chuột, đuổi chim, nôm cá...
Ngày xưa, dù là trường làng, nơi nào cũng có những gốc phượng, gốc còng, gốc ô môi để có bóng mát cho học trò. Do đó, mùa Hè, ở nhà quê, cũng là mùa của phượng - vĩ, mùa của bông ô môi với màu sắc tựa như hoa đào, mùa bãi trường, mùa chia tay của tuổi còn đi học. Nhưng mùa Hè, ở nhà quê, còn là mùa của những lớp học tháng nghèo nàn thiếu bàn, thiếu ghế mà thân thương, lễ phép, chăm chỉ, ngoan hiền, dường như ít người biết đến mỗi khi nhắc về nơi thôn dã quê mùa.
Ở quê tôi, một làng nhỏ bên dòng sông Cửu - Long, mùa Hè là vậy. Trẻ con quê tôi, mùa Hè vừa tiếp giúp cha mẹ lo công việc lúa thóc, lo kiếm cá, bắt chuột, bắt lươn, chăn giử vịt ngoài đồng, các em còn lo đi học tháng tại những lớp học nhà quê do những người nhà quê có lòng đứng ra mở lớp dạy học.
Lớp học có khi là một cái chuồng bò, mùa nắng hạn người làm ruộng không để bò trong chuồng, hoặc một mái trại chứa củi, một chái bếp chật chội... mà bàn ghế là những miếng ván xoài được rửa sạch và kê lên những cây nống tre hoặc những tảng đá của những căn nhà xưa bị bể nay còn sót lại. Có khi cũng là gian giữa của căn nhà lớn mà bàn ghế là bộ ngựa bằng gõ được dồi bóng lưởng. Không cần có bàn hay bục giảng cho thầy giáo. Chỉ cần một tấm bảng bằng ván tạp với bề ngang, bề rộng vừa phải, được sơn đen bằng dầu hắc, thế là đủ. Rồi thầy trò quây quần bên nhau, thầy dạy trò học thật thân thương mà nghiêm minh, thật bình dị mà ích lợi, làm cho cái chơn chất của nhà quê thành cái trong sáng của giáo dục, cái cảm mến của chòm xóm dành cho thầy giáo vườn thành cái nền nếp trọng đạo thánh hiền, thật giản dị mà bền chặt, chan hòa.
Thuở nhỏ, tôi được sanh ra và lớn lên ở nhà quê, nên tôi có dịp học chữ ở những lớp học nhà quê như vậy. Những lớp học đầy những trẻ con đầu tóc khét nắng, khét bùn, nhưng được chải bằng nước lạnh mướt rượt, quần áo dù cũ nhưng rất tươm tất, chỉnh tề. Còn thầy giáo vườn thường mặc bộ áo quần bà ba trắng, chân mang đôi guốc vông, đều có những điểm đặc biệt gần giống nhau như thầy nào cũng biết được chút ít tiếng Tây, siêng dọn bài, dạy học rất kỷ và đánh đòn cũng dữ, dù dạy học có nhận tiền học phí hằng tháng. Học trò nhỏ chúng tôi, đứa nào cũng nhát đòn. Dù rất siêng học bài, nhưng lần nào lên trả bài đều bị đòn không nhiều thì ít, tối thiểu cũng bị dính vài roi lên bàn đít, muốn ứa nước mắt. Nhưng có một điều đáng ghi nhận là học trò đứa nào, sau này lớn lên, ra trường làng, trường tỉnh đều theo kịp bạn bè. Và nhất là chúng tôi không bao giờ dám trách giận thầy đã đánh đòn hoặc quở mắng mình. Luôn luôn cung kính, nhớ ơn thầy mãi hoài cho tới khi sau này ra đời, mỗi lần có dịp gặp lại thầy, đứa nào cũng lễ phép cuối đầu chào, ăn nói lễ độ với thầy cũ của mình như hồi còn ấu thơ.
Rồi tôi lớn lên, đăm ra mê làm thầy giáo vườn lúc nào không biết. Bắt đầu từ năm học lớp Ðệ Lục trường Thoại Ngọc Hầu, kỳ nghỉ Hè năm ấy là tôi bắt đầu làm thầy giáo vườn. Học trò của tôi là những đứa trẻ trong ngọn, ngoài vàm của con rạch cạn nước quê tôi chạy ngoằn ngoèo ngang những lùm cây um tùm của khu đất thuộc gia đình Tạ - Thu - Thâu. Tôi còn nhớ những đứa bé được ba má dẫn đến nhờ tôi dạy dùm mà cư xử với tôi giống y như một thầy giáo thiệt. Những phụ huynh này là những người bà con chòm xóm, đều lớn tuổi, có người tôi phải gọi theo vai vế bằng anh, bằng chú, bằng bác nhưng rất qúi người biết chữ. Những bậc phụ huynh này, dù quần quật với ruộng rẫy, nhưng lúc nào cũng thuộc nằm lòng và nuôi ước mơ thực hiện cho bằng được lời dạy của người xưa về việc cho con biết chữ:
Rừng nhu, biển Thánh khôn dò,
Nhỏ mà không học, lớn mò sao ra.
Trong khi ngồi chuyện trò với Tía tôi, các anh, các chú này cứ lập đi, lập lại câu ca dao: Muốn sang thì bắc Phù kiều,
Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy.
Tôi hết sức áy náy và lo lắng không biết mình có dạy được không. Nhưng rồi nhờ sự khích lệ của Tía tôi, tôi cũng vững bụng.
Năm đó, lớp học nhà quê của tôi có khoảng mười em, nhưng hai, ba lớp khác nhau. Có em mới vỡ lòng, em học lớp tư, lớp ba. Tôi cũng cố gắng bỏ ra mỗi ngày một buổi để dạy toán cọng, toán trừ, tập đồ, tập viết. Em nào cũng len lét sợ tôi kêu lên dọn bài, sửa bài. Tôi cũng chịu khó dạy thật chi li, thành ra, sau mỗi mùa Hè, các em này vào lớp ở trường, học khỏe re.
