1 - Trong toàn bộ Danh mục:
(a) "Lông cừu" là lông xơ tự nhiên mọc từ con cừu non hoặc con cừu trưởng thành
(b) "Lông động vật loại mịn" là lông của dê alpaca, lông lạc đà không bướu llama, lông lạc đà không bướu vicuna, lông lạc đà (kể cả lông lạc đà một bướu), lông bò Tây Tạng, lông dê Angora, lông dê Tibetan, lông dê Ca-sơ-mia hoặc lông của các loại dê tương tự (trừ loại dê thông thường), lông thỏ (kể cả lông thỏ Angora), lông thỏ rừng, lông hải ly, lông chuột hải ly hoặc lông chuột nước;
(c) "Lông động vật loại thô" là lông của các loại động vật không kể ở trên, trừ lông cứng và lông dùng làm bàn chải (nhóm 05.02) và lông đuôi hoặc bờm ngựa (nhóm 05.11).
TỔNG QUÁT
Khi đọc các Chú giải của Chương này thì phải kết hợp xem xét cả Chú giải Tổng quát Phần XI.
Nhìn chung, Chương này bao gồm lông cừu, lông động vật loại mịn hoặc thô bao gồm những loại vật liệu dệt hỗn hợp trong đó đã được phân loại như lông cừu hoặc lông động vật, ở các giai đoạn khác nhau từ những vật liệu thô cho tới khi thành những tấm vải dệt Chương này cũng bao gồm cả sợi và vải làm từ lông bờm ngựa hoặc lông đuôi ngựa nhưng loại trừ lông bờm hoặc lông đuôi ngựa và các phế liệu của nó ở nhóm 05.11. Như đã trình bày ở Chú giải 4 Chương 5, cụm từ “lông đuôi ngựa, lông bờm ngựa” nghĩa là lông ở bờm hay ở đuôi của ngựa hay động vật họ trâu bò.
- Nhờn, kể cả lông cừu đã rửa sạch:
5101.11 - - Lông cừu đã xén
5101.19 - - Loại khác
- Đã tẩy nhờn, chưa được carbon hóa:
5101.21 - - Lông cừu đã xén
5101.29 - - Loại khác
5101.30 - Đã được các bon hoá
Trong toàn bộ Danh mục, “lông cừu” là lông xơ tự nhiên mọc từ con cừu trưởng thành hoặc con cừu non. Sợi lông cừu về cốt yếu gồm chất sừng protein và có đặc điểm riêng là có vẩy trên bề mặt. Sợi lông cừu có độ đàn hồi, có khả năng hút ẩm lớn (hấp thụ hơi ẩm từ không khí) và thông thường nó có những tính chất giống như nỉ. Lông cừu hầu như là không dễ cháy nhưng khi đốt cháy thành than, nó có mùi như mùi chất sừng cháy.
Nhóm này bao gồm lông cừu trưởng thành hay lông cừu non chưa chải thô hoặc chải kỹ, thu được từ việc xén lông ở trên con vật sống hay từ da động vật chết hay xén từ những tấm da có lông hay nhổ khỏi tấm da sau khi đã lên men hay cho xử lý hoá chất phù hợp (ví dụ: lông cừu đã được nhổ, lông cừu xén hay da cừu còn lông).
Lông cừu chưa chải thô và chưa chải kỹ thường ở dạng:
(A) Nhờn, kể cả lông cừu đã rửa sạch.
Lông cừu còn dính nhờn là lông cừu chưa được rửa hoặc làm sạch bằng cách khác; do vậy, nó vẫn còn dính chất nhờn và chất béo ngấm từ bản thân con vật và có thể còn dính cả một số lượng những chất bẩn khác (tạp chất thực vật, các hạt, đất,...). Lông cừu xén dính mỡ thường ở dạng “mỡ lông cừu” có nhiều hay ít những viền của da.
Lông cừu được nhổ khỏi những tấm da cừu bởi quá trình lên men (“hấp hơi”), trong đó các sợi lông và da chịu một tác động kép về nhiệt và độ ẩm khi ủ. Lông cũng có thể lấy ra bằng phương pháp làm rụng lông trong đó người ta cho bề mặt có thịt của da được xử lý với Natri sulphide hay dung dịch nước vôi. Lông cừu như vậy có thể nhận ra do vẫn còn chân lông.
