Xuất tinh sớm
(Tảo tiết)
(Tảo tiết)
Một cuộc giao hợp được coi là trọn vẹn đạt được "cực khoái" cho cả nam và nữ cũng phải vừa đủ thời gian nhất định. Nếu nam giới xuất tinh sớm đồng nghĩa với người phụ nữ chưa đạt được khoái cảm. Đây là điều tế nhị trong quan hệ vợ chồng và cũng nhiều bi kịch từ đó mà ra, nhưng ở Việt Nam căn bệnh này cũng chưa được quan tâm đúng mức trong cộng đồng.
Do tính phổ biến của nó cũng như vai trò của nó trong sự hòa hợp của cuộc sống lứa đôi. Tôi xin đề cập một số phương pháp điều trị xuất tinh sớm bằng y học cổ truyền.
Xuất tinh sớm là một bệnh rối loạn tình dục ở nam giới y học cổ truyền gọi là bệnh "Tảo tiết""Tảo tiết" là hiện tượng xuất tinh quá sớm, khiến cho chuyện "phòng sự" diễn ra ngắn, chưa đủ "thời lượng" để đạt tới trạng thái khoái cực.
"Tảo tiết" và "di tinh" không giống như nhau: Di tinh là xuất tinh khi không giao hợp còn tảo tiết là mới bắt đầu giao hợp đã xuất tinh. Tảo tiết và dương nuy (liệt dương) có liên quan mật thiết với nhau. Tảo tiết có thể là những dấu hiệu sớm của dương nuy; dương nuy thường do tảo tiết phát triển thành. Nguyên nhân, bệnh lý và phương pháp chữa trị dương nuy và tảo tiết có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên, những biểu hiện lâm sàng và cách chữa trị cụ thể cũng có những khác biệt nhất định.
Theo Đông y (YHCT), Tảo tiết liên quan mật thiết với tạng Thận; còn liên quan tới các tạng Tâm, Can và Tỳ. Thận chủ quản bộ máy sinh dục, có chức năng "tàng tinh" (cất giữ tinh) và tiết tiết sự đóng mở của "tinh quan" (cửa tinh, cơ chế phóng tinh). Khi Thận âm và Thận dương cân bằng, thì tinh dịch "tiết" và "tàng" một cách bình thường: Cần tiết thì tiết, cần tàng thì tàng. Khi Thận âm và Thận dương bị mất cân bằng, sự đóng mở "tinh quan" bị rối loạn và thành tảo tiết.
Trên lâm sàng thường phân ra các loại hình như sau để tiến hành biện chứng luận trị.
1. Âm hư hỏa vượng
Triệu chứng: Xuất tinh quá sớm, tính dục càng tiến quá mức bình thường, kèm theo các chúng trạng như gò má ửng hồng, đầu choáng mắt hoa, đêm ngủ ra nhiều mồ hôi (đạo hãn), lòng bàn chân bàn tay nóng, miệng khát, nước tiểu vàng, tinh thần uể oải, đuối sức, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch tế xác.
Điều trị: Tư âm, thanh hỏa, an thần, cố tinh.
Dùng bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn gia giảm: Thục địa, hoài sơn, sơn thù, đơn bì, trạch tả, phục linh, tri mẫu, hoàng bá, ngưu tất, ngũ vị, long cốt, mẫu lệ, khiếm thực, liên nhục, toan táo
Sắc nước uống trong ngày.
Đồ uống: Đậu đen: Dùng đậu đen sao qua đun nước uống hàng ngày có tác dụng dưỡng âm thanh hoả dùng trị tảo tiết âm hư hoả vượng
2. Kinh can bị thấp nhiệt ứ đọng
Triệu chứng: Tảo tiết, tính dục càng tiến quá mức bình thường, kèm theo các triệu chứng khác như miệng đắng, phiền muộn, bộ phận sinh dục sưng thũng và ngứa, tiểu vàng đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày, mạch huyền sác.
Phép chữa: Thanh can tả nhiệt. Tùy từng giai đoạn mà chọn dùng bài thuốc thích hợp.
Thời kỳ đầu tiên nên dùng bài thuốc:
Long đởm tả can thang: Long đởm thảo 8g, hoàng cầm 8g, chi tử 8g, trạch tả 12g, Ý dỹ 12g, xa tiền tử 8g, đương quy 12g, sinh địa 16g, sài hồ 8g, cam thảo 6g. Sắc nước uống ngày 1 thang.
