Di mông tinh
(Mộng di, Hoạt di)
(Mộng di, Hoạt di)
Nam giới đến tuổi trưởng thành, khoảng vài tuần lại di mộng tinh một lần là hiện tượng bình thường nếu như không xuất hiện nhiều hoặc không kèm theo triệu chứng khác như: váng đầu, mỏi mệt, tim đập nhanh v.v.
Di tinh mỗi tuần lễ hai lần trở lên, hoặc khi tỉnh dậy thấy tinh dịch chảy ra, đó mới là bệnh.
Di tinh và mộng tinh có thể xảy ra nhiều hơn ở nam giới độ tuổi dậy thì. Đây là một cơ chế giải phóng tinh dịch khi không có thủ dâm hoặc quan hệ tình dục
Di mộng tinh là 2 chứng bệnh:Mộng tinh (Mông di) là hiện tượng xuất tinh của nam giới vào lúc ngủ có kèm hoặc không kèm theo việc chiêm bao thấy kích thích tình dục hoặc quan hệ tình dục. Các từ lóng giấc mơ ướt, đêm mơ thấy…thác đổ, bắn máy bay đêm thường để chỉ Mộng di. Di tinh là hiện tượng tinh dịch chảy ra ngoài ở nam giới mà không có kích thích tình dục hoặc sự cương cứng của dương vật. Di tinh có thể xảy ra trong lúc ngủ gọi là mộng di hoặc lúc
thức (lúc tiểu tiện hoặc đại tiện) gọi là Hoạt di.
Mộng di và hoạt di khác nhau nhưng cơ chế sinh bệnh là một nên YHCT gọi là Di mộng tinh
Đa số do âm hư hỏa vượng và Thận hư không bền chặt, cũng có thể do thấp nhiệt hạ chú gây nên.
Di tinh có thể chia ra làm 3 thể bệnh:
1. Âm Hư Hỏa Vượng:
Âm dịch bất túc thì sinh nội nhiệt, nhiệt quấy rối tinh thất, do đó phát sinh di tinh. Nguyên nhân phát sinh âm hư nội nhiệt, hoặc là do phiền lao quá mức, âm huyết hao tổn ngấm ngầm, hoặc là do vọng tưởng nghĩ ngợi nhiều, buông thả tình dục làm thương tổn Thận âm.
2. Thận Hư Không Bền:
Thủ dâm, tảo hôn, hoặc do phòng sự quá mức làm tổn hại Thận tinh, Thận đã không chứa tinh, cửa tinh không bền gây nên di tinh.
3. Thấp Nhiệt Nung Nấu Bên Trong:
Ăn uống không điều độ làm tổn hại Tỳ Vị, thấp nhiệt từ trong sinh ra, thấp nhiệt dồn xuống quấy rối tinh thất gây nên di tinh.
Biện chứng di tinh cần chú ý hai phương diện Nhiệt và Hư.
Đơn thuần là Hư không thấy nhiệt, đa số do Thận hư không bền, điều trị chủ yếu phải bổ Thận cố tinh. Nếu vừa có hư lại có nhiệt, đa số do âm hư hỏa vượng, điều trị chủ yếu phải tư âm thanh hỏa. Nếu là thấp nhiệt ở bên dưới, chủ yếu phải thanh nhiệt hóa thấp.
Còn mộng tinh với hoạt tinh, có thuyết cho rằng ngủ mà mơ rồi xuất tinh là bệnh ở Tâm, không mơ mà vẫn xuất tinh là bệnh ở Thận, tuy không thể phân loại một cách máy móc, nhưng đa số nhận định rằng mơ rồi xuất tinh thường gặp ở loại âm hư hỏa vượng; không mơ mà xuất tinh thường gặp ở loại Thận hư không bền.
1. Âm Hư Hỏa Vượng:
Triệu chứng: Ngủ không yên, mơ nhiều, dễ tỉnh giấc, dương vật dễ cương, mộng, di hoặc tảo tiết tinh, choáng váng, tim đập nhanh, tinh thần mỏi mệt, chất lưỡi đỏ nhiều, mạch Tế Sác.