Thắm thoát, rồi năm nào cũng như năm nào, ngoại trừ hai năm luyện thi Trung học Ðệ Nhất Cấp và Tú Tài, mỗi mùa Hè là tôi có lớp học nhà quê như vậy. Những học trò cũ có, những học trò mới cũng có, em nào cũng như em nào, lớp nào cũng như lớp nào đều vẫn giữ được cái nét đẹp của học trò làng quê vừa hiếu học, vừa ngoan, vừa lễ phép. Vẫn chừng ấy bàn ghế làm bằng ván xoài kê lên những tảng đá hoặc những cây nống bằng gốc tre, những viên phấn đầy sạn viết lên tấm bảng đen bằng cây tạp được sơn bằng dầu hắc. Và bấy giờ tôi có thêm những em học trò luyện thi vào lớp Ðệ Thất trường tỉnh, những em học Ðệ Thất, Ðệ Lục trên tỉnh về quê nghỉ hè cũng xin vào học. Tôi chịu khó dạy nhiều lớp như vậy dưới những trưa Hè mà ngoài vườn chim chóc như cùng reo vui, ca hót líu lo hoà cùng tiếng học trò nhà quê ê a vang vang.
Bẳng đi một thời gian dài, tôi phải lên Sài Gòn tiếp tục việc học và rồi ra đời, đi đó, đi đây, mỗi khi có dịp trở về thăm nhà, thăm quê, bà con ai cũng mừng, cũng mến. Nhiều em học trò cũ, bây giờ đã có gia đình, vợ con đầy đàn, cũng đến thăm và nhắc lại những kỷ niệm học Hè với tôi hồi trước, mà cảm động. Một phần người nông dân họ cảm mến người biết chữ, họ trọng chữ Thánh hiền, nhưng một phần khác họ cũng mến cái cách ăn ở của mình với chòm xóm, láng giềng. Dù họ ít học nhưng họ rất trọng đạo đức, vì thế, đối với họ, dù văn hay chữ giỏi, dù làm quan, làm làng mà không khiêm cung, không hòa thuận, không đức hạnh, họ rất coi thường. Sống ở đời đã khó, mà sống ở nhà quê tưởng chừng rất dễ nhưng còn khó gấp bội phần.
Rồi vật đổi sao dời, sau năm 75 với những năm tháng " lỡ vận lên rừng đốn cây ", tôi đã trở lại với con rạch cạn nước quê tôi, trở lại với đời sống ruộng đồng, trở lại với những ngày ấu thơ giăng lưới, giăng câu, bắt cua, bắt chuột thật sự. Chữ nghĩa dường như cũng trôi sông, trôi biển, bỏ lại trên rừng tràm sau những năm tháng dài trôi đi trong vô vị của đọa đày. Vì lúc bấy giờ là thực tế của cuộc sống, là những khó khăn trong dòng đời, nó bức thiết hơn. Tôi nhớ không biết có người nào đã than " Chữ nghĩa ích gì
cho buổi ấy ", thật đúng trong hoàn cảnh của tôi với mấy năm này vô cùng.
Tôi nghĩ chắc chòm xóm người ta quên đi những ngày tháng cũ thân thương giữa người đầu trong, kẻ xóm ngoài, liền rạch liền ngòi khi tôi trở về. Nhưng, ít ra những suy nghĩ luẩn quẩn của tôi về nhân tình thế sự không đúng chút nào. Những học trò của tôi ngày trước giờ cũng già đi theo tháng năm. Họ có vợ, có con. Có người còn sắp sữa có cháu để bồng. Gặp lại tôi, những học trò cũ có dịp nhắc lại những kỷ niệm cùng lời cám ơn mà họ không bao giờ quên. Họ nói, nay biết chữ là nhờ tôi dạy những lớp học nhà quê như vậy, vì họ nhớ hoài câu " một chữ cũng thầy, nửa chữ cũng thầy ". Và họ thường lập đi lập lại " không thầy đố mầy làm nên " như kinh nhật tụng.
Tôi tưởng như vậy cũng rồi một chuổi sống mấy mươi năm, êm đềm có, vui tươi có, mà đắng cay cũng có, đã qua đi theo thời gian. Tôi không phải lo lắng ba cái chữ nghĩa nữa. Mười mấy năm trước là học trò của tôi, bây giờ họ là phụ huynh. Người này rồi người kia đến nài nĩ nhờ dạy dùm cháu này học luyện thi lớp mười, lớp chín; cháu kia học lớp mười hai mà còn yếu quá; cháu nọ lớp năm chuẩn bị vào lớp sáu vân vân. Tôi tâm sự để họ thông cảm dùm tôi, vì hoàn cảnh của tôi bây giờ khó khăn dữ lắm, tôi không ngại tiếc công, tốn sức mà thật sự tôi không dám dạy học như ngày trước tôi đã dạy tại nhà. Tôi rất sợ những hệ lụy và viện lý do bây giờ không còn nhớ chữ nghĩa gì nhiều vì bỏ lâu quá, nhưng họ không tin. Thật sự, người xưa đã bảo văn ôn, võ luyện, mà tôi có ôn, có luyện gì đâu, nên quên nhiều lắm. Rồi tôi cũng không từ chối được với lòng thành khẩn của nhửng bà con ở trong xóm. Họ đã đứng ra xin phép, họ đốn tre che trại, đốn gốc tre kê bàn, kê kệ ngồi bằng những tấm ván xoài như ngày xưa họ ngồi học với tôi. Và rồi, lớp học lại bắt đầu với những trẻ con nhà quê thiếu thốn đủ mọi thứ, kể cả một ông thầy giáo vườn.
