Thấm thoát mình có nhau hơn 22 năm. Gần nửa đời bên nhau, mà như mới hôm nào.
Nhiều lúc anh tự hỏi, không biết có bao nhiêu đôi vợ chồng biết nhau từ lúc bé thơ, cùng sống chung một thời, để có thể cùng nhắc cho nhau những kỷ niệm ấu thơ, thời đi học, thời bình (?), thời chinh chiến, hậu chiến (?), thời lưu vong, lưu lạc quê người…và cùng chia nhau những giấc mơ...
Chúng mình là những con dân sinh ra thời chinh chiến, nhưng may mắn chưa từng gánh chịu lằn tên mũi đạn, bom nổ thịt rơi. Chưa sống và đếm từng ngày bằng rau hoang cỏ dại, gạo hẫm cá ươn, đọt sắn, củ chuối, cám heo…Chưa bị lao tù - theo nghĩa đen. Chưa phải sống trong nỗi lo sợ từng phút từng giây, trong nỗi nhục nhã triền miên và nhất là chưa bị phản bội bởi những người ruột thịt, những người bạn, những người có chung chí hướng một thời, một đời. Nói gọn lại, cuộc đời của chúng mình êm ả quá, bình thường quá. Cám ơn Trời, cám ơn đời bao nhiêu cho đủ, phải không em?
May hơn nữa, chúng mình còn có bao nhiêu kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đẹp, đáng được trân trọng, là món quà để chia nhau, như lời ru, như bàn tay mẹ vỗ về, như đôi vai của cha mà ta thích ngồi lên đó khi còn ấu thơ. Với anh và em, kỷ niệm thời áo trắng đẹp hơn giấc mơ hoa, phải không em?
*****
Thứ Hai, phải dậy sớm hơn ngày khác, tới trường chuẩn bị làm lễ chào cờ. Khoác lên cái áo sơ-mi trắng ngắn tay, bỏ áo vào trong quần, mang đôi giầy săng-đan, cặp-táp trên tay. Không quên đồng năm cắc trên góc bàn máy may của dì Ba, chạy ra cửa leo lên ngồi mép sau cái ba-ga xe đạp, phía trước là Phương, đứa em gái, đã gọn gàng ngồi đó. Anh kế tôi là người đạp xe, chở hai đứa em đến trường, rồi sau đó ảnh mới đạp xe đi học ngoài Ngã Bảy.
Cả lớp tôi, hơn 30 đứa con trai, so vai xếp thành hai hàng ngay ngắn trước cửa lớp. Tôi có chiều cao trung bình nên được đứng vào giữa hàng, ngoại trừ những lúc được chọn kéo cờ thì mới đứng đầu hàng. Bọn tôi nghiêm chỉnh nhìn về hướng bạn Trưởng Lớp ở đầu hàng, cách hai bạn đứng đầu nửa người.
Chừng năm mười phút trước 7 giờ, thầy Hiệu Trưởng chậm rãi bước về hướng cái trống to màu đỏ treo ngang dưới mái hiên bên ngoài lớp, bấy giờ là lớp Nhất A1. Sau lưng thầy là một bạn học cùng lớp, to con nhất, tươm tất trong bộ đồng phục áo trắng ngắn tay, quần sóc xanh dương đậm. Lưng thẳng, ngẩng cao đầu, trịnh trọng hẳn ra trong từng nhịp bước, trong tay là cây dùi trống dài chừng 3 tấc to bằng cổ tay, màu gỗ nâu bóng loáng, phản chiếu tia nắng sớm mai.
