1. Hỗn hợp của các sản phẩm thuộc các nhóm từ 09.04 đến 09.10 được phân loại như sau:
a) Hỗn hợp của hai hay nhiều sản phẩm thuộc cùng một nhóm cũng được xếp trong nhóm đó;
(b) Hỗn hợp của hai hay nhiều sản phẩm thuộc các nhóm khác nhau cũng được xếp trong nhóm 09.10.
Việc pha thêm các chất khác vào các sản phẩm thuộc các nhóm từ 09.04 đến 09.10 (hoặc vào hỗn hợp đã nêu trong mục (a) hoặc (b) trên đây) sẽ không ảnh hưởng tới việc phân loại sản phẩm nếu như hỗn hợp mới vẫn giữ được đặc tính cơ bản của các mặt hàng thuộc các nhóm đó. Trong các trường hợp khác các hỗn hợp mới đó không được phân loại trong Chương này; gia vị hỗn hợp hoặc bột canh hỗn hợp được phân loại trong nhóm 21.03.
2. Chương này không bao gồm hạt tiêu Cubeb (Piper cubeba) hoặc các sản phẩm khác thuộc nhóm 12.11.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm:
(1) Cà phê, chè và chè Paragoay.
(2) Gia vị, tức là nhóm các sản phẩm rau (kể cả hạt,...), có hàm lượng tinh dầu và hương liệu cao, chủ yếu được sử dụng làm gia vị nhờ hương vị đặc trưng.
Những sản phẩm này có thể được giữ nguyên dạng hoặc xay hoặc tán thành bột.
Về phần phân loại những hỗn hợp các sản phẩm thuộc các nhóm từ 09.04 đến 09.10, xem Chú giải 1 của Chương này. Theo như quy định của Chú giải này, việc pha thêm các chất khác vào các sản phẩm thuộc các nhóm từ 09.04 đến 09.10 (hoặc vào các hỗn hợp đã nêu trong đoạn (a) và (b) của Chú giải Chương nêu trên) sẽ không ảnh hưởng đến việc phân loại các sản phẩm đó miễn là hỗn hợp mới vẫn giữ được đặc tính cơ bản của các mặt hàng thuộc các nhóm đó.
Cụ thể áp dụng cho các gia vị và hỗn hợp gia vị được pha thêm:
(a) Chất pha loãng (trên cơ sở “lan truyền”) được thêm vào giúp cho việc lấy liều lượng và trộn gia vị vào các chế phẩm thực phẩm dễ dàng hơn (bột ngũ cốc, vỏ bánh mỳ tán vụn, đường dextrose,...).
(b) Màu thực phẩm (ví dụ: xanthophyll).
(c) Những sản phẩm thêm vào để làm dậy mùi gia vị (phụ gia), như là mì chính (sodium glutamate).
(d) Những chất như muối hoặc chất chống oxy hoá được thêm vào, thường với lượng nhỏ, để bảo quản sản phẩm và giữ hương vị được lâu hơn.
Các loại gia vị (bao gồm cả gia vị hỗn hợp) được cho thêm một số chất thuộc các Chương khác, nhưng bản thân chúng có đặc tính gia vị hoặc hương thơm riêng, vẫn được phân loại vào Chương này với điều kiện lượng các chất thêm vào không làm thay đổi đặc tính cơ bản là gia vị của hỗn hợp đó.
Chương này cũng bao gồm cả những hỗn hợp có chứa cây, các phần của cây, hạt hoặc quả (để nguyên dạng, được cắt nhỏ, nghiền hoặc tán thành bột) thuộc những loài nằm trong các Chương khác (ví dụ, các Chương 7, 9, 11, 12), được sử dụng trực tiếp để tạo hương cho đồ uống hoặc để chiết xuất dùng sản xuất đồ uống,
(i) nếu đặc tính cơ bản được xác định bởi một hay nhiều loại của cùng một nhóm từ 09.04 đến 09.10 (các nhóm từ 09.04 đến 09.10 tuỳ từng trường hợp);
(ii) nếu đặc tính cơ bản được xác định bởi một hỗn hợp các loại của hai hay nhiều nhóm từ 09.04 đến 09.10 (nhóm 09.10).
Tuy nhiên, Chương này không bao gồm những hỗn hợp trên nếu đặc tính cơ bản không được xác định bởi các loại nêu tại phần (i) hoặc bởi các hỗn hợp nêu tại phần (ii) ở trên (nhóm 21.06).
