1. - Theo mục đích của Chương này, khái niệm “phương tiện bay không người lái” có nghĩa là bất kỳ phương tiện bay nào, trừ các phương tiện bay thuộc nhóm 88.01, được thiết kế để bay mà không có người lái trên phương tiện bay. Chúng có thể được thiết kế để mang trọng tải hoặc được trang bị camera kỹ thuật số tích hợp vĩnh viễn hoặc các thiết bị khác cho phép chúng thực hiện các chức năng sử dụng thực tế trong suốt chuyến bay.
Tuy nhiên, cụm từ “phương tiện bay không người lái” không bao gồm đồ chơi bay, được thiết kế chỉ cho mục đích giải trí (nhóm 95.03).
Chú giải phân nhóm.
1. - Theo mục đích của các phân nhóm từ 8802.11 đến 8802.40, khái niệm "trọng lượng không tải" nghĩa là trọng lượng của máy móc ở chế độ bay bình thường, không bao gồm trọng lượng của tổ bay và trọng lượng của nhiên liệu và thiết bị trừ các thiết bị được gắn cố định.
2. - Theo mục đích của các phân nhóm 8806.21 đến 8806.24 và 8806.91 đến 8806.94, khái niệm "trọng lượng cất cánh tối đa" có nghĩa là trọng lượng tối đa của phương tiện bay ở chế độ bay bình thường, khi cất cánh, kể cả trọng lượng của trọng tải, thiết bị và nhiên liệu.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm khí cầu và khinh khí cầu điều khiển được và phương tiện bay không dùng động cơ (nhóm 88.01), phương tiện bay khác (các nhóm 88.02 hoặc 88.06), tàu vũ trụ (kể cả vệ tinh) và phương tiện đẩy để phóng tầu vũ trụ (nhóm 88.02), một số thiết bị tương tự khác như dù (nhóm 88.04), thiết bị phóng dùng cho phương tiện bay, dàn hãm tốc độ đùng cho tàu sân bay và thiết bị huấn luyện bay mặt đất (nhóm 88.05).
Các phương tiện bay chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện (ví dụ phương tiện bay không trang bị động cơ hoặc thiết bị bên trong) được phân loại như là các phương tiện bay hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện, với điều kiện chúng mang những đặc điểm chủ yếu của phương tiện bay đã hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện.
(I) KHÍ CẦU VÀ KHINH KHÍ CẦU ĐIỀU KHIỂN ĐƯỢC
Nhóm này bao gồm các phương tiện bay nhẹ hơn không khí, không phân biệt mục đích sử dụng (quân sự, thể thao, khoa học, quảng cáo...). Loại này gồm những khí cầu tự do và khí cầu có dây giữ (ví dụ, giữ chặt vào mặt đất bằng cáp), và những khinh khí cầu có thể điều khiển cơ khí được.
Nhóm này cũng bao gồm các loại khí cầu được sử dụng trong ngành hàng không hoặc khí tượng:
(1) Các khí cầu thăm dò. Những khí cầu này được sử dụng để đưa các máy móc thăm dò vô tuyến lên cao. Chúng có thể nặng đến 4.500g, nhưng trọng lượng thông thường của chúng giao động từ 350g đến 1.500g.
(2) Các khí cầu hoa tiêu. Những khí cầu này được phóng lên để xác định tốc độ và hướng gió. Chúng thường nặng từ 50g đến 100g.
(3) Các khí cầu đo độ cao mây. Loại này thường nhỏ hơn các loại được nêu tại các điểm (1) và (2) ở trên và thường có trọng lượng từ 4g đến 30g. Chúng được sử dụng để xác định độ cao của mây.
Trong hầu hết các trường hợp, các khí cầu được sử dụng trong ngành khí tượng thường được chế tạo bằng cao su rất mỏng, chất lượng cao cho phép có mức độ giãn lớn. Các loại khí cầu đồ chơi của trẻ em bị loại trừ (nhóm 95.03). Chúng có thể được phân biệt bởi chất lượng thấp hơn, có cổ ngắn để bơm hơi và thường được trang trí hoặc quảng cáo bên ngoài.
(II) TÀU LƯỢN VÀ TÀU LƯỢN TREO
Tàu lượn là những phương tiện bay nặng hơn không khí, hoạt động dựa theo các dòng khí quyển. Tuy nhiên, các tàu lượn trang bị hoặc được thiết kế có gắn động cơ được phân loại vào nhóm 88.02.