Lông cừu đã rửa sạch là lông cừu đã rửa bằng nước lạnh khi vẫn còn trên con vật hay trước khi nhổ khỏi tấm da. Nó vẫn chưa sạch hoàn toàn.
Lông cừu còn dính nhờn thường có màu vàng nhạt. Đôi khi có màu xám, đen, nâu hay nâu đỏ.
(B) Lông cừu đã tẩy nhờn, chưa được carbon hoá.
Loại này bao gồm:
(1) Lông cừu đã rửa bằng nước nóng, loại lông này chỉ được rửa bằng nước nóng và được loại bỏ phần lớn các chất nhờn và đất.
(2) Lông cừu đã tẩy: Là lông mà lượng chất nhờn bám vào đã được tẩy hoàn toàn trong quá trình rửa bằng nước nóng hoặc xà phòng hay bằng các dung dịch tẩy rửa khác hoặc dung dịch kiềm.
(3) Lông đã được xử lý với các dung môi dễ bay hơi (như là benzen và carbon tetrachloride) để tẩy nhờn.
(4) Lông đóng băng: Lông cừu được đưa vặo nơi có nhiệt độ đủ thấp để mỡ đóng băng. Lớp nhờn này sau đó ở trạng thái dễ vỡ và có thể rũ ra khỏi lông cừu cùng với phần lớn những tạp chất tự nhiên khác bám vào lông cừu bởi lớp mỡ.
Những bộ lông cừu đã được khử nhờn và rửa sạch vẫn còn chứa một lượng nhỏ mỡ và chất có nguồn gốc thực vật (tạp chất thực vật, các hạt, v.v...); những chất có nguồn gốc thực vật này sẽ được loại bỏ cơ học ở giai đoạn sau (xem Chú giải nhóm 51.05) hay bởi phương pháp carbon hóa.
(C) Lông cừu đã được carbon hoá:
Quá trình carbon hoá sẽ loại bỏ những chất (có nguồn gốc thực vật) vẫn còn bám ở lông cừu như đã đề cập ở phần (B) trên. Lông cừu thường được ngâm vào chậu có chứa các axit vô cơ hay muối axit, nó sẽ phân hủy các chất có nguồn gốc thực vật mà không làm ảnh hưởng tới các sợi lông.
Tẩy trắng, nhuộm màu hay các quá trình khác trước khi chải sạch hay chải sóng không ảnh hưởng tới quá trình phân loại lông cừu trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Da sống đã hay chưa bị tách bao gồm cả những tấm da cừu vẫn còn lông (nhóm 41.02 hay 43.01).
(b) Phế liệu lông cừu của nhóm 51.03 hay lông cừu tái chế nhóm 51.04.
(c) Lông cừu chải kỹ dạng từng đoạn (nhóm 51.05).
- Lông động vật loại mịn:
5102.11 - - Của dê Ca-sơ-mia (len ca-sơ-mia)
5102.19 - - Loại khác
5102.20 - Lông động vật loại thô
(1) Trong toàn bộ danh mục, cụm từ “ Lông động vật loại mịn” là lông của dê alpaca, lông lạc đà không bướu llama, lông lạc đà không bướu vicuna, lông lạc đà (kể cả lông lạc đà một bướu), lông bò Tây Tạng, lông dê Angora, lông dê Tibetan, lông dê Ca-sơ-mia hoặc lông của các loại dê tương tự, lông thỏ (kể cả lông thỏ Angora), lông thỏ rừng, lông hải ly, lông chuột hải ly hoặc lông chuột nước (Xem Chú giải 1 (b) của Chương).
Lông động vật loại mịn thường là mềm và ít quăn hơn lông cừu. Lông của dê alpaca, lông lạc đà không bướu llama, lông lạc đà không bướu vicuna, lông lạc đà (kể cả lông lạc đà một bướu), lông bò Tây Tạng, lông dê Angora, lông dê Tibetan, lông dê Ca-sơ-mia hoặc lông của các loại dê tương tự, lông thỏ Angora nhìn chung có thể xe thành sợi như xe lông cừu; loại lông này cũng được sử dụng làm tóc giả, tóc búp bê. Lông động vật loại mịn khác (lông thỏ rừng, lông thỏ, lông hải ly, lông chuột hải ly hoặc lông chuột nước) thường không phù hợp để xe sợi nên dùng để sản xuất phớt, đệm, sản phẩm nhồi, v.v....