Ngoài ra Chương này cũng không bao gồm:
(a) Các loại rau (ví dụ: mùi tây, ngải thơm, cải xoong, kinh giới ngọt, rau mùi và thì là) thuộc Chương 7.
(b) Hạt mù tạt (cải cay) (nhóm 12.07); bột mù tạt đã hoặc chưa chế biến (nhóm 21.03).
(c) Hublong (hoa bia) (nhóm 12.10).
(d) Một số loại quả, hạt và các bộ phận của cây mà, mặc dù chúng có thể được sử dụng làm gia vị, chúng thường được sử dụng vào quá trình chế tạo nước hoa hoặc trong chế biến thuốc (nhóm 12.11) (ví dụ, muồng, hương thảo, kinh giới ô dại, húng, borage, bài hương, các loại bạc hà, cửu lý hương và cây xô thơm).
(e) Gia vị và bột canh hỗn hợp (nhóm 21.03).
- Cà phê, chưa rang:
0901.11 - - Chưa khử chất caffeine
0901.12 - - Đã khử chất caffeine
- Cà phê, đã rang:
0901.21 - - Chưa khử chất caffeine
0901.22 - - Đã khử chất caffeine
0901.90 - Loại khác
Nhóm này gồm:
(1) Cà phê nguyên liệu dưới tất cả các dạng, tức là: còn trong quả, mới thu hoạch; dạng hột hoặc hạt còn vỏ lụa màu vàng nhạt; dạng hột và hạt đã lột vỏ lụa.
(2) Cà phê đã khử chất caffeine bằng cách ngâm hột nguyên liệu vào các dung môi khác nhau.
(3) Cà phê đã rang (đã hoặc chưa khử chất caffeine) đã hoặc chưa xay, nghiền.
(4) Vỏ quả và vỏ lụa cà phê.
(5) Các chất thay thế cà phê có chứa cà phê theo tỷ lệ nào đó.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Sáp cà phê (nhóm 15.21).
(b) Những chiết xuất, tinh dầu và chất cô đặc cà phê (đôi khi được gọi là cà phê tan) và những chế phẩm có chứa chiết xuất, tinh dầu hoặc chất cô đặc này như là chất cơ bản; những chất thay thế cà phê rang không chứa cà phê (nhóm 21.01).
(c) Chất caffeine, alkaloid có trong cà phê (nhóm 29.39).
0902.10 - Chè xanh (chưa ủ men) đóng gói sẵn trọng lượng không quá 3 kg
0902.20 - Chè xanh khác (chưa ủ men)
0902.30 - Chè đen (đã ủ men) và chè đã ủ men một phần, đóng gói sẵn trọng lượng không quá 3kg
0902.40 - Chè đen khác (đã ủ men) và chè khác đã ủ men một phần
Nhóm này bao gồm các loại chè khác nhau được lấy từ các cây thuộc giống thực vật Thea (Camellia).
Việc chế biến chè xanh về cơ bản gồm sấy nóng lá tươi, cuộn lại và làm khô. Chè đen được chế biến bằng cách cuộn lại lá chè và ủ men trước khi đun lửa hoặc làm khô.
Nhóm này cũng bao gồm cả chè được ủ men một phần (ví dụ: chè Oolong).
Nhóm này bao gồm hoa chè, búp chè và những vụn chè, cũng như chè được tán thành bột (lá, hoa hoặc búp) được ép thành hòn hoặc viên, cũng như chè được ép thành các hình dạng và kích cỡ khác nhau.
Chè tẩm hương bằng hơi nước (ví dụ trong quá trình ủ men) hoặc cho thêm tinh dầu (ví dụ tinh dầu chanh hoặc cam bergamot), hương nhân tạo (có dạng tinh thể hoặc bột) hoặc các phần của những hoa, quả hoặc cây thơm khác (ví dụ, hoa nhài, vỏ cam khô hoặc nụ đinh hương khô) cũng được phân loại vào nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm cả chè đã được khử caffeine, nhưng loại trừ caffeine (nhóm 29.39).
Ngoài ra nhóm này cũng không bao gồm các sản phẩm không phải lấy từ các cây thuộc giống thực vật Thea nhưng đôi khi cũng gọi là “chè”, ví dụ:
(a) Chè Paragoay (nhóm 09.03).