Tàu lượn treo, đặc biệt, bao gồm cánh hình tam giác vuốt về sau (cánh đen ta), cho phép cố định một hoặc hai người vào tàu lượn bởi bộ dây treo để thực hiện một số thao tác bay. Những cánh bay này được làm từ các vật liệu (thường là vải dệt) được trùm lên một khung cứng, thường là hình ống và bằng kim loại, được gắn một thanh nằm ngang ở giữa khung để lái. Các dạng khác của tàu lượn treo có thể mang các hình dáng khác, nhưng tương tự như loại cánh đen ta về cấu trúc và cách vận hành khí động lực.
(III) CÁC PHƯƠNG TIỆN BAY KHÁC KHÔNG DÙNG ĐỘNG CƠ
Nhóm này bao gồm diều, là những phương tiện bay nặng hơn không khí, không có máy đẩy. Diều được đề cập ở đây là loại được nối giữ với mặt đất bằng một loại dây tương tự như những khí cầu có dây giữ và có thể được sử dụng, ví dụ, để mang các dụng cụ đo đạc khí tượng.
Nhóm này không bao gồm diều được thiết kế làm đồ chơi (nhóm 95.03)
Nhóm này không bao gồm các mô hình, cho dù có được chế tạo chính xác theo tỷ lệ hay không, để trang trí (ví dụ, nhóm 44.20 hoặc 83.06), để trưng bầy (nhóm 90.23), hoặc các đồ chơi hoặc nhằm mục đích giải trí (nhóm 95.03)
- Trực thăng:
8802.11 - - Trọng lượng không tải không quá 2.000 kg
8802.12 - - Trọng lượng không tải trên 2.000 kg
8802.20 - Máy bay và phương tiện bay khác, có trọng lượng không tải không quá 2.000 kg
8802.30 - Máy bay và phương tiện bay khác, có trọng lượng không tải trên 2.000 kg nhưng không quá 15.000kg
8802.40 - Máy bay và phương tiện bay khác, có trọng lượng không tải trên 15.000kg
8802.60 - Tàu vũ trụ (kể cả vệ tinh) và tầu bay trong quĩ đạo và phương tiện đẩy để phóng tàu vũ trụ
Nhóm này gồm có:
(1) Các phương tiện bay nặng hơn không khí hoạt động bằng một máy đẩy. Nhóm này bao gồm các loại máy bay (đỗ trên mặt đất, trên mặt nước và cả mặt đất mặt nước), máy bay ổn định nhờ hồi chuyển (được trang bị với một hoặc nhiều cánh quạt quay tự do quanh trục thẳng đứng), và các máy bay trực thăng (được trang bị một hoặc nhiều cánh quạt vận hành cơ khí).
Các phương tiện bay này có thể được sử dụng vào mục đích quân sự, việc vận chuyển người hoặc hàng hoá hoặc cho những hoạt động như đào tạo, chụp ảnh trên không, nông nghiệp, cứu hộ, cứu hoả, quan sát khí tượng hoặc các mục đích khoa học khác.
Các phương tiện bay được thiết kế một cách đặc biệt để có thể được sử dụng như các phương tiện hoạt động trên mặt đất được xếp trong nhóm này.
(2) Tàu vũ trụ, là những phương tiện bay có khả năng di chuyển trong không gian bên ngoài bầu khí quyển của trái đất (ví dụ, những vệ tinh viễn thông hoặc vệ tinh dùng trong ngành khí tượng).
(3) Các phương tiện đẩy để phóng tàu vũ trụ, có chức năng đưa một vật vào quỹ đạo quay xung quanh trái đất (“phương tiện phóng vệ tinh”) hoặc vào ảnh hưởng của một trường trọng lực nằm ngoài vùng sức hút của quả đất (“phương tiện phóng tàu vũ trụ”). Các phương tiện này truyền đến vật phóng một vận tốc trên 7.000m/giây trước khi rời bệ phóng.