Dường như, khi đời sống tâm linh không được yên ổn, người ta không còn tha thiết gì đến những điều có vẻ quá xa thực tế, mà chữ nghĩa lúc đó là một dẫn chứng điễn hình, kể cả đi học cũng như dạy học. Do đó, việc đi học hay dạy học không cần thiết cho đời sống bằng giử vịt, cắt cỏ cho bò ăn, sạ lúa, xịt thuốc sâu, chạy nợ mua phân bón, bán lúa non, lúa già để có tiền trang trải nợ nần. Nhiều em nhà quê đã bỏ học về phụ giúp cha mẹ, phụ giúp gia đình. Nhiều thầy giáo cũng rời mái trường làng để bắt đầu lo sạ lúa, trồng đậu, trồng mía, trồng khoai. Tôi cũng chìm vào sự cùng cực và vẻ bi đát đó. Cho nên, khi bắt đầu lại, tôi thật sự ngượng ngập, không bắt trớn chút nào...
Theo một thời khắc biểu khá bề bộn, tôi phải để ra những giờ giấc vừa lo cho ruộng lúa, vừa trồng bụi chuối, gốc chanh, vừa chăm sóc vườn tược, vừa kiếm cá lo thức ăn cho những bửa cơm sáng cơm chiều, vừa coi lại bài vở, vừa dạy học. Và để cho công việc không quá gò bó, lớp học nhà quê của tôi chỉ dạy dùm, không nhận học phí hằng tháng. Vì ở đời, nhất nhất cái gì có nhận tiền, y như rằng có bó buộc, có ganh tị, có chê khen, có mất lòng. Tôi sợ nhất là để mất lòng đối với chòm xóm láng giềng. Và cũng để tránh những rắc rối, tôi chỉ nhận hướng dẫn thuần về toán, lý, hóa cho các em mặc dù tôi không sở trường những môn này.
Thầy thì đầu tắt mặt tối, trò thì chăn vịt giữ gà, nhưng vẫn giữ được nền nếp lễ phép, kính trọng như ngày nào những phụ huynh của các em đã lễ phép kính trọng ở những lớp học nhà quê ngày trước. Cái nền đạo đức của ông cha ở thôn quê nó bền chặt, vững vàng như một gốc cổ thụ. Vẫn còn lễ phép khoanh tay cuối đầu chào kính người lớn hoặc thầy cô mỗi khi đến nhà hoặc ngoài đường, nơi công cộng là một cái gì rất tự nhiên như sự vận chuyển của đất trời khi gió mát, khi trăng sáng, khi mặt trời lên, khi trưa im vắng của vạn vật. Ðôi lúc đời sống nơi thành thị chạy theo những dòng tiến bộ của các xã hội Tây phương, người ta cho rằng nếp sống nhà quê với những mối giềng như vậy là quá cổ lổ, lạc hậu, chậm tiến. Nhưng khi cái văn minh mua được với những giá quá đắt, mà đôi lúc lại làm cho người ta giật mình khi gặp phải những trớ trêu, những buồn lòng, thì cái lễ phép quê mùa ở nơi thôn quê tưởng chừng lạc hậu, giờ thành ra cái an vui, cái quí trọng còn lại sau những biến dịch của dòng đời. Trạng thái an vui ấy như một thứ chất liệu vừa thơm tho, vừa ngọt ngào, vừa tinh anh, vừa nhà quê mà văn vẻ có gốc, có cành, có hoa, có trái hài hòa, vững bền.
Thật tình, dạy các em, tôi có thể dạy tạm được, chứ không hay, vì mình là tay ngang mà. Nhưng nhờ các em chịu khó, rồi cũng lần hồi các em am hiểu những điều căn bản. Dần dần, tôi thấy ở những giờ dạy học như vậy là những niềm vui. Ở vào cái thời buổi mà bạn bè thì xa, biệt tăm biệt tích; trong lòng thì băn khoăn lo lắng, sợ sệt trăm bề, với những tâm hồn thơ ngây của các học trò vườn đã làm tôi an ổn phần nào. Thêm vào, một vài kỷ niệm nho nhỏ như những tình tự êm đềm giữa thầy và trò ở nhà quê, càng làm cho tôi nhớ hoài trong lòng mỗi lần có dịp hoài niệm về chốn cũ. Chẳng hạn có em xách một giỏ xách đệm bàng đầy những củ khoai lang vừa mới đào còn dính bùn để biếu thầy, rồi nào là cà, là bắp, là mía, là đường, trái xoài, trái đu đủ, trái mãng cầu, kể cả những nhánh sống đời, những nhánh trường sanh để tặng thầy cắm ở gần lu nước uống như những tấm lòng, những thương mến chân thật, giản dị. Ðôi khi, có em còn đem đến tặng thầy một chục chuột mà em vừa gài rập hồi đêm qua hoặc con cá lóc bằng cổ tay mà ba em mới tát hầm, tát ao đầy lục bình phía sau nhà. Có những lần, vừa dạy học tôi vừa phơi lúa ngoài sân, bất chợt một trận mưa đổ ập xuống, các em bỏ lớp chạy ra, đứa dùng trang cào lúa gom lại, đứa dùng chổi quét dồn, đứa gom đệm, gom bao, đứa kéo những tấm ny lon đậy mưa. Thầy trò tở mở mồ hôi vì mệt, nhưng cười vui ồn ào đầy thân tình, lo cho thầy như lo cho lúa của chính mình bị mưa, bị ướt. Qua công việc vội vàng gấp rút ấy, rồi thầy trò trở lại lớp học nghiêm trang sau khi rữa tay chân bụi bặm. Những tình nghĩa thầy trò này, tôi đi tìm hoài, hiếm thấy ở những vùng đô hội, thị thành.
Với ba tháng hè ngắn ngủi, với mười em lớp mười hai, khi vào học các em dường như mất căn bản hoàn toàn, rồi dần dần làm được nhiều bài tập từ dễ đến khó, những đề thi cũ, và đậu ở kỳ thi tốt nghiệp trung học vào mùa mưa. Còn những lớp khác cũng có những kết quả đáng mừng là em nào cũng khá hơn khi trở lại mùa học năm sau. Có niềm vui nào bằng niềm vui mà mình đã mang đến cho những em bé nhà quê những điều học được dù nhỏ mọn này.