(2) Trong toàn bộ danh mục, cụm từ “Lông động vật loại thô” nghĩa là lông của tất cả các loài không đề cập trong phần (1) ở trên, ngoại trừ lông cừu (nhóm 51.01), lông đuôi hay bờm của các loài ngựa hay động vật họ trâu bò đã phân loại như “lông bờm, đuôi ngựa” nhóm 05.11), lông lợn, lông cứng, tóc hoặc lông làm bàn chải khác (nhóm 05.02) (xem Chú giải 1 (c) của Chương này).
Lông động vật loại thô được phân loại ở đây bao gồm lông phía sườn của bò, ngựa và các loài dê, chó, khỉ hay rái cá nói chung.
Lông động vật loại thô nói chung được sử dụng làm những sợi thô hay vải dệt thoi, phớt hay thảm, đệm, làm len hay cho các mục đích nhồi.
Lông động vật thư được từ việc thu thập lông rụng, lông xén, lông nhổ từ các tấm phớt, v.v... và bao gồm ở nhóm này chỉ là lông chưa được chải sạch hay chải sóng và quá trình phân loại không ảnh hưởng bởi đã được tẩy trắng, nhuộm màu giặt hay làm xoăn nhân tạo (hoạt động cuối cùng này áp dụng chủ yếu cho lông động vật thô để nhồi).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tóc người (nhóm 05.01)
(b) Da sống và da lông sống (các nhóm từ 41.01 đến 41.03 hay 43.01).
(c) Phế liệu lông động vật loại mịn hoặc thô (nhóm 51.03).
(d) Lông động vật loại mịn hoặc thô tái chế (nhóm 51.04)
(e) Lông động vật loại mịn hoặc loại thô, đã được chải thô hoặc chải kỹ (nhóm 51.05)
(f) Lông động vật loại mịn hoặc thô được chế biến để sử dụng làm tóc giả hay sản phẩm tương tự (nhóm 67.03).
o
o o
Chú giải Phân nhóm.
Phân nhóm 5102.11
Theo mục đích của phân nhóm 5102.11, khái niệm “của các loại dê Kashmir (ca-sơ-mia)” có nghĩa là lông mềm mịn của lớp lông tơ của lông dê có nguồn gốc từ Kashmir nhưng ngày nay được nuôi ở một vài vùng khác trên thế giới. Theo mục đích của phân nhóm này, những vùng mà loài động vật được nuôi thì không ảnh hưởng đến việc phân loại.
5103.10 - Xơ vụn từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn.
5103.20 - Phế liệu khác từ lông cừu hoặc từ lông động vật loại mịn.
5103.30 - Phế liệu từ lông động vật loại thô.
Nói chung nhóm này bao gồm tất cả các loại phế liệu (trừ lông tái chế) của lông cừu hay phế liêụ lông động vật loại mịn hay loại thô tức là phế liệu thu được trong các quá trình gia công liên tiếp biến cải lông cừu, lông động vật ở dạng thô thành các sản phẩm đã được rửa, chải thô, chải kỹ, xe sợi, dệt, đan, v.v...
Những phế liệu chủ yếu ở đây bao gồm:
(1) Các phế liệu trong quá trình chải thô, chải kỹ hay các quá trình chuẩn bị cho xe sợi, như là: những sợi vụn, là phế liệu quan trọng nhất, gồm những sợi lông ngắn được loại bỏ ra rong quá trình chải kỹ; tấm nối và sợi ở những mẩu thừa của tấm vải, những mẩu phế liệu nhỏ của tấm nối đã chải kỹ; phần rìa và hàng phế phẩm đã chải thô. Những phế liệu thu nhặt trong quá trình chải thô; những sợi thu nhặt trong quá trình làm sạch con lăn của máy chải và được biết như những dải vải vụn.
(2) Phế liệu sợi: như những sợi bị đứt, sợi rối, sợi bị thắt nút được thu nhặt trong quá trình xe sợi, chập sợi, kéo sợi, dệt, đan, v.v...
(3) Các phế liệu như là những phế liệu trong quá trình phân loại, phế liệu ương quá trình giặt, lấy ra từ đáy bồn hay từ các tấm lưới chắn của máy giặt
(4) Phế liệu như là lông cừu của các đệm cũ.
