1.- Chương này không bao gồm:
(a) Các nguyên tố hoặc các hợp chất được xác định về mặt hóa học riêng biệt trừ những trường hợp sau:
(1) Graphit nhân tạo (nhóm 38.01);
(2) Thuốc trừ côn trùng, thuốc diệt loài gặm nhấm, thuốc diệt nấm, thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng, thuốc khử trùng và các sản phẩm tương tự, đã đóng gói theo cách thức được mô tả ở nhóm 38.08;
(3) Các sản phẩm dùng như vật liệu nạp cho bình dập lửa hoặc lựu đạn dập lửa (nhóm 38.13);
(4) Các mẫu chuẩn được chứng nhận (1) nêu tại Chú giải 2 dưới đây;
(5) Các sản phẩm ghi trong Chú giải 3(a) hoặc 3(c) dưới đây;
(b) Hỗn hợp hóa chất với thực phẩm hoặc các chất có giá trị dinh dưỡng khác, dùng trong quá trình chế biến thực phẩm cho người (thường thuộc nhóm 21.06);
c) Các sản phẩm của nhóm 24.04
(d) Xỉ, tro và cặn (kể cả bùn cặn, trừ bùn cặn của nước thải), chứa kim loại, arsen hoặc hỗn hợp của chúng và thoả mãn các yêu cầu của Chú giải 3(a) hoặc 3(b) thuộc Chương 26 (nhóm 26.20);
(e) Dược phẩm (nhóm 30.03 hoặc 30.04); hoặc
(f) Chất xúc tác đã qua sử dụng của loại dùng cho tách kim loại cơ bản hoặc dùng cho sản xuất các hợp chất hóa học của kim loại cơ bản (nhóm 26.20), chất xúc tác đã qua sử dụng của loại dùng chủ yếu cho việc thu hồi kim loại quý (nhóm 71.12) hoặc chất xúc tác gồm các kim loại hoặc các hợp kim kim loại ở dạng, ví dụ, dạng bột mịn hoặc dạng lưới dệt (Phần XIV hoặc XV).
2. - (A) Theo mục đích của nhóm 38.22, thuật ngữ “mẫu chuẩn được chứng nhận” có nghĩa là các mẫu chuẩn được cấp một giấy chứng nhận công bố các giá trị của các tính chất được chứng nhận, các phương pháp để xác định những giá trị đó, độ tin cậy của mỗi giá trị phù hợp cho mục đích phân tích, kiểm định hoặc qui chiếu.
(B) Ngoại trừ các sản phẩm của Chương 28 hoặc 29, để phân loại các mẫu chuẩn được chứng nhận, nhóm 38.22 sẽ được ưu tiên trước so với bất cứ một nhóm nào khác trong Danh mục.
3. - Nhóm 38.24 kể cả những hàng hóa được nêu dưới đây, những hàng hóa này không được xếp vào bất kỳ nhóm nào trong Danh mục:
(a) Tinh thể nuôi cấy (trừ các bộ phận quang học) có trọng lượng mỗi tinh thể không dưới 2,5 g, bằng oxit magiê hoặc các muối halogen của kim loại kiềm hoặc kiềm thổ;
(b) Dầu rượu tạp; dầu dippel;
(c) Chất tẩy mực đã đóng gói để bán lẻ;
(d) Chất sửa giấy nến (stencil correctors), các chất lỏng dùng để xoá và băng để xóa khác (trừ các sản phẩm thuộc nhóm 96.12), được đóng gói để bán lẻ; và
(e) Chất thử gia nhiệt gốm sứ, nóng chảy được (ví dụ, nón Seger).
4- Trong toàn bộ Danh mục, “rác thải đô thị” có nghĩa là rác thải được thu hồi từ các hộ gia đình, khách sạn, nhà hàng, bệnh viện, cửa hàng, văn phòng,... rác thải thu được do quét vỉa hè và đường phố, cũng như rác thải thu được do phá huỷ và xây dựng. Nhìn chung rác thải đô thị chứa một lượng lớn các vật liệu như nhựa, cao su, gỗ, giấy, vật liệu dệt, thuỷ tinh, kim loại, thức ăn, đồ nội thất bị hỏng và các vật dụng bị hỏng hoặc thải loại khác. Tuy nhiên, thuật ngữ “rác thải đô thị”, không bao gồm:
(a) Vật liệu hoặc vật phẩm riêng biệt đã được phân loại từ rác thải, như phế thải nhựa, cao su, gỗ, giấy, vật liệu dệt, thuỷ tinh hoặc kim loại và pin đã qua sử dụng, được đưa vào các nhóm phù hợp của chúng trong Danh mục;
(b) Phế thải công nghiệp;
(c) Phế thải dược phẩm, như được ghi trong Chú giải 4 (k) của Chương 30; hoặc
(d) Rác thải bệnh viện, như được nêu trong Chú giải 6 (a) dưới đây.
5. - Theo mục đích của nhóm 38.25, “bùn cặn của nước thải” có nghĩa là bùn cặn thu được từ nhà máy xử lý nước thải đô thị và kể cả phế thải trước khi xử lý, các chất phát sinh do cọ rửa và bùn cặn chưa làm ổn định. Bùn cặn đã làm ổn định khi thích hợp để sử dụng như phân bón bị loại trừ (Chương 31).
6. - Theo mục đích của nhóm 38.25, khái niệm “chất thải khác” áp dụng đối với:
(a) Rác thải bệnh viện, là rác thải bẩn từ việc nghiên cứu y khoa, chẩn đoán, điều trị hoặc từ các khâu y khoa khác, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y, thường chứa các mầm bệnh và các chất dược liệu và đòi hỏi quy trình xử lý đặc biệt (ví dụ, băng bẩn, găng tay đã sử dụng và ống tiêm đã sử dụng);
(b) Dung môi hữu cơ thải;
(c) Chất thải từ dung dịch tẩy sạch kim loại, chất lỏng thuỷ lực, chất lỏng dùng cho phanh và chất lỏng chống đông; và
(d) Chất thải khác từ ngành công nghiệp hóa chất hoặc các ngành công nghiệp có liên quan.
Tuy nhiên, khái niệm “chất thải khác” không bao gồm chất thải chứa chủ yếu dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc dầu thu được từ các khoáng bitum (nhóm 27.10).
7. - Theo mục đích nhóm 38.26, thuật ngữ "diesel sinh học" nghĩa là các este mono-alkyl của các axit béo loại được sử dụng làm nhiên liệu, có nguồn gốc từ chất béo và dầu động vật hoặc thực vật, đã hoặc chưa qua sử dụng.
Chú giải phân nhóm.
1.- Phân nhóm 3808.52 và 3808.59 chỉ bao gồm những hàng hóa thuộc nhóm 38.08, chứa một hay nhiều các chất sau đây: alachlor (ISO); adicarb (ISO); aldrin (ISO); azinphos-methyl (ISO); binapacryl (ISO); camphechlor (ISO) (toxaphene); captafol (ISO); chlordane (ISO); chlordimeform (ISO); chlorobenzilate (ISO); DDT (ISO) (clofenotane (INN), 1,1,1-trichloro-2,2-bis(p-chlorophenyl)ethane); dieldrin (ISO, INN); 4,6-dinitro-o-cresol (DNOC (ISO)) hoặc muối của nó; dinoseb (ISO), các muối hoặc các este của nó; endosulfan (ISO) ethylene dibromide (ISO) (1,2-dibromoethane); ethylene dichloride (ISO) (1,2- dichloroethane); fluoroacetamide (ISO); heptachlor (ISO); hexachlorobenzene (ISO); 1,2,3,4,5,6-hexachlorocyclohexane (HCH (ISO)), kể cả lindane (ISO, INN); các hợp chất của thuỷ ngân; methamidophos (ISO); monocrotophos (ISO); oxirane (ethylene oxide); parathion (ISO); parathion-methyl (ISO) (methyl-parathion); pentachlorophenol (ISO), các muối hoặc các este của nó; perfluorooctane sulphonic axit và các muối của nó; perfluorooctane sulphonamides; perfluorooctane sulphonyl fluoride; phosphamidon (ISO); 2,4,5-T (ISO) (2,4,5- trichlorophenoxyacetic axit), các muối của nó hoặc các este của nó; các hợp chất tributyltin; trichlorfon (ISO).
2. - Phân nhóm 3808.61 đến 3808.69 chỉ bao gồm hàng hóa thuộc nhóm 38.08, chứa alpha- cypermethrin (ISO), bendiocarb (ISO), bifendthrin (ISO), chlorfenapyr (ISO), cyfluthrin (ISO), deltamethrin (INN, ISO), etofenprox (INN), fenitrothion (ISO), lambda- cyhalothrin (ISO), malathion (ISO), pirimiphos-methyl (ISO) hoặc propoxur (ISO)
3. Phân nhóm 3824.81 đến 3824.89 chỉ bao gồm hỗn hợp và chế phẩm chứa một hoặc nhiều chất sau đây: oxirane (ethylene oxide), polybrominated biphenyls (PBBs), polychlorinated biphenyls (PCBs), polychlorinated terphenyls (PCTs), tris(2,3- dibromopropyl) phosphate, aldrin (ISO), camphechlor (ISO) (toxaphene), chlordane (ISO), chlordecone (ISO), DDT (ISO) (clofenotane (INN), 1,1,1-trichloro-2,2-bis(p- chlorophenyl)ethane), dieldrin (ISO, INN), endosulfan (ISO), endrin (ISO), heptachlor (ISO), mirex (ISO), 1,2,3,4,5,6- hexachlorocyclohexane (HCH (ISO)), kể cả lindane (ISO, INN), pentachlorobenzene (ISO); hexachlorobenzene (ISO), perfluorooctane sulphonic axit và các muối hoặc các este của nó, perfluorooctane sulphonamides, perfluorooctane sulphonyl flouride hoặc tetra-, penta-, hexa-, hepta- hoặc octabromodiphenyl; các paraffin đã clo hóa mạch ngắn.
Các paraffin đã clo hóa mạch ngắn là các hỗn hợp của các hợp chất, với mức độ clo hóa đơn 48% tính theo trọng lượng, với công thức phân tử sau: CxH(2x-y+2)Cly, trong đó x=10 - 13 và y=1 - 13.
4. Theo mục đích của các phân nhóm 3825.41 và 3825.49. “dung môi hữu cơ thải” là các chất thải có chứa chủ yếu dung môi hữu cơ, không còn phù hợp để sử dụng tiếp như các sản phẩm ban đầu, được hoặc không được sử dụng cho mục đích thu hồi dung môi.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm một số lượng lớn các sản phẩm hóa học và các sản phẩm có liên quan.