Thành ra, thực tế đã cho tôi nghiệm ra rằng, cơ hội để làm việc ích lợi không phải là không có, mà chỉ vì mình vô tình để cơ hội qua đi mà thôi.
Rồi tôi lại rời làng quê thêm một lần nữa! Vào bốn giờ sáng, trời còn tối đen. Hai bên con đường làng những chiếc đèn dầu leo lét nơi bàn Thông Thiên, vài nén nhang cúng Trời Phật lập lòe như con đơm đớm. Tiếng chó sủa vang vang trong xóm. Khi biết gia đình chúng tôi phải đi bộ ra chợ quận trên con đường đất ngoằn ngoèo khoảng ba cây số, để đón xe về Sài Gòn chờ máy bay đi Hoa Kỳ, không ai bảo ai, chòm xóm đón chúng tôi ngoài ngõ ngay trước nhà của họ. Người này cầu chúc, người kia căn dặn, người nọ cầm tay giả từ với những giọng nói nghẹn ngào. Những giọt nước mắt vuốt vội dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu lửa nơi bàn Thông Thiên, cùng cái trong lành, tinh khiết của buổi sáng nhà quê, đã cho tôi hiểu thế nào là nghĩa tình của chòm xóm. Một loại nghĩa tình không mua được bằng tiền. Trong số những bà con chòm xóm ấy, có rất nhiều những học trò cũ của tôi với lớp học nhà quê nơi mái lá nghèo nàn. Các em nói rất nhỏ mà tôi nghe văng vẳng hoài: "Cầu chúc thầy bình an!".
Lương Thư Trung
Hoa Kỳ, mùa Hè, 1997
Ðường Tắt
Dụi tắt điếu thuốc, Giáo quay qua Trần Thanh, hỏi:
- Mày nghĩ kỹ lại một lần nữa đi Thanh, coi có còn sơ sót gì không?
Trần Thanh buột miệng chửi thề:
- ÐM, giờ này mà còn hỏi câu đó. Hết biết! giờ phút này mà mày còn nghi vấn về kế hoạch của tụi mình nữa ạ ÐM, nếu mày cảm thấy lạnh cẳng thì bây giờ rút lui cũng đâu có muộn.
- Ðâu có! Tao chỉ muốn mọi việc êm xuôi. Thế thôi!
- Bảo đảm chắc ăn như bắp mà mậy.
Nói xong, Trần Thanh đứng dậy, đi đến kéo sụp mấy tấm ri-đô phủ kín cửa sổ ngoài phòng khách. Xong gã trở lại bàn giấy, mở khóa lấy ra tấm bản đồ. Gã ngoắc tay ra hiệu:
- Lại đây. Mình ôn lại kế hoạch một lần cuối cùng.
Hai cái đầu đen của hai gã tỵ nạn cắm cúi trên tấm bản đồ chằng chịt như mê hồn trận. Lúc đó đồng hồ trên tường gõ đúng 11 tiếng. Mười một giờ đêm. Một kế hoạch bí mật đang được bàn tới thảo lui. Không gian bốn bề yên tĩnh, chỉ nghe tiếng thầm thì rất khể Thậm chí hàng xóm Mỹ nếu có nghe được cũng không biết 2 tên Việt Nam này đang bàn tính chuyện gì vì chúng nó trao đổi với nhau bằng tiếng mẹ đẻ của tụi nó.
Năm 1980, tức là mười bảy năm về trước, Trần Thanh chân ướt chân ráo nhập gia trên đất nước đầy cơ hội này, sau khi bỏlại sau lưng tất cả; ở đó có quê hương, bè bạn và những kỷ niệm buồn đời lính, đời tù binh cải tạo của gẩ Gã bỏ lại tất cả, ra đi mang theo vợ và 2 con dại. Ở lứa tuổi 30 gã phải làm lại từ đầu.
Trước năm 1975, Trần Thanh là một phi công lái trực thăng. Ðúng ra, vào cái ngày tháng 4 đen, khi miền Nam Cộng Hòa bị sụp đổ thì gia đình gã phải thoát rất sớm. Chính Trần Thanh đã lái trực thăng đưa rước từng tốp người ra đệ thất hạm đội. Trong chuyến bốc người cuối cùng, gã thấy thấp thoáng bóng xe tăng T-54 của Việt cộng đang tiến vào trên đường Trương Minh Giảng. Sau khi thả tốp người cuối cùng xuống, từ đệ thất hạm đội, Trần Thanh quyết định bay trở lại đất liền để bốc rước vợ con, bất kể bạn bè ngăn cản. Sau này, Trần Thanh mới biết đó là quyết định dại dột, quyết định này đã đưa gã thẳng vào trại giam Chí Hòa, và không lâu sau đó được chuyển ra trại Suối Máu, Biên Hòa, trước khi bị mang ra Bắc học tập cải tạo.
Năm 1980, vừa được thả về là gã cùng vợ con tìm đường vượt biển. Sang Hoa kỳ, cuộc đời của gã có vui có buồn. Vui là vì gã kiếm được việc làm đúng sở thích, gã xin được một chân lái trực thăng, chuyên lo chở nhân viên dầu khí từ đất liền ra các mỏ dầu trong vùng vịnh Mễ Tây Cơ. Công việc rất nhàn, một tuần lễ chỉ làm việc có một ngày, mà lương hướng lại rất hậu hỉ, một năm gần 50 nghìn. Còn chuyện buồn là vợ gã từ ngày sang Mỹ bỗng đổi tính hẳn, một thời gian ngắn sau đó nàng quyết định ly dị gã để đi theo tình yêu mới. Ra tòa, hai đứa con quyết định theo mễ Do đó Trần Thanh tự nhiên lại trở thành độc thân một cách bất đắc dĩ.
