Cách đây vài năm khi kinh tế Hoa Kỳ bắt đầu suy thoái, vì hoàn cảnh gia đình tôi phải đi làm việc hai năm tại Vermont, một tiểu bang nhỏ của Mỹ có rừng núi chập chùng nằm giáp với Montreal và Québec của Canada. Chiều hôm ấy, thứ Sáu, sau khi tan sở tôi đi thẳng ra phi trường để về California thăm gia đình trong dịp lễ cuối năm. Nhưng bão tuyết phủ xuống Vermont quá lớn, các chuyến bay bị đình hoãn chờ đến ngày hôm sau nên tôi đành phải trở về phòng trọ chờ đợi. Thứ Bảy bão tuyết vẫn chưa dứt nên phi trường Vermont đóng cửa dời chuyến bay thêm một ngày nữa!
Sáng Chủ Nhật tôi sửa soạn thật sớm để ra phi trường mong có chuyến bay về thăm nhà. Khoảng 7 giờ sáng người tài xế taxi điện thoại cho hay xe không vào được khu tôi ở vì tuyết quá dầy trên các con đường nhỏ. Ông hẹn tôi đi bộ ra ngoài đường lớn rồi gọi phone, ông sẽ đến rước tôi đến phi trường. Thế là tôi phải lội bộ gần một mile trên đường tuyết ngập đến đầu gối với hành trang bên mình chỉ có một chiếc backpack đeo lưng và hai nhánh cây làm gậy đi trên tuyết. Ngoài đường tuyết rơi không dứt, tôi phải đi ở giữa đường cho bớt lún tuyết vì bên trong vỉa hè lớp tuyết phủ dầy lên đến gần cửa sổ nhà người dân. Cuối cùng hơn một giờ lội tuyết, tôi cũng ra đến đường cái để đón taxi.
Đến phi trường khoảng 9 giờ sáng, tôi thấy quang cảnh thật là hỗn độn, người ta nằm ngồi rất đông cố gắng chờ chuyến bay vì chỉ còn mấy ngày nữa là Christmas nên ai cũng mong mỏi về sum họp với gia đình. Đến 11 giờ trưa, loa phóng thanh thông báo sẽ có một chuyến bay duy nhất rời phi trường Vermont đi New York để chở một số quân nhân về thăm gia đình. Họ sẽ bốc thêm một số hành khách dân sự đi cùng. Mọi người đều náo nức đứng sắp hàng rất dài để đợi đến phiên, còn tôi đứng gần cuối line. Một lúc sau có một nhân viên cao cấp ra xin lỗi mọi người vì máy bay quá nhỏ chỉ chở thêm được 12 hành khách dân sự. Ông khuyên những bậc cao niên và những gia đình có con nhỏ nên chờ đợi thêm vì chuyến đi trong cơn bão tuyết rất nguy hiểm. Cuối cùng họ ưu tiên cho những người đã bị hoãn chuyến bay hai ngày và chỉ đi với một túi xách cho đỡ nặng máy bay. Ngẫm nghĩ tôi chỉ có hai tuần vacation về thăm gia đình mà đã mất hết hai ngày và phải chờ đợi đến 6 tháng mới gặp mặt các con, thời gian chờ đợi thật là dài đăng đẵng đối với một người mẹ. Tôi mạnh dạn giơ tay xin tham gia chuyến bay. May mắn thay nhân viên phi trường chấp nhận cho tôi đi vì tôi hội đủ điều kiện mà họ quy định.
Máy bay của chúng tôi loại nhỏ, chỉ có khoảng 35 chỗ ngồi, ngoài 4 nhân viên trong phi hành đoàn, còn số hành khách bao gồm 2/3 là quân nhân và 1/3 là dân sự. Những quân nhân này về từ chiến trường Iraq, họ đến trình diện tại căn cứ quân sự ở Vermont trước khi về nhà thăm gia đình trong mấy tuần phép và bị kẹt lại đây. 12 giờ trưa chuyến bay cất cánh. Bấy giờ tôi mới biết bay trong cơn bão tuyết nguy hiểm biết bao! Tôi có cảm tưởng như mình đang đi thuyền trên sóng lớn hay đi xe hơi trên một đoạn đường rất dài với nhiều ổ gà. Phi hành đoàn gọi loa nhắc nhở chúng tôi cài seat belt thật chặc, chỉ lại nhiều lần cách đeo túi oxygen, cách đeo phao cá nhân, và những cách thoát hiểm khi máy bay gặp nạn. Đám hành khách dân sự chúng tôi người nào dường như cũng rất mệt mỏi vì máy bay dằn quá. Chỉ có những quân nhân là rất tỉnh táo. Họ đã quen với sương gió, lại bao lần đối diện với sự sống chết nơi chiến trường nên cơn bão tuyết không làm họ xao động như đối với chúng tôi. Một anh quân nhân lên tiếng yêu cầu mọi người hát chung cho đỡ căng thẳng. Thế là những bài hát về Christmas, New Year, và folk songs lần lượt được ca vang, những câu tiếu lâm, những chuyện cười gây sinh động đôi chút khiến chúng tôi quên bớt đoạn đường nguy hiểm. Cuối cùng chúng tôi cũng đến phi trường Kennedy tại New York để máy bay được check kỹ trước khi bay tiếp đến Pittsburgh, Pennsylvania.