Một số phế liệu bị ngâm dầu mỡ từ máy móc hay bị lẫn các rác rưởi tạp chất (ví dụ như tạp chất tự nhiên có nguồn gốc thực vật). Những phế liệu này nếu có kiểu cách và chất lượng phù hợp thì sẽ được sử dụng cho việc xe sợi, nhồi sợi... Sự phân loại ở đây không bị ảnh hưởng bởi các quá trình như carbon hóa, tẩy trắng, nhuộm màu, v.v...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Phế liệu lông bờm hay đuôi ngựa (nhóm 05.11)
(b) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hay 56.01)
(c) Phế liệu của lông cừu hay lông động vật chỉ phù hợp sử dụng làm phân bón (Chương 31)
(d) Lông cừu hoặc lông động vật loại mịn hoặc thô tái chế. (nhóm 51.04).
(e) Phế liệu lông cừu hoặc lông động vật loại mịn hoặc loại thô, đã chải thô hoặc chải kỹ. (nhóm 51.05).
(f) Xơ vụn và bụi xơ và kết xơ từ công nghiệp dệt (nhóm 56.01).
Nhóm này bao gồm lông cừu hoặc lông động vật dạng thô hay mịn tái chế, thu được từ vải vụn tái chế của các mặt hàng dệt, đan, v.v...từ nguyên liệu hay phế liệu của sợi trong các quá trình xe sợi, dệt, đan, v.v...
Lông cừu tái chế (lông cừu tái chế hoặc gia công lại) bao gồm:
(1) Hàng thứ phẩm và hàng len dệt từ len vụn thu được bởi việc tái chế len hay sợi xấu hay vải vụn.
(2) Lông cừu bòn, thu được từ việc tái chế lông cừu còn lại khi thu nhận những mẩu vải vụn đã xử lý, thường là với axit để loại bỏ những sợi thực vật (tức là bông) hay những xơ staple tái tạo.
Lông cừu hay lông động vật dạng thô hoặc mịn tái chế trong nhóm này thường được dùng ngay chính nó để xe thành sợi hay xe với sợi mới và dùng để dệt hay đan ra các sản phẩm dệt, nỉ phớt, đệm hay dùng cho các mục đích khác.
Những nguyên liệu tái chế trên dù đã hoặc chưa tẩy trắng hay nhuộm màu vẫn được xếp vào nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hoặc 56.01).
(b) Nguyên liệu tái chế đã được chải thô hay chải kỹ của lông cừu hay lông động vật dạng mịn hoặc thô (nhóm 51.05).
(c) Xơ vụn và bụi xơ và kết xơ từ công nghiệp dệt (nhóm 56.01).
(d) Vải vụn cũ hoặc mới, chưa tái chế (nhóm 63.10).
5105.10 - Lông cừu chải thô
- Cúi lông cừu chải kỹ (wool tops) và lông cừu chải kỹ khác:
5105.21 - - Lông cừu chải kỹ dạng từng đoạn
5105.29 - - Loại khác
- Lông động vật loại mịn, đã chải thô hoặc chải kỹ:
5105.31 - - Của dê Ca-sơ-mia (len ca-sơ-mia)
5105.39 - - Loại khác
5105.40 - Lông động vật loại thô, đã chải thô hoặc chải kỹ
Nhóm này gồm có:
(1) Lông cừu và lông động vật loại mịn hoặc loại thô (kể cả phế liệu và lông tái chế), đã chải thô chuẩn bị cho quá trình xe sợi len dạ.
(2) Lông cừu và lông động vật loại mịn đã chải kỹ sau quá trình “chuẩn bị” (gilling) hoặc chải thô.
Mục đích của chải thô (tiến hành trên máy chải đặc biệt) là để gỡ rối những sợi, sắp đặt sợi ít nhiều song song và loại bỏ ra khỏi sợi toàn bộ hay hầu hết những tạp chất vẫn còn bám vào (hầu hết là thực vật). Các sợi sau đó được sắp thành các bó (web).