Chán đời, năm 1990, Trần Thanh xin nghỉ công việc lái máy bay trực thăng. Quyết định của gã đã làm nhiều người ngạc nhiên và tiếc rẻ giùm cho gã, công việc béo bở, an nhàn mà lương lại rất cao không ngờ Trần Thanh lại dám bỏ ngang xương. Thiên hạ đâu có ai hiểu được nỗi khổ tâm của Trần Thanh. Tiền bạc bây giờ đâu có nghĩa lý gì đối với gã, khi tổ ấm gia đình tan nát. Hơn nữa, tiền lương gã càng cao thì tiền cấp dưỡng cũng đâu vào đấy thôi. Ly dị vợ, gã mất hết, từ tinh thần đến vật chất. Căn nhà trị giá hai trăm nghìn mua ở Houston, Texas tòa quyết định giao cho vợ gã, đuổi gã ra ngoài đường. Trần Thanh còn nhớ mấy tên bạn Mỹ đồng cảnh ngộ đã từng ví rằng đàn bà và cơn lốc "tornado" rất giống nhau, ở điểm cả hai đều chiếm lấy căn nhấ Chưa bao giờ mà Trần Thanh lại cảm thấy thấm thía cái câu so sánh đó như bây giờ.
Nghỉ việc, Trần Thanh quyết định dọn sang tiểu bang khác. Gã chọn một tiểu bang hẻo lánh nhà quê miền Nam nước Mỹ, tiểu bang có ít người Việt Nam sinh sống. Gã quyết định đi biệt tăm, để chôn vùi quá khứ đau thương. Vùng đất mới gã vừa chọn đến là thành phố Huntsville, tiểu bang Alabama. Ở lứa tuổi 40, một lần nữa, Trần Thanh bắt buộc phải làm lại từ đầu. Gã xin một chân lái máy bay trực thăng trong sở cảnh sát địa phương. Với kinh nghiệm sẵn có, Trần Thanh nhận được công việc này dễ dàng. Và suốt 7 năm trời qua, Trần Thanh đóng vai trò một người bạn dân. Bảy năm liền gã được tuyên dương là phi công giỏi nhất trong đội tuần tra trực thăng của sở cảnh sát. Lý do cũng dễ hiểu thôi, vì gã là viên phi công duy nhất trong đội tuần tra này. Giờ đây ngỏ ngách nào mà gã không biết. Thậm chí gã còn quen thuộc từng khu vực thám thính, gã biết rõ địa phận nào nằm trong phạm vi kiểm soát của ra-đa cảnh sát và địa phận nào thì không.
Dòng đời tiếp tục êm trôi. Hàng ngày cảnh sát viên Trần Thanh lái trực thăng tuần tiễu vùng cực Bắc tiểu bang Alabama. Ngày tháng chồng chất lên nhau. Tuổi đời tăng nhanh. Càng về già Trần Thanh càng bị mảnh lực của đồng tiền chi phối. Gã ngẫm nghĩ, năm nay gã cũng đã 47 tuổi rồi còn gì, chỉ còn vài năm nữa là đến tuổi hưu trí. Cứ theo cái đà này thì đến khi về hưu gã cũng chẳng có gì là dư giả. Tiền tiết kiệm trong chương mục và tiền hưu trí chỉ đủ cho gã tiêu xài một cách khiêm tốn cho đến lúc xuống lỗ. Chẳng nhẽ cả đời không hưởng được một phút huy hoàng. Trần Thanh thèm thuồng cái huy hoàng của những kẻ có tiền, những kẻ dám tiêu xài không đắn đo, suy nghĩ. Trần Thanh hiểu rõ muốn có được sự huy hoàng đó bắt buộc phải có một thay đổi trong đời. Làm giàu có nhiều cách khác nhau, nhiều con đường khác nhau có thể dẫn đến đỉnh đài vinh hoa phú quý. Trần Thanh muốn đi con đường ngắn nhất.
Nếu không gặp được Giáo thì ước mơ làm giàu bằng con đường tắt của Trần Thanh có lẽ không bao giờ thành. Hai người quen nhau bằng một sự việc rất tình c Giáo vốn là một du đảng hết thời. Từ ngày bị cảnh sát Cali truy nã, băng đảng của Giáo tan rã, mỗi người mỗi nơi, và cơn gió nào đó đã đưa Giáo về đây không ai biết được. Trần Thanh gặp Giáo cái hôm gã cùng đồng đội đi giải tán một vụ ẩu đả ở quán rượu trong thành phố. Theo lời các nhân chứng thuật lại thì Giáo đã uống say rồi gây sự với những người trong quán. Lúc đầu gặp Giáo, Trần Thanh ghét lắm, gã nghĩ chính những thành phần bất hảo như tên này đã làm mất sĩ diện người Việt Nam. Rồi không hiểu tại sao cuối cùng hai gã đã trở thành đôi bạn chí thân, có lẽ một phần là Giáo lễ phép, biết điều, và chịu khó ngồi nghe Trần Thanh tâm sự những lúc hai thằng ngồi uống.
Một hôm, cách đây nửa năm, trong lúc hai thằng đang ngồi lai rai, Trần Thanh bất chợt hỏi Giáo:
- Có cách nào làm giàu nhanh chóng không mày Giáo?
Giáo bĩu môi:
- Ðược voi đòi tiên. Mày có biết là có nhiều người đang mơ ước có được công việc như của mày không?
Trần Thanh không để ý câu hỏi của Giáo, gã tiếp tục:
- Ước gì không phải đi làm, ở nhà ăn nhậu như vầy mải mà vẫn sống phè phỡn.
- Ðiều đó sẽ không bao giờ xảy ra trên đất nước này.
Giáo nốc một hớp bia dài, nói tiếp:
- Trừ khi mày là trọc phú!
- Ừa, tao muốn có tiền. Có tiền mua tiên cũng được.
- Thì đi làm để dành, bớt xài hoang, tích tiểu thành đại, có ngày sẽ giàu to.
Trần Thanh phì cười:
- Nhưng tao muốn giàu nhanh chóng, tao không thể đợi vài chục năm nữa.
- ÐM! Cứ tiếp tục ngồi đó mà mơ. Muốn giàu nhanh mà không phải đi làm, ngoại trừ đi ăn...