Hôm ấy người ở phi trường khá đông, New York không có bão nhưng tuyết phủ đầy nên một số chuyến bay bị đình hoãn. Thấy chúng tôi không có ghế ngồi, các anh quân nhân rủ chúng tôi ngồi phệt dưới đất ăn chung. Các anh mua những cái hamburger, lựa những phần rẻ tiền nhất, vui vẻ ngồi ăn mà không phàn nàn gì cả khiến đám "civil" chúng tôi cảm động. Phần đông chúng tôi là những kỹ sư nhận công tác làm việc vài năm tại Vermont nên phải đợi đến 6 tháng mới về thăm gia đình một lần, nhưng so ra vẫn còn tốt số hơn các anh lính này nhiều. Chúng tôi bàn nhau hùn tiền mua cà phê, bánh và vài thức ăn khác để đãi những người lính mới quen. Nhìn họ tôi nhớ những người lính Việt Nam ngày xưa rất nhiều. Ở quốc gia nào cũng vậy, người lính đánh trận rày đây mai đó luôn đối diện với tử thần để giữ yên bình cho quốc gia dân tộc. Nhưng cuối cùng họ được gì? Có mấy ai thật sự nhớ đến công ơn của họ?
Nhớ lại ngày xưa gia đình tôi có các anh đi lính nên ba mẹ tôi lo lắng ngày đêm. Mỗi lần anh nào về phép là mẹ tôi vui lắm, nấu ăn, sắm sửa đủ thứ. Một lần mẹ hỏi anh tôi:
- Con à! Lớn rồi lo cưới vợ nhe con. Ba má sẽ lo lắng tất cả cho gia đình con.
Anh tôi cười buồn trả lời:
- Đời lính rày đây mai đó không biết sống chết ra sao. Nếu lỡ con đi sớm thì tội nghiệp cho người ta và tội cả cho con cái nữa.
Mẹ tôi ngồi yên lặng chảy nước mắt. Đã qua bao nhiêu năm, thế hệ cha anh của chúng ta thật đáng thương sống trong tù tội trở về với hai bàn tay trắng, không nghề nghiệp lại bị chèn ép đủ điều. Còn đàn em, đàn con cháu được ăn học yên ổn nơi thành thị năm nào nay lại làm bác sĩ, kỹ sư, nhưng có mấy ai ý thức được sự hy sinh của các bậc cha anh những năm về trước!...
Trở về với chuyến bay của chúng tôi, sau một giờ rưỡi kiểm điểm bộ phận máy, chúng tôi được về lại máy bay để tiếp tục quãng đường đến Pennsylvania. Đến Pittsburgh - Pennsylvania chúng tôi chia tay nhau để chuyển máy bay mỗi người về một nơi. Tôi về tận California nên chuyển thêm ba chuyến bay khác vì máy bay nào có chỗ trống thì họ điền tôi vào theo dạng standby!
Thế là chuyến về thăm gia đình năm ấy tôi phải qua 5 chuyến bay khác nhau: Vermont, New York, Pennsylvania, Texas, Denver, và California. Trên 21 tiếng đồng hồ vừa bay, vừa chờ đợi tại các phi trường tôi thật là mệt mỏi. Hết đọc sách, nghe nhạc, viết lách... mà chờ hoài vẫn chưa thấy tới. Lúc đó tôi nhớ gia đình vô cùng, nhất là nhớ hai cháu nhỏ đang náo nức chờ mẹ trở về. Cũng là một người mẹ như bao phụ nữ khác, tôi ước ao được sống bên con cái để dạy dỗ, săn sóc chúng nên người. Những ngày làm việc một mình tại Vermont tôi không ngừng nghĩ đến chúng, mong mỏi hai năm trôi qua mau chóng để trở về với chồng con. Tôi lấy giấy viết thư cho con và làm một bài thơ để gửi gắm tâm tình của một người mẹ xa nhà tặng cho hai cháu nhỏ. Bài thơ "Viết Cho Bé Thơ" ra đời từ ngày ấy.
Máy bay đến phi trường San Francisco đã hơn một giờ sáng (nghĩa là 4 giờ sáng tại Vermont). Tôi đeo hành lý lên vai, bước về hướng cổng phi trường. Từ xa tôi đã nghe tiếng réo gọi mừng rỡ của hai đứa nhỏ "Mommy! Mommy!". Nhất là thằng con trai nhỏ cố gắng nhón gót giầy đứng chưa tới ngực của ba nó giơ tay lia lịa để cho tôi nhận biết. Hai đứa nhỏ ôm chầm lấy tôi cứng ngắc. Chồng tôi cười tươi bảo: "Tụi nhỏ nhất định không ngủ, đòi ra phi trường đón mẹ về đó". Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi gặp lại gia đình, nhìn lại từng gương mặt của những người thân yêu. Tôi mỉm cười vu vơ nhớ lại hai mươi mốt tiếng đồng hồ vật vã trên chuyến đi về thăm nhà thật không uổng công chút nào.
Lý Thu Vân