Chương này không bao gồm các nguyên tố hoặc các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt (thường được phân loại trong Chương 28 hoặc 29), trừ những trường hợp sau đây:
(1) Graphit nhân tạo (nhóm 38.01).
(2) Thuốc trừ côn trùng, thuốc diệt loại gặm nhấm, thuốc diệt nấm, thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng, thuốc khử trùng và các sản phẩm tương tự, đã đóng gói theo cách thức được mô tả ở nhóm 38.08.
(3) Các sản phẩm được sử dụng như chất liệu nạp cho bình dập lửa hoặc lựu đạn dập lửa (nhóm 38.13).
(4) Các tinh thể nuôi cấy (trừ các bộ phận quang học) có trọng lượng mỗi tinh thể không dưới 2,5g oxit magiê hay halogenua của kim loại kiềm hoặc kiềm thổ (nhóm 38.24).
(5) Chất tẩy mực đã đóng gói để bán lẻ (nhóm 38.24).
Theo mục đích của Chú giải 1(b) của Chương này, thuật ngữ "thực phẩm hoặc các chất có giá trị dinh dưỡng khác" chủ yếu bao gồm các sản phẩm có thể ăn được thuộc các Phần từ I đến IV.
Thuật ngữ "thực phẩm hoặc các chất có giá trị dinh dưỡng khác" cũng bao gồm một số sản phẩm khác, ví dụ, các sản phẩm thuộc Chương 28 được sử dụng như các chất bổ sung khoáng chất trong chế biến thực phẩm, rượu đường thuộc nhóm 29.05, các axit amin chủ yếu thuộc nhóm 29.22, lecithin thuộc nhóm 29.23, các tiền vitamin và vitamin các loại thuộc nhóm 29.36, các loại đường thuộc nhóm 29.40, các sản phẩm của máu động vật thuộc nhóm 30.02 sử dụng trong chế biến thực phẩm, casein và các muối của casein thuộc nhóm 35.01, các albumin thuộc nhóm 35.02, gelatin ăn được thuộc nhóm 35.03, các chất protein ăn được của nhóm 35.04, dextrin và các loại tinh bột biến tính ăn được khác thuộc nhóm 35.05, sobitol thuộc nhóm 38.24, các sản phẩm ăn được thuộc Chương 39 (như amylopectin và amylose thuộc nhóm 39.13). Chú ý danh mục các sản phẩm này chỉ có tính chất minh họa và không được coi là đầy đủ.
Thành phần không đáng kể của "thực phẩm hoặc các chất có giá trị dinh dưỡng khác" trong một hỗn hợp sẽ không đủ để đáp ứng việc loại trừ hỗn hợp này khỏi Chương 38, khi áp dụng Chú giải 1 (b). Các chất có giá trị dinh dưỡng mà giá trị dinh dưỡng chỉ là phụ so với chức năng sử dụng như sản phẩm hóa chất của chúng, ví dụ, như chất phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến, không được coi là "thực phẩm hoặc các chất có giá trị dinh dưỡng" theo mục đích của Chú giải này. Hỗn hợp được loại trừ khỏi Chương 38 theo Chú giải 1 (b) là những loại được sử dụng cho chế biến thực phẩm cho người và được đánh giá dựa trên chất lượng dinh dưỡng của chúng.
3801.10- Graphit nhân tạo
3801.20 - Graphit dạng keo hoặc dạng bán keo
3801.30- Bột nhão carbon làm điện cực và các dạng bột nhão tương tự dùng để lót lò nung
3801.90- Loại khác
(1) Graphite nhân tạo (điện cực Graphite) là một dạng của carbon, thường được chế tạo trong lò nung điện bằng cách đốt nóng một hỗn hợp của than cốc đã được nghiền mịn (thường là than cốc dầu mỏ, song đôi khi có than cốc anthracite, than cốc retort, than cốc hắc ín...) và chất kết dính carbon (ví dụ, hắc ín hoặc nhựa đường), tới một nhiệt độ đủ cao (2500 °c đến 3000 °C) để đảm bảo "sự graphit hóa" dưới tác động của các chất xúc tác có mặt trong hỗn hợp (ví dụ, silica hoặc oxit sắt). Trước tiên hỗn hợp được ép đùn hoặc đóng đúc khuôn dưới áp suất thành các khối "màu xanh" có mặt cắt ngang hình tròn hoặc hình vuông; các khối này có thể hoặc được đốt cháy sơ bộ (được nung) ở khoảng 1000 °C và sau đó được graphit hóa, hoặc chúng có thể được tham gia trực tiếp vào quá trình graphit hóa.
Bằng phương pháp này, một sản phẩm thu được với trọng lượng riêng biểu kiến nằm trong khoảng 1,5 đến 1,6 và có cấu trúc vi tinh thể đồng nhất mà quá trình kiểm tra bằng tia X chỉ ra rằng đó là graphite. Phân tích hóa học khẳng định rằng chất này là graphit (quá trình làm kết tủa của axit graphitic).
Ngoài các cấp độ thông thường của graphit nhân tạo, nhóm này bao gồm :
(a) Dạng graphit nhân tạo cấp hạt nhân, đó là, graphite nhân tạo được chế tạo đặc biệt nó chứa lượng nguyên tố Bo không lớn hơn 1/1.000.000 (1 phần triệu), và tổng tiết diện Natron hấp thụ nhiệt nóng cực nhỏ không lớn han 5 miliban trên 1 nguyên tử. Dạng graphite này có hàm lượng tro rất thấp (không vượt quá 20/1.000.000 (20 phần triệu)), và được sử dụng như chất điều tiết hoặc chất phản xạ trong các lò phản ứng hạt nhân.
(b) Graphit nhân tạo đã được ngâm tẩm hoặc graphite nhân tạo không thấm, đó là, graphite nhân tạo, mà để tăng trọng lượng riêng biểu kiến hoặc tính không thấm của nó đối với khí, thì đầu tiên phải được ngâm tẩm trong chân không với nhựa hoặc hắc ín hoặc với dung dịch đường hoặc dung dịch các sản phẩm hữu cơ khác, và được đốt cháy lại để graphit hóa các cặn carbon của các chất phụ gia này.
Quá trình ngâm tẩm có thể được lặp lại vài lần để đạt được trọng lượng riêng biểu kiến cao hơn (1,9 hoặc lớn hơn) hoặc độ chống thấm cao. Graphite đã qua ngâm tẩm cũng có thể thuộc cấp hạt nhân.
Graphite nhân tạo ở nhóm này thường ở dạng bột, vảy, khối, tấm, thanh, que,... Sau khi cắt và gia công cơ khí hoàn thiện cao (độ dung sai cho phép và hoàn thiện bề mặt phù hợp), các graphite dạng khối và tấm được sử dụng để làm bàn chổi hoặc các sản phẩm carbon kỹ thuật điện khác thuộc nhóm 85.45 hoặc các bộ phận của lò phản ứng hạt nhân.
Nhóm này cũng bao gồm mảnh vụn, phế liệu và vật phẩm đã mài mòn, chỉ thích hợp cho việc thu hồi graphite nhân tạo.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Graphite tự nhiên (nhóm 25.04).
(b) Muội bình chưng than đá (hoặc carbon dạng khí), đôi khi bị gọi lầm là “graphite nhân tạo” (nhóm 27.04).
(c) Graphite nhân tạo đã được xử lý bề mặt, hoàn thiện bề mặt, cắt thành các hình dạng đặc biệt, tiện, khoan, nghiền,..., hoặc để tạo thành các vật phẩm. Nếu là loại được sử dụng không cho mục đích kỹ thuật điện thì thường thuộc nhóm 68.15 (ví dụ, bộ lọc, đĩa, vòng bi, khuôn đúc, gạch chịu axit,...); một số loại được sử dụng cho các mục đích kỹ thuật điện thuộc nhóm 85.45.
(d) Các sản phẩm chịu lửa, đã qua lửa như các loại đồ gốm, với thành phần cơ bản là graphite nhân tạo (nhóm 69.02 hoặc 69.03).
(e) Các khối, tấm, thanh và các bán thành phẩm tương tự, từ graphite nhân tạo mà cũng chứa các bột của bạc (nhóm 71.06).
(2) Graphite dạng keo hoặc graphite dạng bán keo.
(a) Graphite dạng keo bao gồm các graphite tự nhiên hoặc nhân tạo mịn ở dạng keo huyền phù trong nước hoặc trong môi trường khác (ví dụ, cồn, dầu khoáng), đối với các graphite loại này có thể được thêm một lượng nhỏ các sản phẩm khác như tanin hoặc amoniac cho mục đích duy trì trạng thái huyền phù. Graphite dạng keo thường là ở thể sền sệt, và được sử dụng chủ yếu cho sản xuất chế phẩm bôi trơn hoặc làm cho nó có tính dẫn điện cao.
(b) Graphite dạng bán keo (tức là, graphite ở trạng thái bán keo huyền phù trong nước hoặc môi trường khác). Graphite dạng bán keo có thể được sử dụng cho việc điều chế dầu graphite hoặc cho sự tạo thành bề mặt graphite.
Loại graphite này chỉ bao gồm graphite dạng huyền phù keo hoặc bán keo trong bất kỳ môi trường nào, mà graphite là thành phần cơ bản.
(3) Các chế phẩm dựa trên graphite hoặc carbon khác ở dạng bột nhão, khối, tấm, hoặc các bán thành phẩm khác.
(a) Khối, tấm, thanh và các bán thành phẩm "Carbon" tương tự của Graphite kim loại hoặc các cấp độ khác.
Các thuật ngữ này bao gồm một nhóm các bán thành phẩm dạng khối, tấm,..., loại được sử dụng để làm các chổi “than” cho các máy móc hoặc thiết bị điện hoặc kỹ thuật điện, và chúng được dựa trên các vật liệu carbon (riêng chúng hoặc kết hợp với các chất khác). Chúng thường ở một số dạng sau :
(i) “Carbons” thu được do quá trình đốt cháy hỗn hợp của than cốc nghiền mịn hoặc muội đèn và graphit tự nhiên hoặc nhân tạo đã nghiền thành bột với các chất kết dính carbon như nhựa đường hoặc hắc ín ở nhiệt độ (1000°C - 1200°C) chưa đủ để thực hiện quá trình "graphit hóa" thực sự.
Cấu trúc của các sản phẩm này do đó thu được không đồng nhất; khi sử dụng kính hiển vi kiểm tra xem xét cho thấy một hỗn hợp các hạt graphit với các hạt carbon vô định hình và, trên cơ sở của các phép phân tích hóa học cho thấy rằng kết tủa của axit graphitic là yếu hơn so với các kết tủa thu được từ graphit nhân tạo.