Thời kỳ sau dùng bài thuốc:
Điều trị: Thanh nhiệt hóa thấp.
Dùng bài Nhị Diệu Tán: Tỳ giải 12g, ý dỹ 16g, ngưu tất 12g, Bạch mao căn 12g, Hoài sơn 12g, Thương truật 8g, hoàng bá 6g, Tri mẫu 8g, Khổ sâm 12g, mẫu lệ 16g, Sơn thù 12g. Sắc nước uống ngày 1 thang.
3. Tâm tỳ lưỡng hư
Triệu chứng: Tảo tiết, tính dục lãnh đạm, kèm theo: nét mặt không tươi, thân thể uể oải, đuối sức, tim đập loạn nhịp (tâm quý), hay quên (kiện vong), hay ngủ mê, mồ hôi ra nhiều (tự hãn), kém ăn, lưỡi nhạt, mạch tế.
Phép chữa: Bổ ích Tâm tỳ
Bài thuốc: Quy tỳ thang gia giảm:
Hoàng kỳ 12g, Đảng sâm 12g, Phục linh 8g, bạch truật 12g, Đương quy 12g, long nhãn 10g, viễn chi 8g, Liên nhục 12g, Hoài sơn 12g, Khiếm thực 16g, Mẫu lệ 16g, Long cốt (sắc trước) 10g, cam thảo 6g. Sắc nước uống trong ngày.
Món ăn: Chè Củ súng, Hạt sen, Long nhãn: Củ súng (tươi càng tốt) , Hạt sen, Long nhãn lượng bằng nhau thêm đường nấu thành chè để ăn.
4. Thận khí hư tổn
Triệu chứng: Tảo tiết, tính dục lãnh đạm, lưng đau gối mỏi, tinh thần ủy mị, dễ vã mồ hôi, tiểu tiện trong dài, mạch trầm nhược, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng.
Có thể dùng bài thuốc: Tế sinh chủng tinh hoàn gia giảm:
Thỏ ti tử 10g, Cửu thái tử (hạt hẹ) 10g, Tang phiêu tiêu 10g, Kim anh 12g, Phúc bồn tử 12g, Hồ đào nhục 12g, Thục địa 16g, Sa uyển tử 10g, Long cốt 20g, Mẫu lệ 20g, Liên tu 8g, Ngũ vị tử 6g. Sắc nước uống trong ngày.
Trường hợp bệnh không trầm trọng, có thể áp dụng một số cách sau:
Cháo khiếm thực: Khiếm thực 60g (nấu chín, bóc vỏ, tán thành bột mịn), gạo tẻ 90g. Trước hết lấy gạo nấu cháo, khi cháo gần chín cho thêm bột khiếm thực, nấu đến khi cháo chín là được.
Khiếm thực còn gọi là "kê đầu thực", vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ thận ích tinh. Dùng trong trường hợp tinh quan không vững, dẫn đến di tinh, mộng tinh và tảo tiết. Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, cháo khiếm thực có tác dụng chữa di tinh và tảo tiết khá tốt.
Cháo rau hẹ: Gạo tẻ 50g, hẹ (củ và lá) 20g. Rửa sạch hẹ, thái thành từng đoạn ngắn. Lấy gạp nấu cháo như bình thường, khi cháo nấu chín cho hẹ vào đun thêm một chút nữa là được. Nếu dùng hạt hẹ thì tác dụng càng tốt.
Có tác dụng bồi bổ cơ thể, ấm thận, tráng dương, chữa tảo tiết.
Rượu nhung hươu: Nhung hươu 3-6g, sơn dược 30-60g, rượu trắng 500ml. Nhung hươu và sơn dược ngâm trong rượu 7 ngày là dùng được. Mỗi lần uống 1 chén con.
Tác dụng: Bổ thận ích tinh, chữa tảo tiết. Nhung hươu là loại thuốc tráng dương thuộc loại tốt nhất, ngâm với rượu tác dụng bổ thận khí càng mạnh. Lại thêm sơn dược có tác dụng kiện tỳ điền tinh, nên kiến hiệu càng rõ ràng. Phàm người thận dương bất túc, tinh khí hàn lãnh, khí hóa thất thường dẫn tới bụng dưới lạnh đau, âm nang lạnh ẩm, dương nuy tảo tiết, đái đêm nhiều, nên thường uống rượu này.