Tam thất
(Panax pseudoginseng Wall)
(Panax pseudoginseng Wall)
Sâm tam thất, Nhân sâm Tam thất, Kim bất hoán, Panax notoginseng Burk, họ Ngũ gia bì (araliaceae), cây thân thảo, sống lâu năm; gọi Nhân sâm Tam thất vì nó bổ như Nhân sâm; gọi Kim bất hoán vì là vị thuốc quý, vàng không đổi, còn chữ Tam thất có thể hiểu là lá kép có từ 3 đến 7 lá chét hoặc 3 năm ra hoa, 7 năm thu hoạch mới được củ tốt.
Tam thất được trồng tại Trung Quốc. Nơi trồng và sản xuất chính cây tam thất là huyện Văn Sơn, Nghiên Sơn, Tây Trù, Mã Quan, Phú Ninh, Quảng Nam tỉnh Vân Nam; vùng Điền Dương trong chuyên khu Bạch Sắc, các huyện Tĩnh Tây, Đức Bảo, Lục Biên (khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây). Ngoài ra còn được trồng tại các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây. Cây tam thất đã được di thực trồng ở nước ta vào những năm 1960 - 1970 tại các vùng núi cao thuộc (Hà Giang), Sapa (Lao Cai) và các tỉnh Cao Bằng, Lai Châu...
Tam thất trồng từ 3 đến 7 năm mới thu hoạch rễ củ để làm thuốc.
Đào rễ củ về, rửa sạch đất cát, cắt tỉa rễ con, phơi hay sấy đến gần khô, lăn xoa nhiều lần cho khô.
Rễ củ tam thất vị đắng ngọt, tính ấm vào 2 kinh can và vị. Có tác dụng bổ huyết, cầm máu, giảm đau, tiêu ứ huyết. Theo Dược điển Việt Nam, tam thất dùng trị thổ huyết, băng huyết, rong kinh, sau khi đẻ huyết hôi không ra, ứ trệ đau bụng, kiết lỵ ra máu, lưu huyết, tan ứ huyết, sưng tấy, thiếu máu nặng, người mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ít ngủ.
Theo tài liệu nước ngoài, tam thất có tác dụng giúp lưu thông tuần hoàn máu, giảm lượng Cholesterol trong máu, hạ đường huyết, kích thích hệ miễn dịch, ức chế vi khuẩn và siêu vi khuẩn, chống viêm tấy giảm đau... được dùng trong các trường hợp huyết áp cao, viêm động mạch vành, đau nhói vùng ngực, đái tháo đường, các chấn thương sưng tấy đau nhức, viêm khớp xương đau loét dạ dày tá tràng, trước và sau phẫu thuật để chống nhiễm khuẩn và chóng lành vết thương, chữa những người kém trí nhớ, ăn uống kém, ra mồ hôi trộm, lao động quá sức.
Gần đây, tam thất được dùng trong một số trường hợp ung thư (máu, phổi, vòm họng, tiền liệt tuyến, tử cung, vú) với những kết quả rất đáng khích lệ. Một số bị huyết áp thấp do thiếu máu nặng cũng dùng tam thất được.
Phụ nữ có thai không được uống tam thất.
Chưa có tài liệu nào nói đến việc dùng hoa tam thất nhưng có thể dùng hoa tam thất như một loại trà. Khả năng chống bệnh cao huyết áp của hoa tam thất cũng chưa được chứng minh.
Cần phân biệt một số cây có tên là "tam thất" hoặc các cây lấy củ giả làm tam thất để bán ngoài thị trường: