Bệnh vẩy nến
(Psoriasis)
(Psoriasis)
Bệnh vẩy nến (Psoriasis) được biết đến từ thời thượng cổ và là một trong những bệnh da rất hay gặp ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới. Theo thống kê, tỷ lệ bệnh vẩy nến khác nhau tùy từng vùng, từng châu lục, song nó dao động trong khoảng 1-3% dân số. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa. Bệnh vẩy nến được YHCT mô tả rất sớm, cùng ra đời với nạn nội kinh là những bệnh danh "Ngân tiết bệnh, Tùng bì tiên, Ngưu bì tiên" trong "Bì phu bệnh" nghĩa là chứng ngứa, sẩn ở da. Theo y lý cổ truyền là bệnh mãn tính, tái phát liên tục, đa phần phát sinh ở tứ chi, mặt bên đùi, đầu gối, cẳng chân, mặt ngoài tay, chân và vùng đầu. Tổn thương chủ yếu là những sẩn cộm kiểu đốm, đám hoặc mảng, đỏ hoặc trắng mốc như sáp nến và ngứa.
Theo Y học hiện đại
Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết chắc chắn 5 yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:
Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp.
Nhiễm khuẩn: vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọt người ta phân lập được liên cầu khuẩn ở tổn thương và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm.
Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên.
Thuốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid.
Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau các kích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích lí hóa (bệnh nặng nhẹ theo mùa).
Theo Y học Cổ truyền (YHCT)
Bệnh vẩy nến đã được mô tả rất sớm trong những bệnh danh: Ngưu bì tiên, Tùng bì tiên và hiện nay là Ngân tiết bệnh.
Về căn nguyên, bệnh thường do bản tạng là huyết nhiệt khi gặp phải các yếu tố lục dâm phong, hàn, nhiệt, táo, thấp sẽ có các biểu hiện khác nhau. Nhưng lâm sàng thường tập trung vào 3 thể lớn: huyết hư, huyết nhiệt và huyết ứ; khi có nhiễm trùng là thể nhiệt độc. Phương pháp điều trị chính là phù trợ chính khí, trừ tà, điều hòa khí huyết đã mang lại kết quả tương đối tốt, hạn chế tác dụng phụ và nâng cao hiệu quả điều trị của các thuốc tân dược.
Nhận diện chẩn đoán
Vẩy nến ở da
Vẩy nến thể mủ
Vẩy nến ở móng
Vẩy nến thể đỏ da toàn thân
Vẩy nến ở khớp
Vẩy nến ở tay
Vẩy nến ở da: Trên da có các mảng đỏ ranh giới rõ, phía trên có vẩy dày màu trắng. Khi chạm vào vùng da bị bệnh thì thấy khô, cứng.
Vẩy nến ở móng: Móng dày hoặc có nhiều lỗ nhỏ trên bề mặt móng.
Vẩy nến ở khớp: Các khớp bị biến dạng, bệnh nhân khó vận động.
Vẩy nến thể mủ: Trên da có các mụn mủ khô và nông.
Vẩy nến thể đỏ da toàn thân.
Bệnh này vào mùa khô thì phát triển mạnh hơn, gây đau đớn cho bệnh nhân khi vùng da nhiễm bệnh bị va chạm hoặc có hiện tượng chảy máu chỗ da bị nứt. (đôi khi nhầm với bị nứt nẻ da, cũng hay gặp ở mùa khô)
Nguyên nhân bệnh lý
Bệnh thuộc bản tạng và trạng thái thiên thắng; khởi phát thường do yếu tố thuận lợi phong tà, nhiệt tà kết tụ ở bì phu mà dẫn đến tà khí uất tụ, trệ lâu ngày sinh ra nhiệt (biểu hiện là nốt sẩn đỏ, vẩy). Khí - huyết không lưu thông, nên da không được nuôi dưỡng đầy đủ sinh ra sẩn đỏ, vẩy nhiều hơn, ngứa liên tục.
Biện chứng và thể lâm sàng: Thời kỳ đầu của bệnh chủ yếu là sơ phong thanh nhiệt thì thường phải chọn dùng các loại thuốc lương huyết giải độc. Bệnh lâu ngày, khí - huyết bất túc sinh ra phong hóa táo thì phải lấy dưỡng huyết trừ phong.
1. Thể bệnh huyết nhiệt phong thấp (thời kỳ tiến triển)
Mặt da nổi lên sẩn đỏ hoặc tím, có thể nhỏ như đinh ghim, có thể tụ lại thành từng đám, mảng; bề mặt da tăng sinh nhiều tầng, trắng như sáp nến, ngứa nhiều, sau khi bong đi để lại lớp da đỏ và có điểm xuất huyết nhỏ, chất lưỡi thường đỏ, rêu lưỡi hơi vàng; mạch huyền sác.
Pháp chữa: lương huyết giải độc - sơ phong thanh nhiệt.
Phương thuốc:
Cúc hoa 12g Thương nhĩ tử 12g
Khổ sâm 12g Kim ngân hoa 16g
Xích thược 12g Thổ phục linh 20g
Đan bì 8g Sinh địa 16g.
Cam thảo 8g
2. Thể huyết hư phong táo
Các tổn thương thành đám, mảng, sẩn cộm, thường có màu hồng đỏ hoặc tím nhợt, có thể có sắc hồng xám thâm. Thời kỳ này, ngứa giảm, hầu như không ngứa; tổn thương da thu nhỏ hơn, có chỗ tự tiêu đi hoàn toàn (biến mất đột ngột hoặc từ từ), chỉ còn lại mặt da trắng bạc phẳng; ăn uống, đại tiểu tiện và mọi sinh hoạt trong thời kỳ này hầu như bình thường; rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi hồng nhợt; mạch đới huyền hoặc huyền mà tế.
Pháp điều trị là dưỡng huyết khu phong.
Bài thuốc thường dùng:
Đương qui 12g, Thủ ô đỏ 16, Đan bì 12g, Sinh địa 16g, Thuyền thoái 8g, Bạch tật lệ 12g, Phòng phong 12g, Ô tiêu xà 16g.
Thuốc bôi ngoài thường dùng chung cho cả hai thể trên:
Dạng cao ngưu bì tiên: Hùng hoàng, lưu hoàng, long não, khô phàn, minh phàn; tất cả đều hai phân, thêm hồng phàn 1 phân. Tất cả tán bột, chấm hoặc bôi lên trên chỗ tổn thương (thuốc rất độc không được bôi lên gần môi, miệng, mũi, mắt...)
Đại phong tử nhân: Ma nhân 16g Mộc triết tử 12g, Thủy ngân 12g Long não 12g.
Tất cả nấu thành cao, bôi ngày 2 lần trong 2 ngày.
Bôi cao mềm thạch lựu bì: Long não 1g, a xít các - bô - nic 1ml , bột thạch lựu bì 15g, phàn thổ lâm 100g. Tất cả nấu thành cao lỏng (hoặc dùng bột thạch lựu bì 1 phân, dầu vừng 3 phần - luyện thuốc thành dạng hồ để bôi).
Châm cứu:
Có thể dùng điện châm:
+ Các huyệt ở chi trên: khúc trì, nội quan, thần môn.
+ Các huyệt ở chi dưới: huyết hải, phi dương, tam âm giao.
Mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 3 - 5 huyệt, 15 lần là 1 liệu trình.
Nhĩ châm: thường dùng các điểm như: thần môn, phế, nội tiết, giao cảm.
Tư liệu tham khảo về biện chứng theo thể bệnh: Theo tài liệu “ Trung y chẩn liệu học bệnh hiện đại nan trị “ của Vu Quân Ngọc (Bắc Kinh, 1993).
3. Thể huyết nhiệt
Pháp điều trị: thanh nhiệt lương huyết - trừ phong chỉ tiên.
Phương thuốc thường dùng: Hợp phương “lương huyết địa hoàng thang” và “tê giác địa hoàng thang” gia giảm (Ngoại khoa đại thành).
Bài: Lương huyết địa hoàng thang: Sinh địa, Đương qui, Địa du, Qui giác, Hoàng liên, Thiên hoa phấn, Cam thảo Thăng ma, Xích thược, Chỉ xác, Hoàng cầm, Kinh giới.
Bài: Tê giác địa hoàng thang (Thiên kim yếu phương): Tê giác, Đan bì, và Xích thược.
Cũng có thể dùng kết hợp “thanh đại ẩm” hoặc “tả qui ẩm”. Nếu thể da đỏ có thì chọn dùng “thanh doanh thang”. Nếu có sốt cao, thần hôn loạn ngôn có thể cho thêm “an cung ngưu hoàng hoàn” hoặc “tử tuyết tán”.
4. Thể huyết hư
Thường gặp vào thời kỳ thoái hư của bệnh, mãn tính kéo dài, tổn thương da thu gọn hoặc biến mất, ban đỏ và bong vẩy giảm nhẹ , ngứa không nhiều, tổn thương da khô táo, bệnh tình ổn định; chất lưỡi nhợt hồng, rêu lưỡi trắng; mạch huyền tế.
Phương pháp điều trị: Dưỡng huyết tư âm - trừ phong nhuận táo.
Phương thuốc thường dùng: “Đương qui ẩm tử” hoặc “dưỡng huyết nhuận phu ẩm” gia giảm.
5. Thể huyết ứ
Thường gặp trong thời kỳ thoái lui của bệnh, tổn thương da thu nhỏ, không sẩn cộm, vẩy đỡ dày; sắc ban hồng xám hoặc sắc da chung quanh tổn thương hồng xám, lờ mờ có sắc tố da; chất lưỡi xám tía, có ban điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng; mạch huyền tế hoặc sáp.
Phương pháp điều trị: Hoạt huyết hóa ứ -trừ phong chỉ tiên.
Phương thuốc thường dùng: “Đào hồng tứ vật thang” hoặc “huyết phụ trục ứ thang” gia giảm.
6. Thể phong thấp tý trở
Thường gặp ở vẩy nến thể khớp, tổn thương da không nhiều ở thân thể mà tập trung vào các vùng khớp, các khớp sưng đau hạn chế vận động tứ chi, thậm chí biến dạng hoặc phát sốt, tâm phiền, ăn kém; chất lưỡi hồng, rêu lưỡi nhờn trắng; mạch huyền hoạt mà sác.
Phương pháp điều trị: Khu phong trừ thấp - thông lạc giải độc.
Phương thuốc thường dùng: “Độc hoạt tang ký sinh thang” gia giảm.
7. Nhiệt độc tích thịnh
Thường gặp ở thể mụn mủ, tổn thương tập trung nhiều ở tay, chân và đầu. Nếu nặng thì lan ra toàn thân. Trên nền da sẩn đỏ lồi lên mụn đầu nhọn, ngứa, đau và hóa mủ, sắc trắng vàng xen kẽ, mụn mọng nước hay tái phát; có khi phát sốt, miệng khát, thậm chí mê sảng (thần hôn loạn ngôn), đại tiên bí kết, tiểu tiện ngắn đỏ, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng; mạch hoạt sác hoặc huyền sác.
Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt lương huyết giải độc.
Phương thuốc thường dùng: “Tê giác địa hoàng thang” hợp phương “ngũ vị tiêu độc ẩm” gia giảm. Ngoài ra phối hợp với châm đổi bên để điều trị. Trên lâm sàng căn cứ vào tình trạng cụ thể nặng hay nhẹ khác nhau, vị trí khác nhau để gia giảm huyệt vị.
Bài 1: Thổ phục linh hoàn: Thổ phục linh 310g, Sơn đậu căn 250g, Bạch tiên bì 125g, Thảo hà sa 250g, Hoàng dược tử 125g, Hạ khô thảo 250g.
Tất cả tán thành bột mịn, trộn mật làm viên hoàn, mỗi hoàn nặng 6g, mỗi ngày ăn 2 viên hoàn.
- Công dụng: Thanh nhiệt - giải độc.
- Chủ trị: Ngân tiết bệnh thể thông thường thời kỳ tiến triển.
Bài 2: Sơn bạch thảo hoàn: Sơn đậu căn 40g, Bạch tiên bì 90g, Thảo hà sa 90g, Hạ khô thảo 45g, Ngư tinh thảo 90g, Sao tam lăng 45g, Vương bất lưu hành 45g, Sao nga truật 45g, Đại thanh diệp 45g
Tất cả tán thành bột mịn luyện mật làm hoàn, mỗi viên hoàn nặng 9g, mỗi một ngày ăn 2 viên hoàn
- Công dụng: Thanh nhiệt giải độc - tán phong nhuyễn kiên.
- Chủ trị: Ngân tiết bệnh thể thông thường, da dày, sừng nhiều.
Bài 3: Thanh ôn bại độc ẩm: Quảng tê giác (tán bột nhỏ xung phục) 30g, Đan bì 9g, Sinh địa 30g, Xích thược 9g, Hoàng liên 9g, Tri mẫu 9g, Ngân hoa 9g, Nguyên sâm 9g, Cát cánh 9g, Sinh thạch cao 30g, Hoàng cầm 9g, Trúc diệp 9g, Liên kiều 9g, Chi tử 9g, Sinh cam thảo 9g.
Tất cả sắc nước uống ngày 1 thang.
- Công dụng: Thanh doanh lương huyết - thanh nhiệt giải độc.
- Chủ trị: Vẩy nến thể đỏ da do nhiệt độc thương doanh.
Bài 4: Cầm liên địa đinh thang: Hoàng cầm 9 -12g, Hoàng liên 9 - 12g, Địa đinh thảo 12- 15g, Thư cúc hoa 12, Hy thiêm thảo 12 - 15g, Thương nhĩ tử 12 - 15g, Thất diệp nhất chi hoa 20 - 30g, Sinh hoàng kỳ 12g, Sinh cam thảo 6 - 10g.
Sắc ngày 1 thang chia 2 lần uống.
- Công dụng: thanh nhiệt - giải độc.
- Chủ trị: Thể vẩy nến mụn mủ ở tay chân do thấp nhiệt ôn độc.
Bài 5: Riêng thể khớp:
Thường phối hợp với các thuốc tư âm giáng hỏa, cường kiên cân cốt, trừ phong thấp.
Tóm lại: Bệnh vẩy nến là bệnh bản tạng, chẩn đoán dễ, biện chứng phương trị khó khăn. Muốn điều trị lâu dài phải thay đổi bản tạng, chủ yếu là dùng thuốc uống kéo dài đến khi khỏi bệnh; bôi thuốc chỉ là phối hợp trong đợt tiến triển.