(b) Những sản phẩm dùng để pha chế thảo mộc hoặc pha chè thảo dược. Chúng được phân loại, ví dụ, vào các nhóm 08.13, 09.09, 12.11 hoặc 21.06.
(c) “Chè” sâm (hỗn hợp chiết suất sâm với lactoza hoặc glucoza) (nhóm 21.06).
Chè Paragoay gồm lá khô của một số loại cây bụi thuộc họ "nhựa ruồi" mọc ở vùng Nam Mỹ. Người ta thường gọi là "chè Paragoay" hoặc "chè Jesuits (dòng Tên)". Chè Paragoay được sử dụng để pha đồ uống có chứa một hàm lượng nhỏ caffeine.
- Hạt tiêu:
0904.11 - - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0904.12 - - Đã xay hoặc nghiền
- Quả ớt thuộc chi Capsicum hoặc chi Pimenta:
0904.21 - - Đã làm khô, chưa xay hoặc chưa nghiền
0904.22 - - Đã xay hoặc nghiền
(1) Hạt tiêu thuộc chi Piper.
Thuật ngữ này bao gồm hạt hoặc quả của tất cả các loại cây hạt tiêu thuộc chi Piper, trừ hạt tiêu Cubeb (Piper cubera) (nhóm 12.11). Giống thương phẩm chính là hạt tiêu giống Piper nigrum, có dạng hạt tiêu đen và tiêu trắng.
Hạt tiêu đen được chế biến từ quả chưa chín bằng cách phơi nắng hoặc hun khói, đôi khi sau khi xử lý bằng nước sôi.
Hạt tiêu trắng được chế biến từ những quả sắp chín, được ngâm hoặc lên men nhẹ để tách phần thịt và vỏ ngoài của hạt. Hạt tiêu trắng cũng thường được chế biến từ hạt tiêu đen bằng cách xay xát để loại bỏ lớp vỏ bên ngoài. Trong thực tế, hạt tiêu trắng có màu xám vàng và không cay bằng hạt tiêu đen.
Hạt tiêu dài (Piper longum) là một loại hạt tiêu khác.
Nhóm này cũng bao gồm cả cám và bụi hạt tiêu.
Một số sản phẩm thực tế là ớt (pimento) nhưng lại được gọi một cách không chính xác là tiêu (pepper), ví dụ: tiêu Ấn Độ, tiêu Thổ Nhĩ Kỳ, tiêu Tây Ban Nha, tiêu Cayenne và tiêu Jamaica.
(2) Các quả đã làm khô hoặc nghiền hoặc xay thuộc chi Capsicum hoặc chi Pimenta.
Quả chi Capsicum nói chung thuộc giống Capsicum frutescens hoặc Capsicum annum và gồm hai nhóm chính, ớt và ớt cựa gà. Có nhiều giống khác nhau (ớt Cayenne, ớt Sierra leone và Zanzibar, ớt cựa gà Tây ban nha và Hung ga ri...).
Quả chi Pimenta gồm ớt Jamaica (còn gọi là ớt hương, ớt Anh quốc và ớt allspice).
Những loại quả này có chung đặc tính là có vị hăng, nồng, cay và lâu mất hương vị; tuy nhiên các giống khác của chi Capsicum không có vị cay (ví dụ: chi Capsicum annuum var.grossum (ớt ngọt)).
Nhóm này không bao gồm những quả tươi chưa nghiền hoặc xay thuộc chi Capsicum hoặc Pimenta (nhóm 07.09).
0905.10 - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0905.20 - Đã xay hoặc nghiền
Đây là quả (hoặc đậu) của một loại cây dây leo thuộc họ "lan". Nó có màu đen nhạt và hương rất thơm. Có hai loại vani, dài và ngắn, và cả một giống phẩm cấp rất thấp nữa được gọi là Vanillon (thuộc dòng Vanilla pompana), mềm, gần như là nhão và lúc nào cũng nở.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Nhựa dầu vani (đôi khi còn được gọi sai là “nhựa vani” hoặc “chiết xuất vani”) (nhóm 13.02).
(b) Đường đã ướp hương vani (nhóm 17.01 hoặc 17.02).
(c) Chất vanillin (nguồn gốc hương thơm của vani) (nhóm 29.12).