(ii) Các thành phần của cấp độ graphit kim loại thu được từ một quá trình giống quá trình nung kết (sự kết tụ, đúc và sự đốt cháy), từ các hỗn hợp của graphit đã nghiền thành bột với bột của các kim loại cơ bản (đồng, cađimi hoặc các hợp kim của chúng). Hàm lượng kim loại này trong chúng khoảng từ 10 đến 95%.
(iii) Các loại thu được do quá trình đúc bột graphit tự nhiên hoặc nhân tạo trộn với plastic
Đặc biệt, các khối và tấm, thu được từ các vật liệu như đã mô tả ở trên thường có các kích thước khoảng 200x100x35mm hoặc 150x70x30mm. Sau khi cắt và gia công cơ khí hoàn thiện cao (độ dung sai cho phép và gia công bề mặt phù hợp) chúng được sử dụng chủ yếu để làm các chổi điện thuộc nhóm 85.45.
Các bán thành phẩm đã đề cập ở trên khi chúng chứa đựng bạc đã nghiền thành bột, được phân loại trong nhóm 71.06. Nhóm này cũng loại trừ các dạng khối mà đã cắt thành các hình dạng đặc biệt, được gia công bề mặt, đã được hoàn thiện bề mặt,... (thường thuộc nhóm 68.15 hoặc 85.45) và các sản phẩm chịu lửa, đã nung nhu gốm sứ, dựa trên carbon vô định hình hoặc graphit tự nhiên (nhóm 69.02 hoặc 69.03).
(b) Bột nhão carbon cho các điện cực.Các sản phẩm này bao gồm chủ yếu hỗn hợp than anthracite và nhựa đường hắc ín than đá (đóng vai trò như chất kết dính). Chúng thường được đóng thành dạng các khối nhỏ, được chèn vào phần trên của các vật chứa đựng bằng kim loại, ở vị trí đó chúng sẽ mềm đi khi phơi ra trước nhiệt. Vì vậy, chúng được đúc bên trong thùng chứa để tạo thành một điện cực liên tục sử dụng trong lò nung không cần phải dừng lại để thay thế các điện cực đúc sẵn đã bị mòn. Hỗn hợp phổ biến nhất của loại này là "bột nhão Soderberg".
Các bột nhão tương tự được dùng làm lớp lót cho lò nung, bột nhão sau đó sẽ rắn lên tại chỗ.
Loại này cũng bao gồm graphit ở dạng nhão, gồm một hỗn hợp của graphit ở dạng hạt (phần lớn trên 5 micrometres (microns)) với dầu khoáng, và phù hợp với việc xử lý bề mặt của máy móc hạng nặng hoặc cho sản xuất dầu nhờn đã được graphit hóa.
3802.10 - Carbon hoạt tính
3802.90 - Loại khác
(A) CARBON HOẠT TÍNH; CÁC SẢN PHẨM KHOÁNG CHẤT TỰ NHIÊN HOẠT TÍNH
Carbon và các khoáng chất được xem là hoạt tính khi cấu trúc bề mặt của chúng đã được sửa đổi bởi quá trình xử lý thích hợp (với nhiệt, hóa chất,...) nhằm làm cho chúng phù hợp với các mục đích nhất định, nhu khử màu, hấp thụ khí hoặc độ ẩm, xúc tác, trao đổi ion hoặc lọc.
Các sản phẩm này xếp vào trong hai nhóm sau:
(I) Các sản phẩm thường đặc trưng bởi bề mặt riêng rất lớn (ở mức hàng trăm m2 trên một gam), và bởi sự hiện diện của lực Van der Waals (hấp phụ vật lý) hoặc các liên kết hóa học bão hòa tự do do của các phân tử vô cơ hoặc hữu cơ (hấp phụ hóa học).
Các sản phẩm này thu được nhờ sự xử lý nhiệt hoặc xử lý hóa học một số chất thực vật hoặc chất khoáng (đất sét, bauxit,...) tồn tại dưới dạng không tinh khiết tự nhiên hoặc có thêm một số chất bên ngoài thêm vào. Quá trình xử lý này gây ra một sự biến đổi về mặt cấu trúc của chất ban đầu, kéo theo là sự gia tăng bề mặt riêng, và, trong trường hợp các chất kết tinh, có sự biến đổi mạng tinh thể do một số nguyên tử có các hóa trị khác nhau bổ sung hoặc thay thế. Các hóa trị mà do đó vẫn tự do có thể gây ra sự ngưng tụ proton hoặc electron trên bề mặt, khiến cho sản phẩm này hoạt tính như một chất hấp phụ hóa học, một chất xúc tác hoặc một chất trao đổi ion.
(II) Các sản phẩm thường có bề mặt riêng khá nhỏ (có thứ tự khoảng từ 1-100 m2/g). Mặc dù thông thường chúng có mật độ tích điện cao, các sản phẩm này không có khả năng hấp thụ phụ đáng kể và vì vậy không phải là các tác nhân khử màu. Mặt khác, trong dung dịch huyền phù có chứa nước chúng hình thành các tương tác tĩnh điện mạnh mẽ với các chất keo, làm thuận lợi hoặc ức chế sự keo tụ của chúng, và vì vậy phù hợp cho việc sử dụng như là các tác nhân lọc.
Các sản phẩm kiểu này thông thường thu được do quá trình xử lý nhiệt thích hợp. Sự có mặt của các chất kiềm trong quá trình nung đôi khi làm thúc đẩy sự tạo thành điện tích bề mặt.
Nhóm này bao gồm :
(a) Carbon hoạt tính. Carbon hoạt tính thường thu được bằng cách xử lý thực vật, khoáng chất hoặc carbon khác (than gỗ, than vỏ dừa, than bùn, than nâu, than đá, than anthracite,...) ở nhiệt độ cao với sự có mặt của hơi nước, CO2 hoặc các khí khác (sự hoạt hóa bằng khí), hoặc bằng cách nung khô các vật liệu cellulose được tẩm với một số dung dịch hóa chất nhất định (sự hoạt hóa bằng hóa chất).
Carbon hoạt tính được sử dụng như một loại bột mịn cho việc khử màu chất lỏng ở nhiều ngành công nghiệp (chế biến đường hoặc glucose, công nghiệp dầu ăn hoặc rượu vang, dược phẩm,...). Ở dạng hạt, nó được sử dụng để hấp phụ hơi nước (ví dụ, trong thu hồi các dung môi dễ bay hơi trong các quá trình làm sạch khô, loại bỏ benzen từ khí than đá), để làm sạch nước hoặc không khí, như một lớp bảo vệ chống lại các khí độc, trong quá trình xúc tác, hoặc cho việc loại bỏ tích tụ khí ở các điện cực trong quá trình điện phân (sự phân cực).
(b) Các sản phẩm khoáng chất tự nhiên hoạt tính khác như:
(1) Diatomite hoạt tính. Bao gồm đất tảo cát (kieselguhr) hoặc đất hóa thạch silic được lựa chọn khác, được khử canxi nếu cần thiết bằng các axit, được nung có sự tiếp xúc của các tác nhân thiêu kết như natri clorua hoặc natri carbonate và sau đó được nghiền và phân loại bởi các biện pháp thích hợp. Tuy nhiên, diatomite được nung mà không có thêm các tác nhân thiêu kết thì bị loại trừ (nhóm 25.12).
(2) Một số khoáng chất phun ra từ núi lửa, như là đá trân châu, mà sau khi nghiền nhỏ, sẽ chịu “tác động” nhiệt trong lửa rất nóng (1000 °C hoặc cao hơn), và sau đó được nghiền lại và phân loại. Đá trân châu đã hoạt tính có dạng bột màu sáng rất nhẹ. Khi kiểm tra bằng kính hiển vi cho thấy đá trân châu gồm những vảy trong suốt, rất mỏng có bề mặt cong.
Hai kiểu sản phẩm đã trích dẫn tại mục (1) và (2) ở trên có trọng lượng riêng biểu kiến rất thấp và là môi trường lọc được sử dụng chủ yếu trong việc điều chế các sản phẩm hóa chất và dược phẩm (đặc biệt là thuốc kháng sinh), trong sản xuất đường hoặc glucose, trong chế biến đồ uống, cho quá trình lọc nước,....
(3) Đất sét hoạt tính và đất hoạt tính. Các loại này bao gồm đất sét hoặc đất có chứa đất sét ở dạng keo chọn lọc được hoạt hóa, tùy theo mục đích sử dụng của chúng bằng axit hoặc kiềm, được làm khô rồi nghiền. Khi được hoạt hóa bằng kiềm, chúng thành chất nhũ hóa, chất huyền phù và các chất kết tụ; đặc biệt, các sản phẩm này được sử dụng trong việc sản xuất các chế phẩm đánh bóng hoặc làm sạch, và, do các đặc tính nổi trội của chúng, được sử dụng cho việc cải thiện cát làm khuôn và bùn khoan. Khi được hoạt hóa bằng axit, chúng được sử dụng chủ yếu để khử màu dầu, chất béo hoặc sáp động vật, thực vật và khoáng chất.
(4) Bauxit hoạt hóa. Bauxit thường được hoạt hóa bằng kiềm hoặc bằng cách xử lý nhiệt thích hợp. Nó được sử dụng chủ yếu như là một chất xúc tác, một chất làm khô và tác nhân khử màu.
Nhóm này cũng không bao gồm :
(a) Các sản phẩm khoáng hoạt tính tự nhiên (ví dụ, đất tẩy màu), chúng chưa trải qua bất kỳ quá trình xử lý nào làm thay đổi cấu trúc bề mặt của chúng (Chương 25).
(b) Các sản phẩm hóa học hoạt tính như là nhôm hoạt tính (nhóm 28.18), silica gel hoạt tính (nhóm 28.11 hoặc 38.24), chất trao đổi ion zeolite nhân tạo (nhóm 28.42 hoặc, nếu chứa chất kết dính, nhóm 38.24) và chất trao đổi ion của than đá đã sunphonat hóa (nhóm 38.24).
(c) Carbon hoạt tính có đặc tính dược học (nhóm 30.03 hoặc 30.04) hoặc được đóng gói để bán lẻ như các chất khử mùi cho tủ lạnh, ô tô,... (nhóm 33.07).
(d) Chất xúc tác gồm một sản phẩm hóa học (ví dụ, oxit kim loại) được gắn trên nền một vật liệu hoạt tính (ví dụ, carbon hoạt tính hoặc diatomite hoạt tính) (nhóm 38.15).