Trần Thanh cắt ngang:
- Sao không mày? Mày không thấy mấy người trúng số à. Một sớm một chiều trở thành triệu phú.
- Ừ, thì mày đi mua vé số đi.
- Tao đã thử rồi. Thậm chí còn đi lên Las Vegas thử thời vận, nhưng tao thấy "be" quá!
Giáo trở lại câu nói bỏ lửng ban nãy:
- Muốn chóng giàu mà không phải làm việc thì chỉ còn có nước đi ăn cướp!
Câu nói đùa của Giáo như một luồng ánh sáng hi vọng, rọi vào đầu của Trần Thanh. Không phải là gã chưa có nghĩ đến chuyện này. Gã không bao giờ quên câu châm ngôn: "Con ơi học lấy nghề cha, một đêm ăn trộm bằng ba năm làm". Qua bên Mỹ này, gã lại nghe thiên hạ kháo nhau rằng: "phi bất lơ (burglar) bất phú!". Con đường ngắn nhất dẫn đến vinh hoa phú quý có lẽ là con đường trộm cướp. Làm trong sở cảnh sát, Trần Thanh biết rõ có nhiều vụ ăn cướp lớn, cỡ bạc triệu, thủ phạm ra đi không để lại một vết tích, sở cảnh sát địa phương phối hợp với cơ quan tình báo liên bang nhưng không tài nào tìm ra manh mối.
Nhiều đêm Trần Thanh nằm chiêm bao thấy mình thực hiện một kế hoạch ăn cướp có vũ trang thật qui mô. Trong giấc mơ, gã lái trực thăng đậu trên nóc nhà của một ngân hàng lớn nhất trong vùng. Gã ra tay nhằm một ngày thứ sáu của tuần lễ lảnh lương và ôm gọn vài triệu đô-la. Sau đó máy bay của gã sẽ bay vào trong rừng, tránh xa tầm kiểm soát của ra-đa. Vào rừng, gã đổi sang chiếc xe hơi đang chờ sẵn và lái đi biệt dạng, không để lại vết tích. Sau đó gã sẽ sang Las Vegas, hay về dưới New Orleans sống một cuộc đời mới với một cái tên mới. Cuộc đời mới khác hẳn cuộc đời gã đang trải; quanh gã lúc nào cũng có những kiều nữ vây chặt, và tiền bạc gã xài như nước, không đắn đo suy tính. Giấc mơ thật đẹp, lúc thức dậy gã cảm thấy tiếc hùi hụi.
Nhưng mơ ước vẫn là ước mơ. Nếu không gặp được Giáo thì có lẽ Trần Thanh không dám nghĩ đến chuyện biến giấc mơ này thành hiện thực. Một mình, đơn thân độc mã làm sao Trần Thanh dám thực hiện ước mơ, nay có thêm Giáo làm bạn đồng thuyền, gã không còn phải chần chờ gì nữa.
Giáo sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng, cũng xuất thân là con nhà lính như Trần Thanh, nhưng gã đến từ bên kia chiến tuyến. Ngày xưa, nếu mà hai người gặp nhau ngoài chiến trường, thì chắc có lẽ một trong hai phải có người gục ngẩ Giáo đi vào bộ đội năm gã 17 tuổi. Ðó là mùa khô 1972, chiến trường miền Nam bỗng dưng trở nên sôi động, khi bọn Mỹ-Ngụy bắt đầu chiến dịch Lam Sơn, càn quét vùng Hạ Lào. Giáo vào bộ đội như bao thanh niên miền Bắc dạo đó, không có sự lựa chọn nào khác. Họ vào B để phục vụ cho một lý tưởng cao cả, mơ hồ!
Trên đường vượt Trường Sơn, đơn vị của Giáo bị bom B52 của đế quốc Mỹ chần ngày đêm. Chưa trực diện với kẻ thù mà phiên hiệu gần bị xóa sổ. Ðồng đội của Giáo lần lượt gục ngã, có người mới buổi sáng còn đang ngồi ăn chung chén canh măng mà chiều nay đã bị pháo của địch vằm nát, banh thây, chỉ còn là một cái xác không hồn. Chứng kiến cảnh hãi hùng đó làm ý chí chiến đấu của Giáo, vốn đã thấp sẵn, nay càng lung lay. Thế là gã đào ngũ, ngược đường về Bắc. Từ đấy trở đi gã vào tù ra khám như cơm bữa. Giáo quan niệm càng mang nặng tội hình sự bao nhiêu thì cơ hội bị đẩy vào B càng ít hơn bấy nhiêu. Gã nhập băng du đảng Hà Nội, quấy làng phá xóm và ăn cướp vặt sống qua ngày. Năm 1980, Giáo theo băng du đảng Nước Cống Hải Phòng vượt biển sang Hồng Kông tỵ nạn. Ðến Hồng Kông, một số bạn bè của gã trong găng đảng tiếp tục nghề cũ, nhập băng cướp địa phương đi đâm thuê, chém mướn. Giáo thì khôn hơn, gã không dại gì chọn Hồng Kông làm quê hương thứ hai. Gã tạm thời giải nghệ, chờ ngày sang Hoa kỳ định cư.
Sang Mỹ, Giáo nhập băng Rồng Ðen của phố Tàu Nữu Ước, sau đó chuyển sang băng Bụi Bolsa của Việt Nam bên Cali, và như kể ở trên, năm 1991 băng đảng của gã tan rã và Giáo trôi dạt về cái xó rừng miền Nam này, làm nghề rửa chén cho một nhà hàng Tàu. Giá như không gặp được Trần Thanh thì có lẽ gã đã yên phận "lái đĩa bay" cho đến già, và chờ ngày gửi nắm xương tàn ở cái tiểu bang nhà quê miền Nam nước Mỹ.