- Chưa xay hoặc chưa nghiền:
0906.11 - - Quế (Cinnamomum zeylanicum Blume)
0906.19 - - Loại khác
0906.20 - Đã xay hoặc nghiền
Quế là phần vỏ trong của các cành non của một số loại cây thuộc họ Laurus. Quế Sri Lanka (Ceylon), Seychelles và Madagasca (Cinnamomum zeylanicum Blume), còn được gọi là quế thượng hạng, thường ở dạng bó gồm những mảnh vỏ mầu xanh xám cuộn lại với nhau. Quế Tàu (Cinnamomum cassia (Nees) ex Blume), quế Indonesia (Cinnamomum burmanii (C.G.Nees)) và Việt Nam (Cinnamomum loureirii Nees), còn được gọi là muồng hoặc quế thường, lấy từ các lớp vỏ dày hơn, có sọc nâu; nó thường ở dạng cuộn một lớp. Các loại quế khác bao gồm Cinnamomum obtusifolium, Cinnamomum tamala và Cinnamomum sintek.
Nhóm này cũng bao gồm quế vụn, được gọi là “quế dạng lát”, chủ yếu dùng để chiết xuất tinh dầu quế.
Hoa quế là hoa của cây quế đã được giần sàng và làm khô. Chúng có hình như cái chuỳ và dài không quá 1cm. Sau khi nghiền, chúng được trộn lẫn với quế.
Nhóm này cũng bao gồm cả quả quế.
o
o o
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 0906.11
Phạm vi của phân nhóm này giới hạn ở quế có vỏ trong của các cành non của cây hoặc cây bụi Cinnamomum zeylanicum Blume, thường được gọi là quế Sri Lanka (Ceylon), Seychelles và Madagasca.
Các loại thương phẩm phổ biến là quế dạng thanh, xếp nếp hình tổ ong, sợi mỏng và lát mỏng.
0907.10 - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0907.20 - Đã xay hoặc nghiền
Nhóm này bao gồm:
(1) Quả đinh hương, (có vị và hương thơm đặc trưng của nụ đinh hương nhưng nhẹ hơn).
(2) Nụ và hoa đinh hương, hái trước khi hoa nở và phơi khô.
(3) Thân, cành nhỏ màu nâu nhạt, hương rất đậm của hoa đinh hương.
Nhóm này loại trừ vỏ và lá đinh hương (nhóm 12.11).
- Hạt nhục đậu khấu:
0908.11 - - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0908.12 - - Đã xay hoặc nghiền
- Vỏ nhục đậu khấu:
0908.21 - - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0908.22 - - Đã xay hoặc nghiền
- Bạch đậu khấu:
0908.31 - - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0908.32 - - Đã xay hoặc nghiền
Nhóm này bao gồm:
(a) Hạt nhục đậu khấu, tròn hoặc dài, đã hoặc chưa bóc vỏ.
(b) Vỏ nhục đậu khấu, là lớp vỏ màng của hạt đậu khấu, nằm giữa phần vỏ ngoài và phần lõi hạch. Phần này, khi được cắt thành mảnh, có đặc tính giống như hạt nhục đậu khấu, thậm chí hương vị còn đậm đà hơn. Lúc tươi nó có màu đỏ tươi nhưng để lâu nó chuyển sang màu vàng và trở nên giòn và có màu trong mờ giống như sừng. Một số loại khác lại có màu nâu vàng nhạt hoặc thậm chí trắng.
(c) Bạch đậu khấu:
(1) Bạch đậu khấu chùm, gọi như vậy vì loại này mọc thành đám bám chặt vào nhau, có khi dứt được cả chùm, nhưng thường thì để rời từng quả to bằng quả nho. Chúng có màu trăng trắng, hình tròn, có ba múi, nhẹ và có màng dính; bên trong quả được chia thành ba phần chứa nhiều hạt rất thơm có vị hăng và cay.
(2) Bạch đậu khấu loại nhỏ và vừa, gần giống với bạch đậu khấu chùm về mặt cấu trúc và đặc tính, nhưng có dáng giống hình tam giác và thuôn dài hơn.
(3) Bạch đậu khấu loại to, hình tam giác, dài từ 27 đến 40 mm, và có vỏ cứng mầu nâu nhạt.
(4) Hạt sa nhân hoặc “hạt thiên đường” (Aframomum melegueta) thường được bóc vỏ rồi, hạt nhỏ và dài, có góc cạnh, sần sùi, hơi sáng như thể chúng đã được làm bóng. Chúng không có mùi, nhưng có vị hăng, cay bỏng như vị của hạt tiêu.