Tùy theo yêu cầu của các sản phẩm làm bằng len (những loại mới chỉ chải thô) mà các bó sợi sẽ được phân chia theo các chiều dài thích hcrp, sau đó được cuộn hay được tách ra ở dạng sợi thô để tăng độ liên kết của các sợi và để xe sợi được dễ dàng. Những cuộn sợi (slubbing) được quấn trên các ống chỉ suốt vẫn có thể sử dụng để xe thành sợi len mà không cần phải xử lý thêm.
Ngược lại, tùy theo mục đích của các sản phẩm đã được chải kỹ mà có thể lựa chọn 1 trong 2 quá trình sau, hoặc là quá trình mà những bó sợi đã được chải thô thì sẽ được chải kỹ, hoặc là lựa chọn quá trình mà lông động vật hay lông cừu chưa được chải thô nhưng trước khi chải kỹ phải trải qua quá trình “chuẩn bị” trong đó sợi được đưa vào máy lược để xử lý và các sợi lấy ra sẽ ở dạng thẳng.
Trong quá trình chải kỹ, những sợi ngắn sẽ bị loại ra, chủ yếu ở dạng sợi vụn, trong khi những sợi còn lại sẽ được xắp song song ở dạng một cúi sợi (sliver). Các tạp chất xenlulo còn lại sẽ bị kéo ra cùng với các sợi vụn. Cúi sợi (sliver) đã được chải kỹ sau đó được lấy ra và lược lại để đảm bảo không bị lẫn các sợi có độ dài khác nhau bởi có thể có sợi bị lỗi trên cuộn sợi, được biết như là “đầu mẩu”. Các loại nguyên liệu chủ yếu là lông động vật, chúng không ở dạng cuộn tròn mà thường ở dạng cuộn nén và được ép chặt giữa 2 bản giấy và được gọi là “Bumped Tops”. Những sợi sau khi đã chải kỹ được kéo và bện ra những sợi thô (roving). Những sợi bị lỗi trên các ống suốt sẽ được xe thành những sợi len (worsted yarn).
Nhóm này bao gồm những sợi thô (slubbing), cúi sợi (sliver) đã chải thô, đầu mẩu sợi và sợi thô (roving) đã đề cập ở trên và cũng bao gồm những sợi bị gãy gập, sợi đã tỉa hay những sợi thô bị gãy gập đã được chải thô mà nó được cắt và sắp xếp ở độ dài đều nhau.
Nhóm này cũng bao gồm cả lông cừu rối đã chải kỹ được biết như “lông cừu tơi đã chải kỹ”, “Lông cừu đã lược sạch” “cúi sợi”. Lông cừu này, nói chung đã được tẩy sạch là lông cừu mà đã được bạt ba via bằng máy (quá trình chải thô hay chải kỹ) bằng máy và được sử dụng để xe sợi. Sau khi lấy ra khỏi máy chải kỹ, tiếp theo sợi được kéo thẳng cho hết nếp gấp, làm cho mịn và sau đó được đóng kiện. Sản phẩm sợi có độ dài ngắn (độ dài trung bình là dưới 45mm) chỉ phù hợp cho hệ thống xe sợi bông hay len nhưng không thể dùng làm sợi len xe. Bởi vậy cần phải chải thô lại trước khi xe. Nhìn bề ngoài, sợi này giống như lông cừu mịn đã tẩy sạch và không còn lẫn các chất thực vật trong đó.
Cần phải lưu ý rằng những sợi thô (roving) có thể có đường kính như là những sợi xe đơn thuộc nhóm 51.06 đến 51.10 cũng có thể đã được xoắn nhẹ, nhưng vì chưa từng được xe, chúng không làm thành sợi xe và do đó vẫn thuộc nhóm này.
Các quá trình như tẩy trắng, nhuộm màu không ảnh hưởng tới sự phân loại các sản phẩm trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hoặc 56.01)
(b) Lông cừu được chế biến để dùng làm tóc giả hay tương tự (nhóm 67.03)
o
o o
Chú giải Phân nhóm
Phân nhóm 5105.31
Các điều khoản của Chú giải Phân nhóm 5102.11 được sửa đổi phù hợp để áp dụng tương tự với các mặt hàng của phân nhóm này.