Suốt nửa năm trời qua, hai gã điều nghiên tình thế, chuẩn bị cho chuyến "ăn hàng". Thật ra thì chỉ có Trần Thanh gánh hết, Giáo chỉ xuôi theo, lâu lâu chêm vô vài câu cố vấn, vô thưởng, vô phạt. Ngày mai là giờ hành động, mà nom hai gã rất thản nhiên, vô tư. Chuông đồng hồ treo tường đổ đúng 12 tiếng. Trần Thanh xếp bản đồ lại, quay qua hỏi Giáo:
- Mày còn thắc mắc gì không?
Ðợi Giáo lắc đầu xong, gã nói tiếp:
- Thôi, có gì mai bàn tiếp trước khi ra tay. Hôm nay mình đi ngủ sớm, cần phải dưỡng sức cho ngày mai.
Trần Thanh nói xong vào trong tìm tấm chăn và cái gối, quăng lên trên cái sofa đặt ngoài phòng khách. Gã vào phòng ngủ, đóng sập cửa, tắt đèn và leo lên giường. Nằm trên giường, bây giờ có thời giờ yên tĩnh suy nghĩ gã mới cảm thấy nôn nao, hồi hộp. Gã lăn tới, trở lui, ráng tìm một tư thế thoải mái để đi vào giấc ngủ nhanh chóng nhất. Gã liếc nhìn qua khe cửa, thấy có ánh sáng lâu lâu rít lên lập lòe. Có lẽ Giáo đang hút thuốc ngoài phòng khách, chắc hắn cũng đang mang nặng suy tư như gã. Trần Thanh đoán, đêm nay có thể rất dài.
Một ngày thứ sáu, trời không được tốt cho lắm. Thành phố Huntsville hôm nay bầu trời ảm đạm, mây đen vần vũ, gió rít liên hồi. Theo dự báo thời tiết, hôm nay trời sẽ có giông, nhiệt độ có thể giảm xuống còn 40 độ F; nhiệt độ thật bất thường vào một ngày cuối xuân. Khí hậu thật không lý tưởng tí nào cho những chuyến tập bay phi cơ tư nhân cánh quạt. Trên không phận, ở cao độ dưới 30 nghìn bộ, bình thường nhan nhãn những chiếc máy bay cessna, hôm nay phẳng lặng như t Có lẽ trường dạy bay quyết định đình hoãn những lớp tập bay trong ngày hôm nay.
Trong khi đó, cảnh sát Trần Thanh vẫn tay nắm cần lái, điều khiển chiếc trực thăng bay phần phật trên không phận. Thời tiết xấu của hôm nay không làm thay đổi kế hoạch của bọn gã, thậm chí còn làm gã mừng nữa là khác, vì nó sẽ tạo thêm yếu tố bất ngờ và tiện cho gã tẩu thoát trên không trung. Gã lái chiếc trực thăng rẽ sang hướng khác, thay vì theo lộ trình tuần tiễu hàng ngày. Trên máy truyền thanh có giọng của tổng đài:
- Trung sĩ Trần Thanh, nghe rõ trả lời. Chúng tôi bị mất dấu hiệu của anh trên ra-đa.
Trần Thanh yên lặng không trả lời. Kể từ giờ phút này trở đi, gã sẽ chấm dứt liên lạc với sở cảnh sát. Gã và Giáo sẽ có đúng 15 phút hành động trước khi sở cảnh sát ra lệnh truy tìm. Theo ước tính của gã, 10 phút sau sẽ có báo động về vụ ăn cướp ở nhà băng lớn nhất trong vùng; nhà băng First Alabama. Lúc cảnh sát được điều động đến nhà băng thì bọn gã đã cao chạy, xa bay. Thậm chí nếu cảnh sát đến nơi trước khi bọn gã rời khỏi thì cũng không tài nào đuổi bắt được. Trong sở cảnh sát chỉ có 2 chiếc trực thăng tuần tiễu, và chỉ có Trần Thanh là phi công duy nhất. Sáng hôm nay, trước khi lên đường gã đã phá một vài bộ phận động cơ quan trọng của chiếc trực thăng còn lại cho chắc ăn. Thậm chí nếu sở cảnh sát có điều động máy bay trực thăng của các sở cảnh sát lân cận cũng không tài nào tìm được vì gã sẽ bay vào những vùng ngoài vòng kiểm soát của làn sóng ra-đa sở cảnh sát. Gã sẽ bay vào rừng và chuyển sang xe hơi, và biến vào dòng xa lộ dẫn về New Orleans, và tiếp tục hành trình Tây tiến sang Houston. Nói chung, gã sẽ thực hiện kế hoạch của gã răm rắp lập lại những điều thấy được trong giấc mơ.
Ðặc biệt là trong chuyến ăn cướp này, hai gã sẽ không cần dấu mặt vì trước sau gì sở cảnh sát Huntsville cũng biết thủ phạm là ai. Hai gã sẽ tìm đến một thẩm mỹ viện Việt Nam bên Houston để sửa lại khuôn mặt hoàn toàn. Ðiều này rất dễ thực hiện vì hai gã vốn xấu xí sẵn, do đó việc cắt thêm mí mắt, sửa mũi cao hơn, chẻ cằm ra, lột da mặt, cấy tóc, vân vân, đều cần thiết. Bác sĩ thẩm mỹ sẽ rất bận rộn, và kết quả đem lại sẽ là hai khuôn mặt hoàn toàn mới lẫ Có lẽ sẽ tốn rất nhiều tiền để tân trang hai cái dung nhan mùa hạ này, nhưng đây là chuyện nhỏ vì tiền bạc lúc đó sẽ không thành vấn đề với 2 tân triệu phú. Còn về việc giấy tờ tùy thân, cũng không phải lo. Tháng trước, Giáo đã liên lạc với đàn em ở băng đảng Rồng Ðen, chạy được 2 tấm căn cước của 2 tên du đảng người Mỹ gốc Hoa bị thanh trừng trong một vụ buôn bán á phiện.