(e) Đá trân châu trương nở ở dạng hạt nhỏ hình cầu có trọng lượng nhẹ (nhóm 68.06).
(B) MUỘI ĐỘNG VẬT, KẺ CẢ TÀN MUỘI ĐỘNG VẬT
Nhóm này bao gồm một số loại muội khác nhau thu được bằng cách carbon hóa các vật liệu nguồn gốc động vật, cụ thể là:
(1) Muội xương thu được bằng cách nung xương đã tách mỡ trong một bình kín. Nó là một sản phẩm màu đen có nhiều lỗ rỗng chỉ chứa một hàm lượng thấp carbon tinh khiết (khoảng 10 đến 20% trọng lượng của nó trừ khi được xử lý bằng axit thì hàm lượng carbon cao hơn nhiều). Nó ở dạng bột, hạt, bột nhão, hoặc mảnh có hình dạng xương hoặc mảnh xương được sử dụng cho chế phẩm của nó. Muội xương là một chất khử màu được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt trong công nghiệp đường, và nó cũng được sử dụng như một thuốc màu đen, ví dụ, sử dụng trong sản xuất chất đánh bóng và một số loại mực.
Tàn muội xương được sử dụng như một loại phân bón và cũng được sử dụng cho việc sản xuất thuốc màu đen.
(2) Muội máu thu được bằng cách nung máu khô trong một bình kín. Nó thường được sử dụng như một tác nhân khử màu.
(3) Muội ngà thu được bằng cách nung nóng các phế thải của ngà. Sản phẩm này, thường ở dạng bột màu đen sẫm, rất mịn hoặc dạng hình nón không đều, nhỏ, được sử dụng làm thuốc vẽ cho họa sỹ.
(Thuật ngữ "muội ngà" đôi khi được sử dụng để mô tả một số mức độ đặc biệt của muội xương).
(4) Muội da thuộc, muội của sừng, muội của móng, muội của mai rùa,....
Dầu tall (đôi khi được xem như là Colophan lỏng) thu được từ dung dịch màu đen thải ra từ sản xuất bột giấy gỗ bằng một quá trình kiềm hóa hoặc, cụ thể hơn là, bằng quá trình sulphate. Khi dung dịch này được rót vào bể lắng, một lượng bọt tạo thành trên bề mặt của nó. Dầu tall thô thu được khi lượng bọt này bị đun nóng và axit hóa, thường là bằng axit sunphuric loãng.
Dầu tall thô là một hỗn hợp axit béo sền sệt, màu nâu thẫm (chủ yếu là axit oleic và linoleic và một số đồng phân của chúng), axit nhựa (đặc biệt một số dạng của abietic), và một lượng nhỏ hơn các sản phẩm không thể xà phòng hóa được (sterol, các rượu bậc cao và nhiều hợp chất không tinh khiết khác), theo các tỷ lệ thay đổi theo bản chất của gỗ.
Dầu tall đã được tinh chế có thể thu được bằng cách chưng cất dầu tall thô dưới áp suất rất thấp (dầu tall đã được chưng cất) hoặc bằng các cách khác (ví dụ, xử lý bằng dung môi chọn lọc hoặc đất hoạt tính). Nó là một loại chất lỏng màu vàng nhạt bao gồm chủ yếu là một số axit béo và axit nhựa.
Dầu tall được sử dụng, không kể những cái khác, cho việc chế biến nhũ tương để phủ mặt đường, xà phòng thường, xà phòng kim loại, chất thấm ướt và chất nhũ hóa dùng trong công nghiệp dệt hoặc công nghiệp giấy, dầu khô được sử dụng trong sản xuất vecni, sơn hoặc vải sơn, dầu cho gia công kim loại, chất khử trùng, ma tít,...; nó cũng được sử dụng như chất hóa dẻo cho cao su và ngày càng sử dụng nhiều như nguồn của axit béo của dầu tall và axit nhựa cây của dầu tall.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Dầu tall đã xà phòng hóa, thu được bằng cách trung hòa dầu tall đã chưng cất bởi một số phương pháp kiềm hóa (NaOH hoặc KOH) (nhóm 34.01).
(b) Dung dịch còn lại (dư) lấy từ sản xuất bột giấy gỗ bằng quá trình soda hoặc sunphate, đã hoặc chưa được cô đặc, và lượng bọt được tách ra từ dung dịch này trong các bể lắng (nhóm 38.04)
(c) Axit nhựa dầu tall, chủ yếu bao gồm một hỗn hợp axit nhựa tách ra từ các axit béo của dầu tall (nhóm 38.06).
(d) Hắc ín Sunphat (hắc ín của dầu tall), cặn của quá trình chưng cất dầu tall (nhóm 38.07).
(e) Các axit béo của dầu tall chứa 90% trở lên tính theo trọng lượng của axit béo (tính theo trọng lượng của sản phẩm khô), được tách ra từ hầu hết các axit nhựa của dầu tall bằng cách chưng cất phân đoạn trong chân không hoặc bằng cách khác (nhóm 38.23).
Nhóm này bao gồm :
(1) Dung dịch kiềm thải ra từ quá trình sản xuất bột giấy từ gỗ do quá trình sulphite, đã hoặc chưa cô đặc, khử đường hoặc xử lý hóa học. Dung dịch kiềm sulphit cô đặc bao gồm chủ yếu là muối của axit lignosulphonic trộn với đường và các sản phẩm khác. Nó thường ở dạng chất lỏng nhớt, bột nhão dính màu nâu nhạt, khối màu đen nhạt có các vết nứt trong suốt (trong trường hợp này, đôi khi nó được xem như là hắc ín sulphite hoặc hắc ín cellulose), hoặc ở dạng bột khô.
Dung dịch kiềm sulphite cô đặc được sử dụng như là một chất kết dính cho các khối nhiên liệu được ép hoặc cho thao đúc, trong điều chế keo hồ, chất làm bão hoà, thuốc diệt nấm hoặc tananh, cho sản xuất rượu,....
Nhóm này cũng bao gồm các lignin sulphonate, thường thu được bằng cách kết tủa dung dịch kiềm sulphite. Các sulphonate lignin được sử dụng như là một thành phần trong keo dán, như là chất phân tán, như một chất phụ gia bê tông hoặc như là các chất phụ gia bùn khoan.
(2) Dung dịch kiềm thải ra từ quá trình sản xuất bột giấy từ gỗ do quá trình soda hoặc sulphate hóa, đã hoặc chưa cô đặc, khử đường hoặc xử lý hóa học (kể cả lượng bọt mà tạo thành trên bề mặt các dung dịch kiềm này trong bể lắng). Các dung dịch kiềm này, thường có màu đen, là nguồn của dầu tall và đôi khi được sử dụng để sản xuất NaOH.
Nhóm này không bao gồm :
(a) NaOH (nhóm 28.15)
(b) Dầu tall (nhóm 38.03).
(c) Hắc ín sulphat (hắc ín của dầu tall) (nhóm 38.07).
3805.10 - Dầu turpentine gôm, dầu turpentine gỗ hoặc dầu turpentine sulphate
3805.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm chủ yếu là các sản phẩm giàu terpene (pinene, beta-pinene, limonenes,...) thu được từ quá trình tách lỏng hoặc từ gỗ nhựa của cây lá kim.
Các sản phẩm này là:
(1) Các sản phẩm dễ bay hơi của quá trình chưng cất (thông thường bằng sự chiết hơi nước) từ oleoresin (turpentine) tách ra từ cây họ thông hoặc cây lá kim khác (cây tùng, cây thông rụng lá,..). Ở một số nước, các sản phẩm này được xem như là "các tinh dầu gôm của turpentine". Tuy nhiên, ở một số nước khác, thuật ngữ "tinh dầu của turpentine" chỉ dành cho các sản phẩm dễ bay hơi nằm trong khoảng cho phép giữa điểm sôi và điểm đặc, thu được nhờ quá trình cất oleoresin tươi được tách ra từ các thân cây thông còn sống.
Chúng là những chất lỏng không màu, rất linh động, không tan trong nước, có độ khúc xạ cao và có mùi thơm hắc. Chúng được sử dụng như các dung môi, cụ thể là trong sản xuất vecni, sơn hoặc chất đánh bóng, trong điều chế thuốc dược phẩm, và trong sản xuất long não tổng hợp, terpin hydrate, terpineol,...
(2) Dầu turpentine gỗ, dầu turpentine sulphate và dầu terpenic khác được sản xuất nhờ quá trình chưng cất hoặc xử lý cách khác của gỗ cây lá kim.
(a) Turpentine gỗ, hầu hết là sản phẩm dễ bay hơi thu được nhờ quá trình chưng cất khô hoặc cất hơi nước của gốc cây hoặc các bộ phận khác của cây thông có chứa đủ nhựa.
(b) Turpentine sulphate là sản phẩm phụ của terpene dễ bay hơi thu được trong quá trình sản xuất bột giấy gỗ từ gỗ có nhựa do quá trình sulphate.
Các sản phẩm được mô tả trong đoạn này là các chất lỏng giàu terpene, và được sử dụng cho các mục đích tương tự như các tinh dầu của turpentine từ các oleoresin tách ra, đặc biệt là như các dung môi dùng trong điều chế vecni, sơn,...
(3) Dipentene thô là một loại dầu terpenic (chứa đến khoảng 80% dipentene) thu được bằng cách cất phân đoạn turpentine gỗ hoặc như một sản phẩm phụ từ quá trình sản xuất long não tổng hợp. Dipentene tinh khiết hoặc dipentene tinh khiết loại thương phẩm được phân loại trong nhóm 29.02.
(4) Turpentine sulphite là một chất lỏng màu vàng dễ bay hơi thu được như một sản phẩm phụ của quá trình sản xuất bột giấy gỗ bởi quá trình sulphite. Nó là một para-cymene thô chứa lượng nhỏ terpene và các sản phẩm khác. Nhóm này cũng bao gồm toàn bộ p-cymene thô, bất kể nguồn gốc nào.
(5) Dầu thông là phân đoạn thu được, sau turpentine gỗ, thường trong quá trình chưng cất khô hoặc cất hơi nước gốc có dầu của cây thông. Nó cũng thu được bằng phương pháp tổng hợp hóa học (ví dụ, hydrate hóa học của a-pinene). Nhóm này chỉ bao gồm dầu thông chứa a- terpineol như là thành phần chính. Dầu thông là một chất lỏng không màu hoặc có màu hổ phách, giàu a-tecpineol, chủ yếu được sử dụng trong các ngành công nghiệp dệt như một chất thấm ướt hay dung môi, dùng cho sản xuất vecni hoặc sơn, như một chất khử trùng, và dùng trong quá trình tuyển quặng kim loại bằng phương pháp tuyển nổi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hydrocarbon terpene hoặc tecpene tinh khiết hoặc tinh khiết loại thương phẩm, các hydrate terpin và tecpineol (Chương 29).