(4) Các phương tiện phóng không hết một quỹ đạo thường theo đường cong parabol và thường mang ra ngoài bầu khí quyển quả đất những dụng cụ phục vụ mục đích khoa học hoặc kỹ thuật khác có thể thu hồi hoặc không thu hồi lại. Khi những vật có ích ấy được phóng đi, thì tốc độ mà các phương tiện truyền đến để đẩy vật phóng đi không vượt quá 7.000m/giây. Các vật có ích rơi trở lại quả đất thường bằng dù để thu hồi.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các tên lửa chiến đấu, các tên lửa được dẫn đường, ví dụ “tên lửa đạn đạo”, và các vũ khí chiến tranh tương tự mà không truyền đến vật phóng một vận tốc lớn hơn 7.000m/giây (nhóm 93.06). Các phương tiện phóng này mang theo các vũ khí chiến tranh như chất nổ, đầu đạn, hoá chất và sau khi bay theo một đường cong parabol thì vật bay này tác động tới mục tiêu.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Các mô hình, cho dù có được chế tạo chính xác theo tỷ lệ hay không, để trang trí (ví dụ, nhóm 44.20 hoặc 83.06), chỉ để trưng bày (nhóm 90.23).
(b) Phương tiện bay không người lái được nêu tại Chú giải 1 Chương này (nhóm 88.06).
(c) Các đồ chơi hoặc mô hình để giải trí (nhóm 95.03).
(d) Các mô hình được thiết kế đặc biệt cho trò chơi di chuyển trong công viên giải trí hoặc trong các trò chơi hội chợ (nhóm 95.08).
Nhóm này bao gồm các loại dù dùng thả người, thả thiết bị quân sự, dụng cụ khí tượng, pháo sáng, v.v...; một số loại được sử dụng như dù ở đuôi máy bay để hãm máy bay phản lực. Tuỳ theo công dụng, các dù này có kích cỡ khác nhau và có thể được làm bằng lụa, bằng sợi dệt tổng hợp, bằng lanh, bằng sợi bông, bằng giấy, v.v..
Phần trên của kiểu dù thông thường, loại dành cho những người nhảy dù sử dụng, thường gồm một dù rút, kích thước nhỏ, được mở ra khi kéo dây. Dù rút làm cho chỏm của dù chính, nơi có gắn một số dây néo dù, mở rộng ra. Những dây này là những thừng chão dính liền nhau ở phía dưới, thành hai hoặc nhiều đai buộc chặt vào bộ áo của người nhảy dù và là một tập hợp những đai có khoá và móc lò xo. Dù rút, chỏm dù và dây néo dù được gấp cẩn thận vào một cái túi mở ra nhờ dây dù.
Nhóm này cũng bao gồm những dù lượn, thiết kế để người nhảy dù tự nhảy từ sườn núi, từ mỏm vách đá, v.v... gồm một mặt dù gấp được, những dây néo dù đan nhau dùng để điều khiển hướng gió và một bộ áo của người lái.
Tuy nhiên, cách hoạt động khí động lực học của loại dù này có khác các dù thường, vì trong những điều kiện nhất định và nếu hướng dòng gió cho phép người nhảy dù có thể bay theo những đường vòng.
Nhóm này cũng bao gồm các dù xoay là loại dù có bộ phận cánh xoay được, dùng trong khí tượng để kiểm soát quá trình rơi xuống của các thiết bị dò sóng vô tuyến do tên lửa phóng lên.
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận và phụ tùng dù, như túi, dây cương và các khung có lò xo dùng để mở dù, và các bộ phận và phụ tùng của dù xoay.
8805.10 - Thiết bị phóng dùng cho phương tiện bay và các bộ phận của chúng; dàn hãm tốc độ dùng cho tàu sân bay hoặc thiết bị tương tự và các bộ phận của chúng
- Thiết bị huấn luyện bay mặt đất và các bộ phận của chúng:
8805.21 - - Thiết bị mô phỏng tập trận trên không và các bộ phận của chúng
8805.29 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm ba dạng sản phẩm hoàn toàn khác biệt:
(A) Thiết bị phóng dùng cho phương tiện bay
Các thiết bị phóng dùng cho phương tiện bay này thường được sử dụng trên tàu thuỷ, gồm một cấu trúc bằng kim loại để định hướng phương tiện bay. Sức đẩy và sự tăng tốc cần thiết cho việc cất cánh đạt được nhờ không khí nén, hơi, bằng sức nổ của đạn, v.v... trên một xe chở hoặc trên một pít tông mà phương tiện bay được gắn vào.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các tời máy dùng để phóng tàu lượn (nhóm 84.25).
(b) Các bệ phóng tên lửa và tháp phóng tên lửa chỉ để định hướng tên lửa khi cất cánh mà không đẩy chúng, những hoả tiễn này tự bay lên nhờ vào năng lượng của chúng (nhóm 84.79).
(B) Dàn hãm tốc độ dùng cho tầu sân bay hoặc thiết bị tương tự.