Tụi tôi bước thành hai hàng hướng về cột cờ giữa sân trường, cách cửa lớp chừng 50 mét và cách cổng trường một khoảng, chắc cũng bằng như vậy. Cột cờ bằng sắt cao, không biết là bao cao nhưng từ chân cột ngước nhìn lên mỏi cả cổ, sơn màu nâu sẫm, trên bục xi-măng tròn, chung quanh là nền đất không có cỏ, khô ráo. Tụi tôi bước vòng ra phía sau cột cờ, mặt hướng ra cổng trường, hai hàng trước sau. Hai bạn đứng đầu rời hàng, bước tới hai bên cột cờ tháo dây cầm sẵn trên tay. Tiếng trống bắt đầu nhịp đều, không to lắm đủ để tất cả các bạn học đang đứng xếp hàng trước cửa lớp biết mà chuẩn bị chào cờ. Bạn Trưởng Lớp hô lớn và bắt giọng hát "Bắt đầu...1...2...3... Này công dân ơi…". Tụi tôi ngước nhìn theo lá quốc kỳ vừa được buông ra, đang từ từ vươn lên cao, miệng cố hát to và nhất là không sai lời. Các bạn thì tôi không biết, riêng tôi chỉ sợ hát sai, tới tai thầy, thầy giận. Sợ hơn nữa là tới tai ông Năm Ngọc, rồi tới tai cha má...
*****
Trường Tiểu Học Phú Thọ nằm ngay ngã tư Trần Quốc Toản và Tuệ Tĩnh, đối diện nhà hàng Tân Lạc Viên, Quận 11. Vùng này đa số là dân lao động buôn gánh bán bưng, người Hoa rất đông. Đối diện cổng trường, phía bên kia đường là đoạn đầu con đường đất rộng, giữa là hàng cây dương thật cao với những tàn thưa lá nhưng lúc nào cũng xanh rì. Năm học lớp Nhất, khi tan trường tụi tôi thích theo con đường này về nhà. Hai bên con đường này là những căn nhà mái tôn lụp xụp, đa số là những gia đình làm nghề thủ công như nhuộm vải, làm nhang, đèn cầy, hàng mã, v.v…
Đi theo lối này thì xa hơn nhưng hào hứng hơn vì hai lý do. Lý do thứ nhất là hàng cây dương. Không phải tại tụi tôi lý thú gì với cây cảnh, mà là tụi tôi gần như chưa bao giờ dám đi trên con đường này vào ban đêm. Lý do thứ hai là nguyên nhân của lý do thứ nhất. Nghe đồn trên con đường này có con ma lai, đêm đêm lãng vãng trên ngọn cây dương với cái đầu người con gái tóc dài rối bù, kéo theo bộ ruột dài lòng thòng, đôi mắt trắng tròng, nhe hàm răng trắng xanh, lưỡi đỏ rực những máu. Kinh khủng hơn nữa là con ma lai này thích làm thịt mấy đứa con trai cỡ tuổi tụi tôi.
Dầu là ban ngày tụi tôi cũng phải đi chung vài ba đứa, cặp-táp ôm thật chặt vào lòng. Nhiều khi cầm dép trên tay, đi xa xa hàng cây, mắt dò xét từ bên dưới tàn cây lên tới ngọn. Có một đứa nào đó bỗng dưng ù chạy là cả đám hốt hoảng chạy theo. Thoáng chốc là chạy hết đoạn đường đất bỏ lại hàng dương sau lưng, không biết có cái đầu người con gái vật vờ trên ngọn hay không?
Trong năm đó, tôi đấm thằng Điệp vào trán vì cái tội lẻo mép kể cho ông Năm Ngọc nghe những chuyện không giỏi của tôi. Tội nghiệp cho nó là lúc đó trên tay tôi còn cầm cây viết đầy mực, để lại một chứng tích rành rành trên trán và vai áo của nó. Không kể cũng biết là chiều hôm đó ông Năm Ngọc ghé thăm cha má tôi...
Một buổi sáng tháng Mười Hai, thầy Hiệu Trưởng lên tận lớp A1 cho tôi được về sớm. Ông ngoại tôi vừa mới mất.
Ông ngoại mất, nhưng gia đình có được niềm vui là anh Ba tôi sau vài năm biệt tích giang hồ bỗng tìm về từ miền đất đỏ Long Khánh. Anh Hai và anh Ba là hai người dạy cho tôi cầm cọ, đọc sách. Anh Hai dạy tôi cầm cọ kiếm tiền, anh Ba dạy tôi cầm cọ vì yêu thích. Anh Hai dạy tôi đọc sách để mở mang kiến thức, anh Ba dạy tôi đọc sách vì yêu sách.