5106.10 - Có hàm lượng lông cừu chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng
5106.20 - Có hàm lượng lông cừu chiếm dưới 85% tính theo khối lượng
Nhóm này bao gồm những sợi len đơn hay những sợi len chập từ nhiều sợi đơn, thu được từ việc xe những sợi thô của lông cừu đã chải thô (nhưng chưa chải kỹ). Nhóm này cũng bao gồm cả những sợi xe đã chải thô và chải kỹ, thu được từ những sợi riêng lẻ đã chải thô nhưng qua những quá trình xe như đối với sợi đã chải kỹ. Tất cả những sợi này thường được quấn trên các cuộn sợi hay những suốt chỉ hình nón.
Nhóm này cũng gồm cả sợi lảm từ lông cừu đã chải thô thu được từ lông cừu rối đã chải kỹ như đã được mô tả trong Chú giải chi tiết của nhóm 51.05.
Nhóm này loại trừ những sợi đã được đóng gói để bán lẻ (xem các điều khoản của Phần (I) (B) (3) của Chú giải tổng quát phần XI).
Nhóm này cũng gồm những sợi ngắn hay hỗn hợp cả sợi ngắn và dài mà không được sắp song song nhưng được để lẫn và đan với nhau. Nhìn chung, những sợi này ít đều và độ xoắn lỏng hơn là những sợi len xe.
Những sợi này cũng có thể đã trải qua các quá trình như đã đề cập ở phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát phần XI.
Những sợi xe từ nhiều sợi đơn trong đó có một số được xe từ lông cừu đã chải thô và 1 số từ lông cừu đã chải kỹ như đã phân loại trong nhóm 51.06 hoặc 51.07 tùy lông cừu đã chải thô hay lông cừu đã chải kỹ trội hơn về trọng lượng.
5107.10 - Có hàm lượng lông cừu chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng
5107.20 - Có hàm lượng lông cừu chiếm dưới 85% tính theo khối lượng
Nhóm này gồm nhũng sợi len xe ở dạng sợi đơn hay sợi chập từ nhiều sợi đơn thu được qua quá trình xe những sợi thô (roving) từ lông cừu đã chải kỹ.
Nhóm này loại trừ những sợi trên nếu đã đóng gói để bán lẻ (xem các điều khoản của Phần (I) (B) (3) của Chú giải tổng quát thuộc Phần XI).
Sợi len xe (worsted yarn) khác với sợi len thường là nó nhẵn và đều; các sợi lông trong sợi len xe được sắp song song và những sợi lông vụn hay rối đã bị loại ra bởi quá trình chải kỹ.
Những sợi này có thể trải qua các quá trình đã được đề cập trong Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI).
Nhóm này không bao gồm những sợi từ lông cừu đã chải thô thu được từ lông cừu đã chải kỹ, ở dạng từng đoạn hoặc sợi đã chải thô và chải kỹ (nhóm 51.06).
5108.10 - Chải thô
5108 20 - Chải kỹ
Nhóm này gồm những sợi đơn hoặc sợi xe từ nhiều sợi đơn thu được bởi quá trình xe những sợi thô (roving) lấy từ lông động vật loại mịn đã chải thô hay chải kỹ (xem Chú giải chi tiết nhóm 51.02 phần giải thích về lông động vật loại mịn là loại gì).
Nhóm này loại trừ loại sợi trên nếu đã đóng gói để bán lẻ (xem các điều khoản của Phần (I) (B) (3) của Chú giải tổng quát Phần XI).
Sợi ở nhóm này phần lớn được sử dụng để sản xuất các mặt hàng dệt kim hay dệt thoi để may quần áo loại nhẹ (lông alpaca) và áo khoác ngoài hoặc chăn (lông lạc đà bao gồm cả lạc đà một bướu), làm đồ nhung hoặc đồ giả lông thú.
Những sợi này có thể đã trải qua các quá trình đã được đề cập trong Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
5109.10 - Có hàm lượng lông cừu hoặc lông động vật loại mịn chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng
5109.90 - Loại khác
Nhóm này gồm cả sợi len xe (worsted yarns) hay sợi len thường hay sợi làm từ lông động vật loại mịn, khi đóng gói để bán lẻ ở các dạng và là đối tượng đáp ứng các điều kiện như đã mô tả trong Phần (I) (B) (3) của Chú giải tổng quát Phần XI).
Nhóm này bao gồm:
(1) Sợi, dù là sợi đơn hay sợi xe thu được từ quá trình xe sợi thô (roving) lấy từ lông động vật loại thô (xem Chú giải chi tiết nhóm 51.02 (mục (2)) về giải thích lông động vật loại thô là gì).