(b) Tinh dầu lá thông, mà nó là một loại tinh dầu thuộc nhóm 33.01.
(c) Dầu colophan (dầu nhựa) (nhóm 38.06).
3806.10 - Colophan và axit nhựa cây
3806.20- Muối colophan, muối của axit nhựa cây hoặc muối của các dẫn xuất của colophan hoặc axit nhựa cây, trừ các muối của sản phẩm cộng của colophan
3806.30 - Gôm este
3806.90 - Loại khác
(A) COLOPHAN VÀ AXIT NHỰA CÂY
Cả colophan và axit nhựa cây đều bao gồm chủ yếu là hỗn hợp phức của axit abietic và các axit có cùng tính chất với lượng nhỏ các chất không phải là axit. Chúng là các chất rắn, thường là trong suốt và có dạng thủy tinh. Màu của chúng có thể thay đổi từ màu vàng nhạt đến màu nâu thẫm phụ thuộc vào lượng chất tạp có mặt trong đó.
Colophan và axit nhựa cây thu được bằng các quá trình sau:
(1) Tách các sản phẩm terpenic dễ bay hơi (tinh dầu turpentine và các dung môi terpen tương tự) trong quá trình chưng cất chất nhựa dầu (oleoresinous) thu được ở dạng chất rỉ từ cây thông hoặc các cây lá kim khác (nhựa thông, nhựa galipot, nhựa baras,...).
(2) Chiết xuất dung môi từ gỗ gốc cây thông.
(3) Chưng cất phân đoạn của dầu tall, một sản phẩm phụ của công nghiệp giấy và bột giấy.
Colophan và axit nhựa cây được sử dụng trong sản xuất một số loại xà phòng, hồ giấy, trong việc điều chế vecni, chất đánh bóng, matit, mực, sáp gắn dính, chất kết dính cho thao đúc, hắc ín cho quá trình ủ rượu, bia..., và nó được xem như là vật liệu thô để sản xuất dầu colophan và dẫn xuất đã mô tả trong các Phần (B) đến (D).
(B) CÁC MUỐI CỦA COLOPHAN, CỦA AXIT NHỰA CÂY HOẶC CỦA CÁC DẪN XUẤT CỦA COLOPHAN HOẶC AXIT NHỰA CÂY, TRỪ CÁC MUỐI CỦA SẢN
PHẨM CỘNG CỦA COLOPHAN.
Các muối thuộc nhóm này bao gồm các muối của colophan, của axit nhựa cây hoặc của các dẫn xuất của colophan hoặc axit nhựa cây, trừ các muối của sản phẩm cộng của colophan. Resinat natri hoặc resinat kali thường thu được bằng cách đun sôi colophan hoặc axit nhựa cây đã được nghiền thành bột trong dung dịch KOH hoặc NaOH. Các resinate vô cơ khác thường được điều chế bằng cách làm kết tủa dung dịch resinat kali hoặc resinat natri với dung dịch muối kim loại (resinat đã kết tủa), hoặc bằng cách nấu chảy hỗn hợp colophan hoặc axit nhựa cây và một oxit kim loại (resinat đã nấu chảy). Ví dụ các sản phẩm này là các resinat của nhôm, canxi, coban, đồng, mangan, chì và kẽm.
Resinat được sử dụng để làm tăng tính khô của dầu được sử dụng trong sản xuất vec ni hoặc sơn, và trong điều chế chất khử trùng, thuốc diệt nấm,...
Nhóm này cũng bao gồm colophan đóng rắn mà chúng thu được bằng cách xử lý colophan hoặc axit nhựa cây với, ví dụ, canxi hydroxit (theo tỷ lệ khoảng 6%) nó làm cho colophan rắn lại và phù hợp hơn cho mục đích sử dụng là điều chế vecni.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Các resinat của kim loại quý (nhóm 28.43) và resinat thuộc các nhóm 28.44 đến 28.46.
(b) Các chất làm khô đã điều chế từ các resinat (nhóm 32.11).
(c) Các loại xà phòng nhựa cây thu được bằng cách xà phòng hóa hỗn hợp của các axit béo cao và colophan hoặc axit nhựa cây (nhóm 34.01), và các chế phẩm giặt khác với thành phần cơ bản là các resinat (nhóm 34.02).
(C) GÔM ESTE
Gôm este thu được bởi sự este hóa, với etylen glycol, glycerol hoặc rượu polyhydric khác, của colophan hoặc các axit nhựa cây hoặc, của các dẫn xuất của chúng đã được oxit hóa, đã được hydro hóa, đã bị khử (đã được tách hydro) hoặc polyme hóa. Các gôm este này dẻo hơn các nhựa cây tự nhiên và chính điều này làm cho chúng phù hợp để trộn với các thuốc màu và các nguyên liệu khác.
(D) LOẠI KHÁC
(I) Các dẫn xuất của colophan và axit nhựa cây.
(1) Axit nhựa cây và colophan đã oxy hóa thường thu được nhu một sản phẩm còn lại của quá trình chưng cất dung dịch chiết ra từ phần gốc của cây lá kim không nhổ lên khỏi mặt đất trong một thời gian dài dẫn đến sự oxy hóa tự nhiên hàm lượng axit nhựa trong chúng. Axit nhựa cây và colophan cũng có thể được oxy hóa nhân tạo. Axit nhựa cây và colophan đã oxy hóa được sử dụng trong điều chế keo hồ, chất nhũ tương, vecni, sơn, mực và điều chế vật liệu cách điện,...
(2) Axit nhựa cây và colophan đã được hydro hóa thu được bằng cách xử lý axit nhựa cây hoặc colophan với hydro khi có mặt một chất xúc tác. Chúng chống lại sự oxy hóa hơn so với các axit nhựa cây và colophan thông thường và làm đổi màu chậm hơn dưới sự tác động của ánh sáng. Chúng được sử dụng trong điều chế vecni, xà phòng,...
(3) Axit nhựa cây và colophan đã bị khử (đã được tách hydro) được điều chế, ví dụ, bằng sự đốt nóng axit nhựa cây hoặc colophan tới một nhiệt độ vừa phải hoặc, ở nhiệt độ cao, bằng cách sử dụng xúc tác axit; lưu huỳnh và selen cũng là những chất xúc tác hữu ích. Chúng được sử dụng trong điều chế vecni,....
(4) Axit nhựa cây và colophan đã polyme hóa thu được bằng cách xử lý axit nhựa cây hoặc colophan với axit sunphuric, và đặc biệt, được sử dụng trong điều chế vecni có độ nhớt và tính ổn định cao. Mức độ polyme hóa là rất thấp. Các axit nhựa cây và colophan đã polyme hóa thường bao gồm chất nhị trùng (dimer) và các axit chứa polyme hóa và cũng có thể được xem như colophan được nhị trùng hóa (dimerised).
(5) Các este rượu monohydric của axit nhựa cây hoặc colophan. Các este được phân loại ở đây bao gồm cả những chất đã biết như “resinat” hoặc “abietat”, ví dụ, este metyl, este etyl và este benzyl và “metyl hydroabietat”, những este đó được sử dụng, cụ thể, như các chất hóa dẻo cho dầu bóng (lacquer) cellulose.
(6) Các hỗn hợp rượu dihydroabietyl, tetrahydroabietyl và dehydroabietyl (“abietyl alcohol”).
(7) Các sản phẩm cộng của colophan và các dẫn xuất của chúng Axit nhựa cây hoặc colophan biến tính với axit fumaric, axit maleic hoặc các anhydride của nó, được sử dụng trong việc điều chế nhựa alkyd, hồ colophan và mực. Sau đó các sản phẩm cộng này có thể được este hóa với etylen glycol, glycerol hoặc polyhydric alcohols khác. Nhóm này cũng bao gồm các muối của các sản phẩm cộng của colophan như là muối của sản phẩm cộng của colophan- maleic hoặc của colophan-fumaric.
(II) Tinh dầu colophan và các loại dầu colophan.
Thông thường các sản phẩm này thu được từ axit nhựa cây hoặc colophan, bằng cách chưng cất với hơi nước quá nhiệt và một chất xúc tác, hoặc bằng cách chưng cất khô. Chủ yếu chúng là hỗn hợp phức của các hydrocarbon và có thể chứa các axit hữu cơ với lượng thay đổi tùy theo điều kiện chưng cất.
(1) Tinh dầu colophan, là phần chiết dễ bay hơi nhất, là chất lỏng có màu rơm, linh động, có mùi hăng, được sử dụng như một dung môi cho nhựa cây, dùng trong sản xuất vecni, sơn,...
(2) Dầu colophan là dung dịch ít nhiều đậm đặc, thay đổi về màu sắc và chất lượng (dầu vàng, dầu trắng, xanh hoặc nâu) và có mùi khói. Chúng được sử dụng chủ yếu để điều chế dầu bôi trơn, dầu cắt, mực in, thuốc mỡ, vecni, sơn,....
Nhóm này không bao gồm :
(a) Dầu colophan đã sulphonate hóa (nhóm 34.02).
(b) Các thành phần dễ bay hơi của quá trình chưng cất các chất chiết nhựa dầu (oleoresinous) từ cây thông còn sống hoặc các cây lá kim còn sống khác (nhóm 38.05).
(c) Hắc ín colophan (nhóm 38.07)
(III) Gôm nấu chảy
Gôm nấu chảy thu được từ chất rỉ nhựa dầu (oleoresinous) của các cây thuộc rừng nhiệt đới bằng một quá trình được gọi là "nấu chảy gôm", quá trình bao gồm sự đốt nóng phần chất ri để làm cho chúng hòa tan được trong dầu khô. Nguồn phổ biến nhất của gôm nấu chảy là nhựa copal.
Nhóm này bao gồm các sản phẩm của hỗn hợp phức thu được trong quá trình chưng cất (hoặc carbon hóa) của gỗ cây có nhựa hoặc gỗ cây không nhựa. Ngoài khí, các quá trình này cho Pyroligneous lỏng, hắc ín gỗ và than gỗ với tỷ lệ thay đổi theo tính chất gỗ sử dụng và tốc độ của quá trình chưng cất. Pyroligneous lỏng (đôi khi được biết như giấm gỗ thô), mà không là các vật liệu của thương mại quốc tế, chứa axit acetic, metanol, aceton, một phần nhỏ furfuraldehyde và rượu allyl. Nhóm này cũng bao gồm hắc ín thực vật các loại, hắc ín cho quá trình ủ rượu, bia và các hợp chất tương tự dựa trên thành phần là colophan, axit nhựa cây hay các hắc ín thực vật.