Năm đó, tôi thi rớt Đệ Thất vì lý do đơn giản: học dốt. Thêm một đứa vào học trường trung học tư, cha má phải vất vả hơn nhiều lắm.
*****
Bắt đầu sự nghiệp học hành của tôi ở trường Hưng Đạo, trên đường Cống Quỳnh, Sài Gòn, khá vất vả, hầu như môn nào cũng dở, trừ môn Công Dân Giáo Dục (?). May làm sao, đứa bạn ngồi cạnh học khá hơn, giúp tôi qua được lớp Đệ Thất mà không đến nỗi đội sổ. Lý do làm tôi mang ơn nó không phải là vì nó giúp tôi làm bài, mà là năm học Đệ Lục "tự dưng" nó từ chối không thèm cho tôi cóp bài mà còn thêm lời chê bai dè bĩu. Cái thằng người trong tôi giống như tỉnh thức sau cơn mơ, nhờ vào cái tát như trời giáng của nó. Bắt đầu giữa năm Đệ Lục, tôi phải "bơi" một mình, cuối năm kết quả học bạ lại khá hơn năm trước. Tiếc rằng không nhớ được tên nó để viết ra đây, với đôi lời cám ơn chân thành.
*****
Thấm thoát tôi học trường Trung Học Hưng Đạo được hơn 4 năm. Năm nay là cuối năm Đệ Tứ, năm cuối cùng còn học bên khu trường Hưng Đạo "nhỏ", đối diện rạp hát Thăng Long.
Năm đệ Tứ, tôi có hai người thầy có hai cá tính khác biệt nhưng là hai người thầy tôi học được nhiều điều hay. Đó là thầy Bùi Nhật Tiến, cũng là một nhà văn, dạy Toán và dạy thêm cho tôi biết châm chước và tha thứ. Vị thầy kia dạy môn Tân Toán Học, tiếc là tôi không nhớ tên (hôm nay phải tìm lại trong học bạ), dạy thêm cho tôi biết nhìn ra ngoài cái lớp học để mà sống và giúp gia đình. Cuối năm cầm sổ học bạ trên tay, được hạng tư trong lớp. Có anh gần nhà đang học Chu Văn An, nói đưa anh học bạ xem có xin được vào Chu Văn An học Đệ Tam thì đỡ đóng tiền. Cuối cùng thi cũng không được vì trường chỉ nhận học sinh hạng nhất, nhì và ba. Phải biết trước thì cũng rán thêm một chút, ít đi chơi một chút.
Mười ba năm về trước anh Hai tôi cũng được nhận vào Chu Văn An trong hoàn cảnh tương tự. Tết năm đó, bàn thờ ông bà mất đi bộ lư hương từ thời xưa, thay vào đó là bộ lư hương mới hơn. Sau này anh Hai tôi mới biết là ông bà ngoại bán bộ lư hương để có tiền mua đồng phục cho anh đi học. Cũng may là còn đủ để mua một bộ lư hương mới hơn, ít tiền hơn. Về sau, không nhớ từ khi nào, tôi có nhiệm vụ đánh bóng bộ lư hương này vào mỗi tháng Chạp, trước ngày 23 đưa ông Táo về trời.
Năm đó là năm tôi bắt đầu học cầm cọ kiếm tiền. Cũng là năm tuổi thơ của tôi bắt đầu bước vào khúc quanh mới, không còn lêu lổng chạy chơi trong xóm mỗi chiều, bắt đầu mang cặp kính cận, bắt đầu thấy cái nhọc nhằn, lo toan của song thân.
Mỗi ngày, khoảng 1 giờ trưa, tôi và anh Năm bắt đầu ngồi làm việc, đúng 4 tiếng đồng hồ, hai anh em thu xếp cọ, màu, cuốn những tấm tranh vừa vẽ xong. Anh trước, tôi ngồi sau ôm bó tranh, hai anh em chở nhau từ nhà qua cầu chữ Y, tới nhà bác họa sĩ Tôn Yên giao hàng. Mỗi tuần, đêm thứ Sáu là ngày lãnh tiền. Tôi vẫn còn nhớ tiếng chuông reo vang từ cái hộp đựng tiền mỗi khi chú mở khóa. Cầm tiền cho vào túi, anh chở em, nhưng không về thẳng mà đạp xe vòng qua khu phố Đồng Khánh, ghé vào gian hàng mua lon trái cây và một lon kẹo của Mỹ, viên kẹo tròn như viên bi đủ màu.