Những sợi này được dùng để sản xuất vải dệt thoi nhất định, các lớp lót hay những mặt hàng phục vụ kỹ thuật.
(2) Sợi xe từ lông đuôi hoặc bờm ngựa thu được qua quá trình xe sợi, thường là sử dụng lông đuôi hoặc bờm ngựa ngắn hơn (bờm của các loài ngựa hay đuôi các loài bò). Các sợi lông đuôi dài hơn của các động vật thuộc họ ngựa không thể kéo thành sợi. Chúng thường được nối với nhau thành các sợi dài liên tục được sử dụng làm sợi dọc trong sản xuất một số loại vải nhất định làm từ lông đuôi ngựa. Theo mục đích sử dụng, những sợi đã nối dài liên tục được phân loại trong nhóm này. Tuy nhiên, những lông đuôi hoặc bờm ngựa mà chưa được nối với nhau thì thuộc nhóm 05.11.
Những sợi lông đuôi hoặc bờm ngựa bao gồm một bó lông đuôi hoặc bờm ngựa được liên kết hoặc được bọc với chỉ bông hoặc với các nguyên liệu dệt khác được phân loại trong nhóm này.
Những sợi này cũng có thể đã trải qua các quá trình đã được đề cập trong Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
- Có hàm lượng lông cừu hoặc lông động vật loại mịn chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng:
5111.11 - - Định lượng không quá 300 g/m2
5111.19 - - Loại khác
5111.20 - Loại khác, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với sợi filament nhân tạo
5111.30 - Loại khác, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với xơ staple nhân tạo
5111.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các mặt hàng dệt thoi (như đã định nghĩa trong mục (I) (C) của Chú giải tổng quát Phần XI) làm bằng các sợi xe từ lông cừu đã chải thô hay lông động vật dạng mịn đã chải thô.
Những mặt hàng dệt này rất đa dạng và bao gồm vải may complê, vải flannel, vải mềm (molleton) và các loại khác để may quần áo, chăn, hàng dệt làm đồ trang trí nội thất...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).
(b) Vải dệt thoi phục vụ cho kỹ thuật ở nhóm 59.11.
- Có hàm lượng lông cừu hoặc lông động vật loại mịn chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng:
5112.11 - - Định lượng không quá 200 g/m2:
5112.19 - - Loại khác
5112.20 - Loại khác, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với sợi filament nhân tạo
5112.30 - Loại khác, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với xơ staple nhân tạo
5112.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm những mặt hàng dệt thoi (đã định nghĩa trong mục (I) (C) của Chú giải Tổng quát Phần XI) làm từ sợi được xe từ lông cừu đã chải kỹ hay lông động vật dạng mịn đã chải kỹ.
Những mặt hàng dệt này rất đa dạng như các mặt hàng dùng để may com-lê và các vải khác dùng để may quần áo, hàng dệt làm đồ trang trí nội thất...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).
(b) Vải dệt thoi phục vụ cho kỹ thuật trong nhóm 59.11.
Nhóm này gồm cả vải dệt thoi (như đã chỉ rõ trong mục (I) (C) của Chú giải Tổng quát Phần XI) làm từ lông động vật dạng thô trong nhóm 51.02 hay từ lông đuôi hoặc bờm ngựa (nhóm 51.10). Mặc dù vậy, các mặt hàng dệt thoi từ lông đuôi hoặc bờm ngựa có thể dệt từ những sợi lông đơn của nhóm 05.11.
Các mặt hàng dệt từ lông động vật loại thô được sử dụng làm lớp bọc trong các đồ nội thất, đồ đạc trong nhà hay kể cả lớp lót áo khoác...
Những mặt hàng dệt từ những sợi lông ngựa đơn thì được dệt trên các dụng cụ dệt đặc biệt, nhưng nói chung là dệt tay. Tính theo độ ngắn của sợi lông (từ 20 tới 70 cm), những sản phẩm dệt ra chỉ là những miếng vải nhỏ và chủ yếu được sử dụng làm cái rây hay giần sàng.
Loại vải làm từ lông ngựa khác thường được sử dụng làm lớp lót trong quần áo.
Nhóm này không bao gồm các loại vải dệt thoi sử dụng cho kỹ thuật ở nhóm 59.11.