Các sản phẩm được phân loại ở đây là :
(A) Hắc ín gỗ; dầu hắc ín gỗ đã hoặc chưa khử creosote và creosote gỗ.
(1) Hắc ín gỗ thu được bằng cách rút nước ra khỏi gỗ (gỗ cây lá kim hoặc các loại gỗ cây khác) khi carbon hóa trong lò nung than (ví dụ, hắc ín của Thụy Điển hoặc hắc ín Stockholm), hoặc bằng sự chưng cất trong các nồi chưng cất hoặc lò (hắc ín đã được chưng cất). Chất cuối cùng này thu được trực tiếp bởi sự phân đoạn làm lắng tách khỏi chất lỏng pyroligneous (hắc ín đã được lắng), hoặc bằng cách chưng cất pyroligneous lỏng mà trong đó chúng được hòa tan từng phần (hắc ín hòa tan).
Hắc ín được cất từng phần từ một vài loại dầu mỏ dễ bay hơi mà chúng được tách từ đó bởi quá trình chưng cất thêm thì chúng cũng được phân loại trong nhóm này.
Tất cả các hắc ín này là những hỗn hợp phức của các hydrocarbon, phenol hoặc các đồng đẳng của chúng, furfuraldehyde, axit acetic và nhiều sản phẩm khác.
Hắc ín thu được từ gỗ cây có nhựa, khác với hắc ín thu được từ loại gỗ cây không có nhựa bởi vì chúng còn chứa các sản phẩm thu được từ quá trình chưng cất nhựa (terpene, dầu colophan,...), chúng là các sản phẩm nhớt, khoảng màu từ da cam đến nâu. Chúng được sử dụng chủ yếu (như sản phẩm thu được sau quá trình khử nước đơn giản hoặc sau quá trình chưng cất một phần) cho việc thấm tẩm vào cáp neo tàu, được sử dụng như chất hóa dẻo trong công nghiệp cao su, trong việc điều chế matit, trong y tế,...
Hắc ín thu được từ loại gỗ cây không có nhựa là chất lỏng có màu nâu-đen đậm đặc, được sử dụng chủ yếu cho điều chế, bằng cách chưng cất hoặc các cách khác, của một loạt các sản phẩm phụ (creosote gỗ, guaiacol...).
Dầu cade, cũng được xem như là dầu hắc ín của cây bách xù, được sử dụng làm thuốc và sản xuất xà phòng, dầu này cũng bao gồm trong nhóm này.
(2) Dầu hắc ín gỗ được sản xuất trong quá trình chưng cất hắc ín gỗ. Dầu nhẹ (chứa hydrocarbon béo, terpene và xeton bậc cao) được sử dụng cho việc sản xuất nước tắm cho cừu và thuốc phun cho làm vườn, và dầu nặng (chứa hydrocarbon béo và hydrocarbon thơm, xeton bậc cao và phenol bậc cao) giúp cho ngâm tẩm gỗ và để chiết xuất creosote gỗ.
Dầu đã khử creosote thu được sau quá trình chiết xuất creosote, được sử dụng tùy thuộc các đặc tính của chúng để tuyển một số quặng bằng phương pháp tuyển nổi, để điều chế một số thuốc diệt nấm, như các dung môi, chất đốt,...
(3) Creosote gỗ là một thành phần thiết yếu của hắc ín gỗ. Nó thường thu được bằng cách chưng cất hắc ín thu được từ các loại gỗ cây không có nhựa, tách nó từ phân đoạn thích hợp với NaOH, axit hóa lại và chưng cất lại. Nó là một chất lỏng không màu nhưng xuất hiện màu dưới sự tác động của không khí và ánh sáng, có mùi khói, là chất ăn mòn da và được sử dụng trong nông nghiệp như chất tẩy uế và khử trùng. Không nên nhầm lẫn với dầu creosote hoặc creosote khoáng được phân loại trong nhóm 27.07.
(B) Naphta gỗ thu được bằng cách xử lý pyroligneous lỏng. Nó là một chất lỏng màu vàng nhạt với mùi cháy khét thường chứa từ 70 - 90% metanol (metyl alcohol) với tỷ lệ khác nhau của axeton và xeton khác (thường là từ 8 - 20%) cũng như các tạp chất khác (metyl acetat, rượu bậc cao, các chất hắc ín,...). Một số loại naphta gỗ được sử dụng như chất làm biến tính đối với etanol.
(C) Hắc ín thực vật.
Đây là phần cặn của quá trình chưng cất hoặc quá trình xử lý khác của nguyên liệu thực vật. Chúng bao gồm:
(1) Hắc ín gỗ (nhựa hắc ín gỗ), là phần cặn của quá trình chưng cất hắc ín gỗ.
(2) Hắc ín colophan, là phần cặn của quá trình điều chế tinh dầu colophan và dầu colophan bằng quá trình chưng cất colophan.
(3) Hắc ín sulphat, là phần cặn thu được sau khi chưng cất dầu tall,....
Thông thường các hắc ín loại này có màu nâu-hơi đen, nâu-hơi đỏ hoặc nâu-hơi vàng. Chúng thường bị mềm đi với nhiệt độ của bàn tay. Tùy theo dạng của chúng, chúng được sử dụng, cho trám tàu (trát tàu), làm lớp phủ không thấm nước của vải dệt, thấm tẩm gỗ, điều chế lớp phủ chống gỉ, được sử dụng như vật liệu kết dính,....
(D) Hắc ín cho quá trình ủ rượu, bia và các chế phẩm tương tự làm từ colophan, axít nhựa cây hay các hắc ín thực vật.
(1) Hắc ín cho quá trình ủ rượu, bia được sử dụng nóng để phủ mặt ngoài thùng bia. Nó thường thu được từ quá trình nấu chảy hỗn hợp colophan, sáp parafin và dầu colophan, hoặc hỗn hợp dầu colophan và dầu thực vật (như là dầu hạt lanh, dầu của hạt bông hoặc dầu cây cải dầu (colza)).
(2) Sáp của thợ sửa giầy (Cobblers’ wax) được sử dụng để bôi lên chỉ khâu và xe sợi để khâu giầy và đồ yên cương, và thông thường nó bao gồm một hỗn hợp colophan, dầu colophan, sáp parafin, khoáng ozokerite,..., và chứa các chất vô cơ dạng bột (như bột talc hoặc cao lanh). Nó thường tồn tại ở dạng khối, que hoặc dạng đĩa.
(3) Hắc ín trát vỏ tàu được sử dụng để trát vỏ tàu và thường được điều chế bằng cách nấu chảy hỗn hợp hắc ín gỗ, nhựa hắc ín gỗ và colophan.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hắc ín tự nhiên Burgundy (cũng được xem như "hắc ín chảy Vosges", là nhựa tự nhiên thu được từ một số cây lá kim nhất định, và hắc ín màu vàng là hắc ín tự nhiên Burgundy được tinh chế bằng cách nấu chảy và lọc (nhóm 13.01).
(b) Hắc ín Stearin (hắc ín của stearic), hắc ín bôi trơn lên và hắc ín glyxerol (nhóm 15.22).
(c) Hắc ín khoáng từ than cốc, than bùn, dầu mỏ,... (Chương 27).
(d) Metanol (rượu metyl), loại tinh khiết hoặc tinh khiết thương phẩm, hoặc các sản phẩm đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt khác thu được bằng quá trình chưng cất lại hoặc xử lý thêm các sản phẩm ban đầu của quá trình chưng cất gỗ, ví dụ, axit acetic, aceton, guaiacol, formaldehyde, axetat,... (Chương 29).
(e) Sáp gắn (nhóm 32.14 hoặc 34.04).
(f) Nước kiềm cặn thải ra từ quá trình sản xuất bột giấy gỗ (nhóm 38.04).
(g) “Brais résineux” (Hắc ín than) (nhóm 38.06).
- Hàng hóa đã nêu trong Chú giải phân nhóm 1 của Chương này:
3808.52 - DDT (ISO) (clofenotane (INN)), đã đóng gói với trọng lượng tịnh không quá 300 g
3808.59 - Loại khác
- Hàng hóa đã nêu trong Chú giải phân nhóm 2 của Chương này:
3808.61 - Đã đóng gói với trọng lượng tịnh không quá 300 g
3808.62 - Đã đóng gói với trọng lượng tịnh trên 300 g nhưng không quá 7,5 kg
3808.69 - - Loại khác
- Loại khác:
3808.91 - - Thuốc trừ côn trùng
3808.92 - - Thuốc trừ nấm
3808.93 - - Thuốc diệt cỏ, thuốc chống nẩy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng
3808.94 - - Thuốc khử trùng
3808.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm một loạt các sản phẩm (trừ các sản phẩm mang đặc tính của dược phẩm, kể cả thuốc thú y- nhóm 30.03 hoặc 30.04) nhằm diệt trừ các vi trùng, các côn trùng gây bệnh (muỗi, nhậy, bọ hung vàng đen, gián,...), rêu và mốc, cỏ dại, loài gặm nhấm, chim rừng,... Các sản phẩm nhằm diệt trừ các loài gây hại hoặc được sử dụng để khử trùng hạt giống cũng được phân loại ở đây.
Các loại thuốc trừ côn trùng, thuốc khử trùng, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ nấm,... được sử dụng bằng cách phun, quét, tưới, phết, ngâm tẩm,..., hoặc có thể đốt cháy nếu cần thiết. Tác dụng diệt trừ có được thông qua quá trình đầu độc thần kinh, đầu độc tiêu hóa, gây ngạt thở hoặc bằng mùi dẫn dụ,....
Nhóm này còn bao gồm các sản phẩm chống nảy mầm và điều hòa sinh trưởng của cây trồng ngăn chặn hoặc tăng cường các quá trình sinh lý học ở trong cây. Với các cách thức ứng dụng khác nhau, các sản phẩm này có thể từ gây phá hủy cây đến làm tăng khả năng phát triển của thực vật và tăng năng suất thu hoạch.
Các sản phẩm được phân loại ở đây chỉ trong các trường hợp sau :
(1) Khi chúng được đóng gói (như trong các bao bì bằng kim loại hoặc bìa carton) để bán lẻ như thuốc khử trùng, thuốc trừ côn trùng,..., hoặc ở các dạng mà không thể nghi ngờ về việc chúng sẽ được bán lẻ (ví dụ, dạng viên tròn, trong vỉ đóng các viên tròn, dạng viên nén hoặc dạng dẹt).