Trần Thanh đến điểm hẹn, một bãi đất trống trong nghĩa địa Huntsville, nơi có Giáo đang chờ sẵn. Trần Thanh cho trực thăng bay lơ lửng, bụi cỏ lau chung quanh mấy ngôi mộ nằm rạp xuống đất vì sức ép từ cánh quạt trực thăng. Giáo bám lấy cái càng trực thăng, thót mình lên thật gọn. Sau khi yên vị, gã moi ra trong sắc cốt hai khẩu súng máy UZI 9 ly, khoe với Trần Thanh. Trần Thanh nhìn khẩu súng, xong nhìn lên Giáo, rồi gật đầu một cái nhẹ, không nói gì. Khuôn mặt của Trần Thanh đầy vẻ nghiêm trọng, cực kỳ căng thẳng.
Hai phút sau. Chiếc trực thăng đổ ngay trên tầng lầu thượng của ngân hàng First Alabama. Trần Thanh để máy nổ. Hai gã nhảy thót xuống thật gọn và nai nịt súng ống sẵn sàng. Hôm nay cả hai mặc toàn đồ đen bó sát mình, nom không khác nào hai võ sĩ "ninja". Theo kế hoạch, Trần Thanh sẽ đu dây xuống dưới tầng trệt của ngân hàng, trong khi đó Giáo sẽ đi theo đường thang máy từ lầu 15 xuống lầu một để khai thông đường rút lui. Trần Thanh móc sợi dây leo núi vào trong trấu, gã giơ tay ra hiệu với Giáo trước khi tuột xuống thật nhanh. Giáo gật đầu và biến nhanh vào lối thang máy.
Ðến tầng chót, Trần Thanh đạp mạnh vào lớp tường kiếng, dùng súng máy bắn vỡ cánh cửa kiếng và nhanh tay cắt đứt sợi dây thừng. Theo đà, gã văng vào bên trong một khoảng khá sâu.
Gã đứng dậy, thấy Giáo đã đứng đó chờ sẵn. Tên an ninh ngân hàng đã bị tước đoạt vũ khí, hai tay chắp đằng sau ót, mặt áp xuống đất. Tất cả những người còn lại cũng cùng chung một tư thế; quỳ hoặc nằm sấp.
Trần Thanh bắn một tràng dài súng máy chỉ thiên để ra vẻ thị uy. Gã hét lớn bằng tiếng Anh của 17 năm tỵ nạn:
- Quý vị yên tâm, chúng tôi có mặt ở đây không phải để cướp tiền của quý vị, vì tiền của quý vị đã được sở ngân khố liên bang bảo đảm rồi. Chúng tôi chỉ muốn cướp tiền của nhà băng mà thôi.
Trần Thanh vừa nói vừa tiến vào hộp sắt đựng tiền. Gã đi đến nắm đầu tên quản lý, người duy nhất trong nhà băng này biết mã số mở khóa. Trần Thanh không nói không rằng, móc ra cây súng lục, chĩa vào màng tang của hắn, và rít lên từng tiếng chắc nịch:
- Mày muốn sống khôn hay chết ngu?
Tên quản lý sợ chết, vội la lớn lên:
- Ðể tôi mở!
Thành công bất ngờ ngoài dự định của Trần Thanh. Theo kế hoạch vạch sẵn, có hai giải pháp; một là uy hiếp tinh thần của tên quản lý, nếu không được, giải pháp thứ hai là dùng lựu đạn phá banh két tiền. Không ngờ giải pháp thứ nhất thành công dễ dàng.
Tên quản lý run bần bật từng cơn, mấy ngón tay của hắn gõ nhịp liên hồi lên trên ổ khóa, loay hoay mãi không mở được. Trần Thanh đâm cáu, hét lớn lên:
- Godamnit! Thằng nhát cáy, tránh ra! Ðọc cho tao mã số để tao tự mở - Trần Thanh nói, tay trái vẫn không rời khẩu súng lục đang kê trên một bên thái dương của tên quản lý.
Tên quản lý run run giọng:
- 15 trái... 27 phải... và 7 trái...
Tủ sắt được mở tung ra. Bên trong một màu xanh tươi mát hiện lên, làm Trần Thanh muốn hoa cả mắt. Từng cọc giấy 100 đô được nén thành từng chồng. Trần Thanh ước chừng ít nhất cũng vài triệu đô-la. Gã lấy dao rọc lớp giấy ny-lông, rồi lùa hết vào 2 bao tải. Xong, gã kéo phẹc-mơ-tuya lại, xốc mạnh một bao đeo lên vai, bao còn lại gã đặt xuống đất và đạp mạnh về phía Giáo. Gã chĩa khẩu UZI lên trời, khạc một tràng liên thanh xong, hét lên:
- Tất cả cúi mặt xuống đất và đếm từ một cho đến 60. Người nào muốn ăn kẹo đồng thì cứ việc ngóc đầu lên.
Tất cả nghe vậy vội đồng thanh:
- One thousand one, one thousand two,...
Trong khi đó Trần Thanh và Giáo rút êm theo lối cửa hậu. Gã không quên khóa chặt chốt từ bên trong, trước khi leo lên thang máy dẫn lên sân thượng.
Khoảng 15 giây sau đó, hai cái bóng đen tung nóc cửa tầng lầu thượng chui lên. Trên vai hai gã là hai cái túi đen to lớn và nặng trĩu. Hai cái bóng đen nhảy thót lên trên chiếc trực thăng nổ máy chờ sẵn. Chiếc trực thăng lảo đảo nhấc bỗng lên cao, nghiêng đầu về phía trước, và bay vù đi. Xa xa, bên dưới, trên những con đường của thành phố Huntsville, từng đoàn xe cảnh sát hụ còi inh ỏi, đèn xanh đèn đỏ chớp nháy liên hồi. Tất cả đều trực chỉ về hướng nhà băng First Alabama.
Chiếc trực thăng lủi sâu vào trong khu rừng dầy đặc của tiểu bang Mississippi, và biến đi mất dạng, không để lại một vết tích.
Bùi Thanh Liêm
Tháng Tư, 1997