- Hạt của cây rau mùi:
0909.21 - - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0909.22 - - Đã xay hoặc nghiền
- Hạt cây thì là Ai cập:
0909.31 - - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0909.32 - - Đã xay hoặc nghiền
- Hạt của hoa hồi anise (tiểu hồi), hoa hồi badian (đại hồi), cây ca-rum (caraway) hoặc hạt cây thì là; hạt cây bách xù (juniper berries):
0909.61 - - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0909.62 - - Đã xay hoặc nghiền
Những loại quả hoặc hạt này được dùng làm gia vị, dùng trong ngành công nghiệp (ví dụ, trong chưng cất) và dùng trong y tế. Chúng vẫn được phân loại trong nhóm này ngay cả khi được đóng gói (ví dụ, trong túi nhỏ) để sắc thuốc hoặc pha trà thảo dược đặc biệt là hạt của hoa hồi.
Hạt của hoa hồi ở đây chỉ loại hồi xanh, hạt hình trứng, có vân sọc dài, màu xanh xám, có mùi và hương thơm rất đặc trưng. Badian là hoa hồi dạng ngôi sao.
Hạt cây rau mùi, hạt cây thì là Ai cập và hạt cây ca -rum là hạt có hương thơm của một số loại cây họ hoa tán, chủ yếu dùng trong sản xuất rượu mùi.
Hạt cây rau mùi, là hạt của cây dùng làm gia vị trong nấu ăn, có màu xám đậm, hương đậm và dễ chịu, hoặc màu xanh xám toả ra một mùi ngọt rất đặc trưng.
Quả cây bách xù có màu nâu đậm ánh xanh tím và được phủ một lớp bụi nhựa. Phần thịt quả màu đỏ, có hương thơm, vị đắng và hơi ngọt, trong quả có ba hạt nhỏ và rất cứng. Quả cây bách xù được dùng làm hương liệu cho nhiều loại đồ uống có cồn (ví dụ, rượu Gin), bắp cải muối và nhiều chế phẩm thực phẩm, và để chiết xuất lấy tinh dầu.
- Gừng:
0910.11 - - Chưa xay hoặc chưa nghiền
0910.12 - - Đã xay hoặc nghiền
0910.20 - Nghệ tây
0910.30 - Nghệ (curcuma)
- Gia vị khác:
0910.91 - - Hỗn hợp đã nêu trong Chú giải 1(b) của Chương này
0910.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(a) Gừng (kể cả gừng tươi, được tạm thời bảo quản trong muối, không thích hợp để sử dụng ngay); loại trừ gừng bảo quản trong xirô (nhóm 20.08).
(b) Nghệ tây, gồm cả đầu nhụy và vòi nhuỵ khô của hoa nghệ tây (Crocus sativus). Nghệ tây cũng có thể ở dạng bột màu đỏ da cam, có mùi đậm, xông và dễ chịu. Nghệ tây chứa chất tạo mầu ít ổn định (không bền). Nó được dùng làm gia vị và trong ngành sản xuất bánh kẹo và dược phẩm.
(c) Nghệ (Curcuma longa) đôi khi được gọi không chính xác là “nghệ tây Ấn Độ” do có màu vàng óng; củ nghệ được bán trên thị trường ở dạng nguyên củ, hoặc thường là ở dạng bột.
(d) Húng tây (kể cả húng dại) và lá nguyệt quế, đã hoặc chưa làm khô.
(e) Bột cà ri, đó là hỗn hợp theo một tỉ lệ nào đó của nghệ (curcuma), của một số gia vị khác (ví dụ: hạt mùi, tiêu đen, thì là Ai cập, gừng, nụ đinh hương) và của một số hương liệu khác (ví dụ bột tỏi), tuy không được phân loại vào Chương này nhưng được sử dụng thường xuyên như gia vị.
(f) Hạt cây rau thì là (Anethum graveolens) và hạt cây cỏ ca ri (Trigonella foenum graecum).
(g) Hỗn hợp của các sản phẩm thuộc các nhóm từ 09.04 đến 09.10 khi tách riêng các thành phần của hỗn hợp được phân loại vào các nhóm khác nhau, ví dụ hỗn hợp giữa hạt tiêu (nhóm 09.04) với các sản phẩm của nhóm 09.08.