Các sản phẩm được đóng gói bằng các cách này có thể hoặc không thể là hỗn hợp. Các sản phẩm không pha trộn chủ yếu là các sản phẩm được xác định về mặt hóa học sẽ được phân vào Chương 29, ví dụ, naphtalene, hoặc 1,4 - diclorobenzen.
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm sau đây, với điều kiện là chúng được đóng gói phục vụ cho việc bán lẻ như thuốc khử trùng, thuốc trừ nấm,...:
(a) Các sản phẩm và các chế phẩm hữu cơ hoạt động bề mặt, với cation hoạt tính (ví dụ, các muối amoni bậc bốn), có thuộc tính sát trùng, khử trùng hoặc diệt vi khuẩn.
(b) Poly(vinyl pyrolidone)- iodine, là một sản phẩm của phản ứng giữa iôt và poly(vinyl pyrolidone).
(2) Khi chúng có đặc tính của chế phẩm, ở bất kỳ hình thức nào (ví dụ, như các chất lỏng, các chất rửa hoặc các loại bột). Các chế phẩm này bao gồm các thể huyền phù hoặc thể phân tán của các sản phẩm hoạt tính trong nước hoặc trong các chất lỏng khác (ví dụ, thể phân tán của DDT (ISO) (clofenotane (INN), 1,1,1-trichioro-2,2-bis-(p-clorophenyl)ethane) trong nước), hoặc của các hỗn hợp khác. Các dung dịch của các sản phẩm hoạt tính trong các dung môi không phải là nước cũng được bao gồm ở đây (ví dụ, dung dịch của chất chiết hoa cúc (trừ loại chất chiết hoa cúc đã được tiêu chuẩn hoá), hoặc naphthenate đồng trong dầu khoáng).
Các chế phẩm trung gian, cần được pha trộn thêm để sản xuất thuốc trừ côn trùng, thuốc diệt nấm, thuốc khử trùng,... có thể sử dụng ngay, cũng được phân loại trong nhóm này, với điều kiện chúng đã có các đặc tính của thuốc trừ côn trùng, thuốc diệt nấm...
Các chế phẩm thuốc trừ côn trùng, thuốc khử trùng,... có thể có thành phần cơ bản là hợp chất đồng (đồng acetate, đồng sulphate, đồng acetoarsenite,...), của lưu huỳnh hoặc hợp chất lưu huỳnh (canxi sulphide, carbon disulphide,...), của creosote khoáng hoặc dầu anthracene, của DDT (ISO) (clofenotane (INN), 1,1,1 -trichloro-2,2-bis (p- chlorophenyl)ethane, lidane (ISO, INN), parathion, của các dẫn xuất cresol hoặc phenol, của các sản phẩm arsenic (canxi arsenate, chì arsenate,...), của các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật (nicotin, tinh chất và bột thuốc lá, rotenon, pyrethrum, hành biển đỏ, dầu cải), của thuốc điều hòa sinh trưởng của cây trồng, tự nhiên hoặc tổng hợp (ví dụ, 2,4-D), của việc nuôi cấy các vi sinh vật,....
Mồi có tẩm thuốc độc gồm sản phẩm ăn được (hạt lúa mì, cám, mật đường,....) trộn với chất độc là một ví dụ khác của các chế phẩm bao gồm trong nhóm này.
(3) Khi chúng được đóng gói thành các sản phẩm như băng, bấc và nến đã xử lý lưu huỳnh (để khử trùng và xông khói bể chứa, khu dân cư,...), giấy bẫy ruồi (kể cả những sản phẩm được phủ keo không chứa chất độc), băng mỡ dùng cho thân cây ăn quả (kể cả những loại không chứa chất độc), giấy tẩm axit salicylic dùng để bảo quản mứt, giấy hoặc các que gỗ nhỏ được phủ lindane (ISO, INN) và có tác dụng khi đốt cháy,....
*
* *
Các sản phẩm của nhóm 38.08 có thể được chia thành các nhóm sau:
(I) Thuốc trừ côn trùng
Thuốc trừ côn trùng bao gồm không chỉ các sản phẩm diệt côn trùng, mà còn bao gồm các sản phẩm có tác động đuổi hoặc thu hút côn trùng. Các sản phẩm này có thể ở nhiều dạng khác nhau như là dạng xịt hoặc khối (chống lại sâu bướm), dạng dầu hoặc que (chống muỗi), dạng bột (chống kiến), dạng dải (chống ruồi), khí cyanogen được hấp thụ trong diatomite hoặc bìa (chống lại bọ chét và rận).
Nhiều loại thuốc trừ côn trùng được đặc trưng bởi cách thức tác động hoặc phương pháp sử dụng của chúng. Trong số này có:
- thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng: hóa chất tác động vào quá trình sinh hóa và sinh lý trong côn trùng.
- thuốc xông hơi: hóa chất ở dạng khí được phun vào trong không khí.
- thuốc gây vô sinh: hóa chất được sử dụng để gây vô sinh cho các phân đoạn của một quần thể côn trùng.
- rhuốc đuổi: các chất ngăn cản sự tấn công của côn trùng bằng cách làm cho thức ăn hoặc điều kiện sống của chúng không hấp dẫn hoặc khó chịu.
- thuốc thu hút côn trùng: được sử dụng để thu hút côn trùng vào bẫy hoặc mồi tẩm thuốc độc.
(II) Thuốc trừ nấm
Thuốc trừ nấm là các sản phẩm chống lại sự sinh trưởng của nấm (ví dụ, các chế phẩm dựa trên các hợp chất đồng) hoặc các sản phẩm được thiết kế để diệt nấm đã mọc (ví dụ, các chế phẩm dựa trên formaldehyde).
Thuốc trừ nấm có thể được đặc trưng bởi cách thức tác động hoặc phương pháp sử dụng của chúng. Một số ví dụ về loại này là:
Thuốc trừ nấm toàn thân - những hóa chất này ngấm vào và di chuyển theo nhựa cây từ vùng phun thuốc tới những bộ phận khác của cây.
Thuốc xông - hoá chất trừ nấm khi được xịt lên vật liệu bị nhiễm nấm ở dạng khí.
(III) Thuốc diệt cỏ, thuốc chống nẩy mầm, thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng
Thuốc diệt cỏ là hóa chất được sử dụng để kiểm soát hoặc tiêu diệt các cây dại. Một số thuốc diệt cỏ được sử dụng để làm ngừng hoạt động các bộ phận hoặc hạt giống của cây, trong khi những loại thuốc diệt cỏ khác được dùng cho toàn bộ tán cây. Chúng có thể kiểm soát có chọn lọc (thuốc diệt cỏ tác động tới một số cây nhất định) hoặc không có lựa chọn (thuốc diệt cỏ diệt trừ toàn bộ thảm thực vật) .
Nhóm này cũng bao gồm các chất làm rụng lá, là những hóa chất được dùng nhằm làm lá hoặc tán lá rụng sớm.
Các sản phẩm chống nảy mầm có thể được dùng cho các loại hạt, củ, thân củ hoặc đất trồng để ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình đâm chồi hoặc nảy mầm.
Thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng được dùng để làm thay đổi quá trình sống của cây như đẩy nhanh hoặc làm chậm sự phát triển của cây, tăng sản lượng, nâng cao chất lượng hoặc tạo thuận lợi cho việc thu hoạch.... Hoóc môn của cây (hoóc môn thực vật) là một dạng thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng (ví dụ, axit gibberelic), hóa chất hữu cơ tổng hợp cũng được dùng như là thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng.
(IV) Thuốc khử trùng
Thuốc khử trùng là các tác nhân phá hủy hoặc ngăn không cho hoạt động trở lại của các vi khuẩn các vi rút hoặc các vi sinh vật không mong muốn khác, thông thường tác động lên các đối tượng vô tri vô giác.
Thuốc khử trùng được sử dụng, ví dụ, trong các bệnh viện để làm sạch tường,... hoặc sát trùng các dụng cụ. Chúng cũng được sử dụng trong nông nghiệp để diệt khuẩn hạt giống và trong sản xuất thức ăn chăn nuôi để kiểm soát các vi sinh vật không mong muốn.
Nhóm này bao gồm các chất tẩy rửa vệ sinh, chất kìm hãm vi khuẩn và thuốc sát trùng.
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm để kiềm chế bét và ve (thuốc diệt loài bét, ve), động vật thân mềm (thuốc diệt động vật thân mềm), giun tròn (thuốc diệt giun tròn), loài gặm nhấm (thuốc diệt loài gặm nhấm), chim và gia cầm (thuốc diệt chim và gia cầm) và các loài gây hại khác (ví dụ, thuốc diệt cá mút đá, thuốc diệt động vật ăn thịt).
Nhóm này không bao gồm :
(a) Các sản phẩm sử dụng cho việc khử trùng, diệt sâu bọ,..., mà không đáp ứng mô tả ở trên. Các sản phẩm này được phân loại tùy theo bản chất của chúng vào các nhóm thích hợp, ví dụ:
(i) Hoa của cây kim cúc đã nghiền (nhóm 12.11).
(ii) Chất chiết của cây kim cúc (có hoặc không được chuẩn hóa bởi việc thêm dầu khoáng) (nhóm 13.02)
(iii) Dầu creosote hoặc creosote khoáng (nhóm 27.07).
(iv) Naphtalene, DDT (ISO) (clofenotane (INN), 1,1,1-trichloro-2,2-bis (p-chlorophenyl) ethane) và các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt khác (kể cả các dung dịch có chứa nước) (Chương 28 hoặc 29).
(v) Các vi sinh vật nuôi cấy được sử dụng như một thành phần cơ bản của thuốc diệt loài gặm nhấm,... (nhóm 30.02).
(vi) Oxit đã qua sử dụng (nhóm 38.25).
(b) Các chế phẩm nằm trong các nhóm chi tiết hơn của Danh mục này, hoặc có các thuộc tính phụ để khử trùng, diệt sâu bọ,..., ví dụ:
(i) Sơn chống hà cho vỏ tàu, chứa các chất liệu độc (nhóm 32.08, 32.09 hoặc 32.10).
(ii) Các loại xà phòng sát trùng (nhóm 34.01).
(iii) Chất đánh bóng sáp DDT (ISO) (clofenotane (INN), 1,1,1-trichloro-2,2-bis (p-chlorophenyl) ethane) (nhóm 34.05).
(c) Thuốc sát trùng, thuốc trừ côn trùng,..., có tính chất cơ bản của dược phẩm, kể cả các thuốc thú y (nhóm 30.03 hoặc 30.04)
(d) Các chất khử mùi trong phòng đã điều chế, có hoặc không có các thuộc tính sát trùng (nhóm 33.07).
o
o o
Chú giải Chi tiết Phân nhóm.
