KIẾN THỨC CƠ SỞ
KIẾN THỨC CƠ SỞ
NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Thị trường chứng khoán là gì?
Hiểu một cách đơn giản, thị trường chứng khoán là nơi mọi người mua-bán chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Bất kể nhà tạo lập, cá mập hay nhà đầu tư cá nhân cũng là một chủ thể trên thị trường và đều là người mua - người bán. Tại VN hiện có 3 sàn chứng khoán là sàn HSX (HOSE), HNX và UPCOM.
Luật T+3 của thị trường chứng khoán cơ sở VN.
Với chứng khoán cơ sở, NĐT mua CP thì tới ngày T+3 mới được quyền bán CP đó. Ví dụ NĐT mua CP vào ngày thứ 2 thì tới ngày thứ 5 NĐT mới được quyền bán CP đã mua. Về luật T+3 thì tùy góc độc từng NĐT sẽ thấy nó có lợi hoặc không có lợi. Với chứng khoán phái sinh VN NĐT có thể đóng vị thế bất kỳ khi nào.
Cơ chế khớp lệnh và giao dịch
Các loại khớp lệnh
a. Khớp lệnh định kỳ là phương thức giao dịch được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán tại một thời điểm xác định, để tìm ra mức giá mà tại đó khối lượng giao dịch là là lớn nhất. Khớp lệnh định kỳ thường được các sở giao dịch chứng khoán sử dụng để xác định giá mở cửa và đóng cửa.
Các loại lệnh giao dịch:
– Lệnh giới hạn (LO)
+ Là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn.
+ Hiệu lực: kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến lúc kết thúc ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ.
– Lệnh ATO/ ATC:
+ Là lệnh mua hoặc lệnh bán CK tại mức giá mở/ đóng cửa.
+ Lệnh được ưu tiên trước lệnh giới hạn khi so khớp lệnh.
+ Hiệu lực: Lệnh không khớp, hay phần lệnh không khớp sẽ tự động bị hủy bỏ
b. Khớp lệnh liên tục
Là phương thức giao dịch được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch.
Nguyên tắc khớp lệnh:
– Ưu tiên về giá
+ Lệnh mua có mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện trước.
+ Lệnh bán có mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước
– Ưu tiên về thời gian
+ Trường hợp các lệnh có cùng mức giá thì lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
Các loại lệnh giao dịch:
– Lệnh giới hạn (LO):
+ Theo nguyên tắc khớp lệnh, đồng thời giá khớp lệnh là giá đã nhập vào hệ thống trước.
– Lệnh thị trường (MP):
+ Là lệnh mua tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường.
+ Nếu khối lượng đặt lệnh MP chưa thực hiện hết, MP sẽ xét tiếp mức giá bán cao hơn (nếu là lệnh mua) hoặc mức giá mua thấp hơn (nếu là lệnh bán).
+ Nếu xét theo nguyên tắc trên mà khối lượng lệnh MP vẫn còn (không thể tiếp tục khớp) thì lệnh MP sẽ tự động chuyển thành lệnh LO mua/bán tại mức giá cao/thấp hơn một bước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó.
Giao dịch thỏa thuận
Giao dịch thỏa thuận là những giao dịch do các nhà đầu tư hay các thành viên tự thỏa thuận với nhau về giá cả và khối lượng. Giá thỏa thuận phải nằm trong biên độ dao động giá tại ngày giao dịch.
Giá và biên độ biến động giá
Margin - Đòn bẩy tài chính
Margin hiểu đơn giản là việc NĐT sử dụng vốn vay để mua được nhiều cổ phiếu hơn. Ví dụ cp VCB đang có thị giá là 100K, NĐT có 100tr, tỷ lệ margin là 50%, nếu không dùng margin thì NĐT chỉ mua được 1000 cp VCB, nếu dùng margin NĐT sẽ mua được 2000 cp VCB. NĐT sẽ phải trả lãi cho khoản vay này, nếu như thị giá của VCB giảm tới các ngưỡng nhất định thì công ty chứng khoán sẽ gửi thông báo call margin cảnh báo NĐT, nếu NĐT không nộp thêm tiền ký quỹ hoặc cp VCB tiếp tục giảm tới một ngưỡng khác gọi là ngưỡng force sell thì cty chứng khoán sẽ tự động bán cp của NĐT để đảm bảo an toàn cho khoản vốn cho vay. Các công ty chứng khoán sẽ cấp margin với từng cổ phiếu, mỗi công ty có chính sách quản trị rủi ro khác nhau nên tỷ lệ cấp margin cũng có thể sẽ khác nhau.
Cổ tức và cổ phiếu phát hành
Cổ tức là phần lợi tức mà doanh nghiệp chia cho người nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp (cổ đông) khi doanh nghiệp làm ăn có lãi. Cổ tức có thể được trả bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu. Về mặt khái niệm thì cổ tức có lợi cho những cổ đông mua nắm giữ cổ phần trong dài hạn. Về mặt "toán học" thì việc NĐT mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để nhận cổ tức trong ngắn hạn tại một thời điểm nào đó hoàn toàn không có thêm bất kỳ lợi ích gì về mặt tiền bạc (tổng tiền không thay đổi khi nhận cổ tức), thậm chí còn gặp bất lợi khi cổ tức bị tính thuế thu nhập. Đối với cổ tức bằng cổ phiếu nhà đầu tư sẽ không có quyền mua bán phần cổ tức nhận được trong ngắn hạn mà phải chờ "cổ tức về" mới có thể mua bán được.
Cổ phiếu phát hành cũng tương tự như cổ tức, chỉ có tác dụng với nhà đầu tư lớn, đầu tư chiến lược của doanh nghiệp cần mua lượng lớn cổ phiếu và nắm giữ dài hạn. Với NĐT cá nhân cổ phiếu phát hành cũng không đem lại bất kỳ khoản lợi ích nào về mặt tiền bạc (tổng tiền không thay đổi) trong ngắn hạn. Thậm chí NĐT còn bị thiệt về giá trị tài sản khi phải nộp 5% thuế thu nhập khi nhận cổ tức, NĐT ngắn hạn có thể lựa chọn mua cổ phiếu sau ngày đăng ký cuối cùng để có quyền mua bán linh hoạt chỉ sau T+3.
Khi DN chia cổ tức hoặc phát hành thì thị giá của cp trên thị trường sẽ điều chỉnh, vì vậy tổng giá trị vốn hóa của DN trên thị trường là không thay đổi, tiền của NĐT cũng không thay đổi. Nếu NĐT không muốn nhận cổ tức, cp phát hành thêm thì phải bán trước ngày GDKHQ (tức là ngày đăng ký cuối cùng). Công thức tính thị giá điều chỉnh:
Ví dụ: Cách tính giá điều chỉnh khi trả cổ tức tổng quát
Cổ tức bằng tiền: 20% (tương đương với 2.000 VNĐ) => C = 2.000
Cổ tức bằng cổ phiếu: 100:20 (tương đương 20%) => b = 20%
Thưởng bằng cổ phiếu: 100:30 (tương đương 30%) => b = 30%
Quyền mua cổ phiếu ưu đãi 5:2 (tương đương 40%) giá 60.000 VNĐ)
Áp dụng:
P’ = (P + Pa x a – C)/ (1 + a + b) = (150.000 + 60.000 x 40% – 2.000) / (1 + 40% + 20% + 30%) = 90.500 đồng.