Những máy móc này, được sử dụng trên các tàu sân bay và một số sân bay nhỏ, được dùng để giảm tốc máy bay lúc tiếp đất, nhằm giảm bớt chiều dài đường băng cần thiết để phương tiện dừng lại hoàn toàn.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị khác như thiết bị an toàn (ví dụ lưới)
(C) Thiết bị huấn luyện bay mặt đất.
Các ví dụ của những thiết bị này được sử dụng để huấn luyện phi công bao gồm:
(1) Các máy mô phỏng bay hoạt động bằng điện tử. Các điều kiện bay được mô phỏng bằng các thiết bị điện tử mà đã được gắn vào bộ phận điều khiển một tổ hợp về “cảm giác” và cách đọc tương ứng với điều kiện bay cho sẵn.
Thiết bị mô phỏng tập trận trên không là bất kỳ hệ thống điện tử hoặc cơ khí dùng để đào tạo phi công bằng cách mô phỏng điều kiện chiến đấu trên không trong suốt quá trình bay.
Khi các máy mô phỏng bay lắp trên khung gầm ô tô hoặc trên rơmoóc, loại phương tiện này lần lượt được phân loại vào các nhóm 87.05 hoặc 87.16 (xem Chú giải Chi tiết của nhóm 87.16).
(2) Một thiết bị được gọi là “huấn luyện liên kết”, gồm có một ca bin nhỏ quay trên một bệ và được trang bị giống như một buồng lái máy bay, tạo cho người học khả năng thực hiện mọi thao tác cần thiết trong một chuyến bay thường.
CÁC BỘ PHẬN
Nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các sản phẩm đã được nhắc đến ở trên, với điều kiện là các bộ phận đó đáp ứng đủ hai điều kiện sau:
(i) Chúng phải được nhận biết là phù hợp chỉ để sử dụng hoặc chủ yếu sử dụng cho các phương tiện này;
và (ii) Chúng không bị loại trừ theo các quy định của Chú giải Phần XVII (xem Chú giải Tổng quát tương ứng).
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị mà chủ yếu được dùng để ghi lại những phản ứng của con người trong các điều kiện bay khó khăn (ví dụ, tăng tốc, thiếu ô xi v.v...); các máy móc này (ví dụ, các khoang được dựng lên trên một cánh tay quay mô phỏng các điều kiện của máy bay siêu âm) mang tính chất những máy móc kiểm tra phản xạ và những loại đó được phân loại vào nhóm 90.19.
Các thiết bị không được thiết kế đặc biệt để huấn luyện bay cho phi công mà là để dạy chung cho các phi hành đoàn (ví dụ như các mô hình phóng to của máy bay ổn định nhờ hồi chuyển) thì bị loại trừ (nhóm 90.23).
8806.10 - - Được thiết kế để vận chuyển hành khách
- Loại khác, chỉ sử dụng cho chuyến bay được điều khiển từ xa:
8806.21 - - Trọng lượng cất cánh tối đa không quá 250 g
8806.22 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 250 g nhưng không quá 7 kg
8806.23 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 7 kg nhưng không quá 25 kg
8806.24 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 25 kg nhưng không quá 150 kg
8806.29 - - Loại khác
- Loại khác:
8806.91 - - Trọng lượng cất cánh tối đa không quá 250 g
8806.92 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 250 g nhưng không quá 7 kg
8806.93 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 7 kg nhưng không quá 25kg
8806.94 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 25 kg nhưng không quá 150kg
8806.99 - - Loại khác
Theo Chú giải 1 của Chương này, nhóm này bao gồm phương tiện không người lái, được thiết kế để bay mà không có người lái trên máy bay, trừ những loại được nêu trong nhóm 88.01. Phương tiện bay không người lái có thể chỉ có khả năng thực hiện chuyến bay điều khiển từ xa do người điều khiển từ nơi khác (ví dụ, mặt đất, tàu, phương tiện bay khác hoặc không gian) vào mọi lúc trong quá trình hoạt động bay, hoặc có khả năng bay được lập trình để được thực hiện mà không cần sự can thiệp của người vận hành.
Mặc dù phương tiện bay không người lái có thể có nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau nhưng chúng thường được trang bị một hoặc nhiều cánh quạt hoặc rôto được điều khiển bằng động cơ, hoặc cánh cố định, và hệ thống liên lạc để chỉ huy và điều khiển bởi người điều khiển từ xa. Chúng cũng có thể kết hợp các máy thu Hệ thống Vệ tinh Định vị Toàn cầu (GNSS), (ví dụ, GPS, GLONASS hoặc BEIDOU) để di chuyển ổn định và bay trở lại điểm cất cánh và các hệ thống tránh chướng ngại vật, chức năng theo dõi và nhận dạng đối tượng.