Năm đó, anh Hai tôi đi Mỹ tu nghiệp, anh Năm tôi thi rớt Tú Tài I, tôi học tiếp lớp Mười (không còn gọi là Đệ Tam) trường Hưng Đạo. Thật là may cho tôi, lớp Đệ Tam tương đối học an nhàn hơn, chứ không thì chắc cũng hơi phiền vì hai lý do. Thứ nhất là vẫn tiếp tục làm việc buổi chiều, ít có giờ học bài. Thứ hai là bắt đầu thích mấy cô học trò áo trắng học chung lớp, ít chăm chú nghe thầy cô giảng bài. Năm đó, tôi có cơ hội học vài giờ với thầy nhạc sĩ Vũ Thành An. Không nhớ thầy dạy môn gì, chỉ nhớ là thầy hiền, nói năng nhỏ nhẹ, hình như là thầy không hề giận học trò vì bất cứ lý do gì.
Lớp tôi có ba dãy bàn, hai dãy dành cho con trai và một dãy dành cho con gái. Dãy dành cho con gái nằm phía trong cùng, mấy cô phá còn hơn đám con trai tụi tôi, nhưng tôi thấy cô nào cũng dễ thương. Thương nhất cô bạn lúc nào cũng xưng là “Ái Khanh”. Ước gì được gặp lại cô ấy một lần! Bạn trai thân nhất tên Tuấn, hiền, khuôn mặt trái xoan như con gái. Một hôm tìm được lá thư trong hộc bàn của một học sinh tóc dài lớp buổi chiều, sau vài lá thư qua lại, biết tên cô ấy và địa chỉ. Thế là hai thằng tôi ngày thì bận rộn với mấy cô bạn cùng lớp, có những buổi tối cuối tuần tôi chạy ra nhà nó và hai thằng chở nhau tìm đến nhà cô bạn học buổi chiều. Năm đó bài hát "Em Tan Trường Về" rất phổ biến và lớp tôi cũng có cô bạn học có tên ở nhà là Ngọ - nhưng cô này thì phá thầy chạy.
Năm Đệ Tam qua nhanh không ngờ, để lại nhiều tiếc nuối, ngẩn ngơ cho hai thằng tôi. Lúc đó tôi nặn hoài cũng không được nửa câu thơ, chứ không thì chắc đã chuyển qua ban văn chương.
Năm sau Tuấn chuyển sang học lớp ban chiều. Năm sau nữa nó lên đường theo lệnh Tổng Động Viên - chỉ vì nó hơn tôi một tuổi. Không còn mỗi sáng ghé nhà đón nó đi học, nhìn theo cô bé hàng xóm bước e ấp trong tà áo dài trắng, khuất dạng đầu ngõ.
Thời học sinh của tôi bắt đầu mất bớt cái thi vị khi bước vào lớp Mười Một, khi mà bạn bè nhiều đứa bắt đầu lo vì lệnh Tổng Động Viên, khi mà vấn đề mưu sinh của gia đình bắt đầu khó hơn xưa. Lớp Mười Một lớp tôi có nhiều thầy giỏi, nhưng có một người thầy mà tôi nhớ hoài là thầy Nguyễn Đình Chung Song. Thầy dạy Hình Học, nhưng là người dạy tôi Việt Văn nhiều nhất. Tôi thích cách thầy nói: ngắn và chính xác. Thầy là người nhắc cho tụi tôi là cố gắng đừng giải thích một chữ, một câu, bằng nhiều chữ, nhiều câu còn tối nghĩa hơn. Thầy dùng vừa đủ chữ, nếu không nói là tiết kiệm từng chữ nhưng chứa đựng đầy đủ những gì muốn nói, tròn trịa như những vòng tròn thầy vẽ bằng phấn trắng trên bảng.