Chứng này do Tâm Thận âm khuy, hư hỏa thiên vượng gây nên. Giấc ngủ không yên, dương vật dễ cương, mộng di, chất lưỡi đỏ là dấu hiệu chủ yếu, âm dịch bất túc thì sinh nội nhiệt, nhiệt quấy rối tinh thất, do đó phát sinh di tinh.
Nguyên nhân phát sinh âm hư nội nhiệt, hoặc là do phiền lao quá mức, âm huyết hao tổn ngấm ngầm, hoặc là do vọng tưởng nghĩ ngợi nhiều, buông thả tình dục làm thương tổn Thận âm.
Điều trị: Tư âm, thanh hỏa, an thần, cố tinh.
Dùng bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn gia giảm: Thục địa, hoài sơn, sơn thù, đơn bì, trạch tả, phục linh, tri mẫu, hoàng bá, toan táo, ngũ vị, long cốt, mẫu lệ
(Trong bài có Tri mẫu, Hoàng bá, Sinh địa, Đơn bì để tư âm thanh hỏa, thêm Táo nhân, Ngũ vị tử, Long cốt, Mẫu lệ để an thần cố tinh).
Nếu bệnh lâu ngày không khỏi, lại thêm Kim anh tử, Khiếm thực để bổ Thận sáp tinh.
2. Thận Hư Không Bền:
Thận suy di tinh, đa số là hoạt tinh, hoặc cùng xuất hiện cả hoạt tinh và mộng tinh. Chóng mặt ù tai, mỏi lưng tinh thần uể oải, sắc mặt kém tươi, mạch Tế là dấu hiệu chung của Thận suy. Sắc mặt trắng xanh, sợ lạnh, tay chân lạnh, chất lưỡi nhạt, mạch Trầm Tế là Thận dương suy; Lưỡi đỏ tróc rêu, mạch Tế Sác là Thận âm suy.
Triệu chứng: Luôn luôn bị mộng tinh, hoạt tinh, chóng mặt, ù tai, mỏi lưng, tinh thần uể oải hoặc sắc mặt xanh nhợt, sợ lạnh, tay chân lạnh, chất lưỡi nhạt, mạch Trầm Tế, hoặc lưỡi đỏ tróc rêu, mạch Tế Sác. Do thủ dâm, tảo hôn, hoặc do phòng sự quá mức làm tổn hại Thận tinh, Thận đã không chứa tinh, cửa tinh không bền gây nên di tinh.
Điều trị: Bổ Thận cố tinh.
Dùng bài Đại Bổ Âm Tiễn hợp với Kim Tỏa Cố Tinh Hoàn.
Nếu Thận âm thiên suy, có thể thêm Sinh địa, Mạch đông.
Nếu Thận dương thiên suy có thể thêm Ba kích, Tỏa dương.
Hoặc bài: Thục địa, hoài sơn, sơn thù, kim anh, phá cố, ích trí, thỏ ty, hồ đào, phúc bồn, khiếm thực, mẫu lệ, ngũ vị, ngưu tất
3. Thấp Nhiệt hạ chú:
Triệu chứng: Thấp Nhiệt Nung Nấu Bên Trong: Di tinh không cầm, miệng đắng hoặc khát, nước tiểu nóng đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Nhu Sác.
Thấp nhiệt dồn xuống làm cho tinh thất bị xáo trộn, cho nên vừa di tinh vùa có chứng tiểu tiện nóng đỏ. Thấp nhiệt nung đốt phía trên, cho nên đắng miệng và khát nước. Rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Nhu Sác, đều là dấu hiệu Thấp nhiệt. Ăn uống không điều độ làm tổn hại Tỳ Vị, thấp nhiệt từ trong sinh ra, thấp nhiệt dồn xuống quấy rối tinh thất gây nên di tinh.
Điều trị: Thanh nhiệt hóa thấp.
Dùng bài Nhị Diệu Tán: Tỳ giải, ý dỹ, hoàng bá, Tri mẫu, Khổ sâm, Bạch mao căn, ngưu tất, mẫu lệ, Hoài sơn, Bạch truật
Lưu ý: Điều trị di tinh, ngoài việc dùng thuốc, nên loại trừ tâm lý sợ sệt, tham gia rèn luyện thể lực thích hợp. Ngoài ra, khi ngủ nên nằm ngửa, hai chân nên giữ cho ấm áp.