Phương tiện bay không người lái có thể được thiết kế để mang trọng tải hoặc được trang bị máy ảnh kỹ thuật số tích hợp vĩnh viễn hoặc thiết bị khác được sử dụng cho các chức năng tiện dụng như vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách, chụp ảnh trên không, công việc nông nghiệp hoặc khoa học, nhiệm vụ cứu hộ, chữa cháy, giám sát hoặc vì mục đích quân sự.
Nhóm này cũng loại trừ các đồ chơi hoặc mô hình bay được thiết kế chỉ nhằm mục đích giải trí, và không được thiết kế để thực hiện các chức năng thực dụng. Chúng có thể được phân biệt, ví dụ như bằng trọng lượng thấp, độ cao hạn chế, khoảng cách hoặc thời gian chúng có thể bay, tốc độ tối đa, không có khả năng bay tự động, hoặc không có khả năng mang tải/hàng hóa hoặc vì chúng không được trang bị thiết bị điện tử phức tạp (ví dụ, Hệ thống định vị toàn cầu, yêu cầu bay đêm hoặc tầm nhìn ban đêm) (nhóm 95.03).
8807.10 - Cánh quạt và rôto và các bộ phận của chúng
8807.20 - Bộ càng- bánh và các bộ phận của chúng
8807.30 - Các bộ phận khác của máy bay, trực thăng hoặc phương tiện bay không người lái
8807.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các bộ phận của các hàng hóa thuộc các nhóm 88.01, 88.02 hoặc 88.06, nếu các bộ phận này đáp ứng đủ hai điều kiện sau:
(i) Được xác định phù hợp để chỉ hoặc chủ yếu sử dụng cho các hàng hóa thuộc các nhóm đã nêu trên; và
(ii) Chúng không bị loại trừ theo những quy định của Chú giải của Phần XVII (xem Chú giải Tổng quát tương ứng).
Các bộ phận trong nhóm này bao gồm:
(I) Các bộ phận của khí cầu và khinh khí cầu điều khiển được, như:
(1) Vỏ khí cầu
(2) Các vỏ ngoài và các bộ phận của chúng (dải hoặc thành tấm)
(3) Các vòng trọng tải.
(4) Gác khí cầu nhỏ làm cõ cấu bù trừ (ballonet).
(5) Các khung cứng và các đoạn của chúng.
(6) Các bộ thăng bằng và bánh lái, đuôi lái.
(7) Các cánh quạt của các khinh khí cầu điều khiển được.
(II) Các bộ phận của các phương tiện bay, có hoặc không người lái, kể cả tàu lượn và diều, như:
(1) Thân và vỏ máy bay; các phần của thân hoặc của vỏ máy bay; cũng nhý các bộ phận bên ngoài hoặc bên trong (vòm cho ăngten, rađa, mũi đuôi thân máy bay, các bộ phận phụ làm thon thân máy bay, các tấm, vách, ngân hàng hoá, sàn, bảng điều khiển của buồng lái, khung, cửa ra vào và băng rãnh trượt để sơ tán người, cửa sổ, cửa sổ ở thành máy bay,...).
(2) Cánh và các bộ phận của chúng (sải cánh, đường gân, thanh giằng).
(3) Các mặt điều khiển, chuyển động hoặc không (cánh liệng, cánh phụ, các mũi công kích, bộ lệch dòng, bánh lái độ cao và định hướng, bộ ổn định, các bộ thăng bằng, v.v...).
(4) Vỏ khí cầu, nắp đậy, các giảm sức cản hình thoi (giỏ nôi hình thoi) và các cột để cố định động cơ phản lực.
(5) Các bộ bánh máy bay (kể cả phanh và phụ kiện của phanh) và các thiết bị gập bánh xe lại; bánh xe (có lốp hoặc không); các ván trượt hạ cánh.
(6) Các phao cho thủy phi cơ.
(7) Cánh quạt, rôto; các cánh của cánh quạt và cánh rôto; các thiết bị để điều chỉnh vòng xoắn cánh quạt và rô to.
(8) Các cần điều khiển (cần điều khiển, bánh lái và các cần thao tác khác).
(9) Bình chứa nhiên liệu, kể cả các bình phụ.