Lớp Mười Một là lớp mà tôi bắt đầu học đàng hoàng trở lại nhưng cũng là năm vất vả cho gia đình vì việc làm của tôi không còn. Năm này là năm mà tôi và hai đứa em thường bị gọi lên văn phòng vì chưa đóng tiền trường trước ngày 5 tây đầu tháng. Năm này là năm má tôi thường ghé tiệm cầm đồ và có lẽ vì vậy mà sau này má tôi không vui khi thấy có cô con gái tiệm cầm đồ đến nhà tìm tôi - nghĩ cũng oan cho cô ấy.
Những nhọc nhằn của năm lớp Mười Một rồi cũng qua đi. Bước vào năm cuối trung học với đủ tự tin nhưng vẫn chưa có kế hoạch gì cho tương lai.
*****
Lớp 12B2 Hưng Đạo cũng khá đặc biệt. Được coi là lớp đầu đàn của trường với tỷ lệ thi đậu cao nhất trường, nhưng phía nhà lá tụi tôi thì phá lắm. Nhiều hôm hai dãy bàn tụi tôi nơi cuối lớp trống trơn trong giờ Pháp Văn. Sau này nghĩ lại thấy thương thầy Pháp Văn và ước gì hồi đó chịu khó học Pháp Văn thì tha hồ mà nghe nhạc Pháp, không chừng còn bập bẹ vài câu của cái ngôn ngữ tuyệt đẹp này!
Năm đó, tôi được học với thầy Nguyễn Hữu Ích, môn Triết Học. Thầy dạy tụi tôi thế nào là yêu thương. Những bài học này theo tôi cho tới bây giờ vì tôi vẫn còn chưa hiểu hết.
Có lẽ thích môn Toán, Lý nên không bao giờ tụi tôi “cúp cua” trong các giờ này. Nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất là thầy dạy môn Vật Lý, hiền và gần với học trò như anh em. Tất niên năm đó, thầy hát cho tụi tôi nghe bài Mộng Đêm Xuân của nhạc sĩ Tuấn Khanh, không biết tại sao tôi vẫn nhớ cho đến bây giờ, còn bài học Vật Lý của thầy thì không biết còn nhớ gì không?
Có người bạn cùng lớp đánh đàn guitar rất hay, thần tượng là Andres Segovia, thức khuya, tập đàn nhiều quá phải vào Viện Bài Lao trước ngày thi. Lần đầu tiên trong đời vào Viện Bài Lao thăm nó và sau đó mới biết là có một nàng lớp Mười Hai trong trường yêu nó đến mất ăn, mất ngủ, từ học sinh giỏi trở thành trung bình – mới nghiệm ra rằng: Yêu là chết!
“Tư Nổ” là danh xưng một người bạn khác, là tay trống của lớp, là thầy dạy nhảy đầm cho mấy thằng tôi. Vài tuần một lần, tụi tôi ở lại trường giờ trưa thứ Năm, chờ học luyện thi Toán Lý Hóa, cũng là giờ nổ của thầy Tư (Hoàn). Vì không có điều kiện học thêm bên ngoài nên hôm nào tôi cũng có mặt, nhờ vậy cũng học được vài bước của “Tư Nổ”.
Nghe mấy đứa bạn kể lại, sau 1975, Hoàn lên chức Hiệu Trưởng một trường trung học đâu đó ở ngoại ô Sài Gòn. Hy vọng nó vẫn nổ ran như pháo Tết ngày nào!
Mùa hè năm đó là mùa hè đầu tiên tôi mới biết thế nào là lưu luyến. Khi nghĩ đến ngày mai đây không còn gặp lại những khuông mặt bạn bè ngây thơ hồn nhiên để bước vào cuộc đời đầy những lo toan, suy tính. Và ngay trước mắt là mùa thi, khi mà đậu hay rớt sẽ làm thay đổi bước đường đời. Những ngày cuối năm lớp Mười Hai là lúc những bản nhạc của Lobo đang thịnh hành, những bản nhạc này làm tụi tôi thêm ray rức, mùa hè như kéo dài thêm.
NCT
San Diego, 2011