Các phân nhóm 3808.91 đến 3808.99
Các sản phẩm có nhiều công dụng, và bởi vậy thoạt nhìn có thể được phân loại vào hơn một phân nhóm, thì chúng thường được phân loại nhờ áp dụng Quy tắc tổng quát 3.
3809.10 - Dựa trên thành phần cơ bản là tinh bột
- Loại khác:
3809.91 - - Loại dùng trong công nghiệp dệt hoặc các ngành công nghiệp tương tự
3809.92 - - Loại dùng trong công nghiệp giấy hoặc các ngành công nghiệp tương tự
3809.93 - - Loại dùng trong công nghiệp thuộc da hoặc các ngành công nghiệp tương tự.
Phạm vi các sản phẩm và chế phẩm thuộc nhóm này khá rộng, phần lớn được sử dụng trong quá trình chế biến và hoàn thiện chỉ sợi, vải, giấy, bìa, da thuộc hoặc các vật liệu tương tự, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi nào khác trong Danh mục.
Các sản phẩm đó có thể được xác định thuộc nhóm này do thành phần và hình thức của chúng gắn với một tính năng sử dụng cụ thể trong các ngành công nghiệp đã được dẫn ra trong nhóm này và các ngành công nghiệp tương tự, ví dụ, trong công nghiệp dệt thảm trải sàn, công nghiệp sản xuất sợi lưu hóa và công nghiệp lông thú. Các sản phẩm và chế phẩm này (ví dụ, các chất làm mềm vải) dành cho sử dụng trong nhà hơn là mục đích công nghiệp cũng được bao gồm ở nhóm này.
Được xếp ở đây là:
(A) Các sản phẩm và các chế phẩm được sử dụng trong công nghiệp dệt hoặc trong các ngành công nghiệp tương tự.
(1) Các chế phẩm làm biến đổi cảm giác về các sản phẩm, ví dụ: các chất hồ cứng, thường dựa trên các chất tinh bột tự nhiên (như tinh bột của lúa mì, gạo, hạt bắp (ngô) hoặc khoai tây và dextrin), dựa trên các chất nhầy (chất của cây địa y, chất alginate,...), gelatin, casein, chất gôm thực vật (tragacanth gôm,...) hoặc colophan; các tác nhân gây gia trọng; các tác nhân làm mềm hóa, dựa trên các dẫn xuất của glycerol, imidazoline,...; chất độn, dựa trên các hợp chất có trọng lượng phân tử cao tự nhiên hoặc tổng hợp.
Ngoài các thành phần cơ bản đã đề cập ở trên, một vài chế phẩm cũng có thể chứa các chất thấm ướt (xà phòng,...), chất bôi trơn (dầu hạt lanh, các loại sáp,...), các chất độn (cao lanh, bari sulphate,...) và các chất bảo quản (đặc biệt là các muối kẽm, đồng sulphate và phenol).
(2) Các tác nhân để tạo chất hoàn tất không trơn và chống xước. Các sản phẩm này nhằm giảm độ trơn của vải để ngăn chặn hình thành các vết xước trong hàng dệt kim và hàng đan. Nhìn chung chúng được dựa trên các polyme, các nhựa tự nhiên hoặc axit silicic.
(3) Các tác nhân để tạo chất hoàn tất chống bụi bẩn. Nhìn chung, chúng dựa trên axit silicic, các hợp chất của nhôm hoặc các hợp chất hữu cơ.
(4) Các chế phẩm chống nhăn nhúm và chống co ngót, là các hỗn hợp của các hợp chất đã xác định về mặt hóa học với ít nhất là hai nhóm phản ứng (ví dụ, hợp chất bis(hydroxymethyl), một số aldehyde và acetal).
(5) Các tác nhân làm giảm độ bóng được điều chế để giảm độ láng hoặc độ bóng của vải sợi. Nhìn chung, chúng bao gồm các thuốc màu huyền phù (oxit titan, oxit kẽm, lithopone,...) được làm ổn định bởi các ete cellulose, gelatin, keo, các tác nhân hoạt động bề mặt,....
Các chế phẩm được phân loại ở đây không nên bị nhầm lẫn với các loại sơn (nhóm 32.08, 32.09 hoặc 32.10), hoặc các chế phẩm bôi trơn để bôi dầu hoặc bôi mỡ cho lên (nhóm 27.10 hoặc 34.03)
(6) Các chế phẩm làm chậm cháy dựa trên các muối amoni, các hợp chất của bo, nitơ, brôm hoặc phốt pho hoặc các công thức dựa trên các chất hữu cơ đã được clo hóa với oxit antimon hoặc các oxit khác.
(7) Các tác nhân làm láng bóng nhằm để tạo ra độ láng và bóng trên vải sợi. Nhìn chung, chúng là các nhũ tương của parafin, sáp, polyolefin hoặc polyglycol.
(8) Thuốc gắn màu được điều chế để sử dụng trong quá trình nhuộm và in vải dệt để gắn các thuốc nhuộm. Các chế phẩm này, hòa tan trong nước, thông thường chúng dựa trên các muối kim loại (ví dụ, sulphate hoặc acetat nhôm, amoni, clo hoặc sắt, kali dicromat, antimon kali tartrate) hoặc tananh. (Nhưng xem phần loại trừ (d) tại phần cuối của Chú giải Chi tiết này).
(9) Chế phẩm tải thuốc nhuộm, chúng được sử dụng để để thúc đẩy các quá trình nhuộm và in bằng cách làm nở sợi tổng hợp. Chúng bao gồm các chế phẩm dựa trên biphenyl hoặc dựa trên các dẫn xuất của benzen, phenol hoặc axit hydroxytoluic, chẳng hạn như triclorobenzen, biphenyl - 2 - ol, methyl hydroxytoluate và các hỗn hợp của chúng, có hoặc không chứa các chất hoạt động bề mặt.
(10) Các tác nhân chống dính bết, chúng được điều chế để giảm độ bết vào nhau của sợi động vật. Chúng thường là các tác nhân clo hóa hoặc oxi hóa hoặc có các công thức đặc biệt của các chất tạo thành nhựa tổng hợp.
(11) Các tác nhân hồ vải được sử dụng để làm cho sợi bền hơn trong thao tác dệt. Các chế phẩm này thường dựa trên tinh bột, các dẫn xuất của tinh bột hoặc các chất kết dính polyme tổng hợp hoặc tự nhiên khác. Các chất này có thể cũng chứa các chất thấm ướt, các tác nhân làm mềm hóa, các chất béo, sáp hoặc các vật liệu khác. Nhóm này cũng bao gồm các sáp hồ sợi dọc đã nhũ tương hóa và các chất béo đã nhũ tương hóa được điều chế cho hồ vải.
(12) Chất không thấm dầu nhằm để sản xuất chất hoàn tất không thấm dầu trong vải dệt. Nhìn chung, chúng là các chất nhũ tương hoặc các dung dịch của hợp chất flo hữu cơ chẳng hạn như các axit carboxylic đã pertlo hóa, và có thể chứa các nhựa đã cải biến (các chất trương nở).
(13) Các tác nhân không thấm nước, thường bao gồm các nhũ tương có chứa nước của các sản phẩm không thấm nước (chẳng hạn như sáp hoặc mỡ lông cừu) được làm ổn định bởi các ete cellulose, gelatin, keo, các tác nhân hữu cơ hoạt động bề mặt,..., và chứa thêm các muối tan, ví dụ, của nhôm hoặc zirconi. Nhóm các sản phẩm này cũng bao gồm các chế phẩm dựa trên các silicon và dựa trên các dẫn xuất của flo.
(B) Các sản phẩm và chế phẩm được sử dụng trong công nghiệp giấy, bìa hoặc các ngành công nghiệp tương tự.
(1) Chất kết dính sử dụng để liên kết các phần tử thuốc màu vào hỗn hợp chất phủ. Chúng là các chế phẩm dựa trên các sản phẩm tự nhiên chẳng hạn như casein, tinh bột, các dẫn xuất của tinh bột, protein đậu nành, keo động vật, alginate hoặc dẫn xuất của cellulose.
(2) Các tác nhân hồ vải hoặc phụ gia hồ vải được sử dụng trong xử lý giấy để tăng khả năng in, độ nhẵn và độ bóng và để truyền các tính chất viết trên giấy. Các chế phẩm này có thể dựa trên xà phòng colophan, nhựa cây cường tính, sáp phân tán, parafin phân tán, các polyme acrylic, tinh bột và cacboxymethylcellulose hoặc gôm thực vật.
(3) Các tác nhân tăng độ thấm ướt. Các chế phẩm này được sử dụng để tăng độ co giãn, độ bền xé rách, độ chịu bục và độ bền đối với sự mài mòn của giấy ướt hoặc sản phẩm không dệt.
(C) Các sản phẩm và chế phẩm sử dụng trong công nghiệp thuộc da hoặc các ngành công nghiệp tương tự:
(1) Chất kết dính. Các chế phẩm của chúng được điều chế nhằm để giữ chặt màu của thuốc màu trong da thuộc. Chúng được điều chế đặc biệt, thường dựa trên thành phần cơ bản của các chất protein, nhựa cây tự nhiên hoặc sáp tự nhiên,....
(2) Xi (season) là sản phẩm được đặc biệt điều chế, sử dụng để phủ lên sau cùng trên bề mặt của sản phẩm da thuộc trong quá trình hoàn thiện, cấu trúc và thành phần của chúng tương tự như các chất kết dính ở phần (1) ở trên.
(3) Các tác nhân chống thấm nước. Các chất này thường bao gồm (i) xà phòng crôm, (ii) axit alkylsuccinic hoặc các dẫn xuất của axit citric,..., trong dung môi (chẳng hạn như rượu isopropyl) hoặc (iii) fluorochemicals, hoặc ở dạng hòa tan hoặc ở dạng phân tán.
Ngoài các sản phẩm bị loại trừ ở trên, nhóm này không bao gồm:
(a) Các chế phẩm loại sử dụng để xử lý dầu hoặc mỡ của các vật liệu dệt, da thuộc, da lông hoặc các vật liệu khác (nhóm 27.10 hoặc 34.03).
(b) Các nguyên tố hoặc các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt (thường thuộc Chương 28 hoặc 29)
(c) Các thuốc màu, chất màu đã điều chế, sơn,... (Chương 32).
(d) Các chất hoặc các chế phẩm hữu cơ hoạt động bề mặt, ví dụ, chất trợ nhuộm, thuộc nhóm 34.02
(e) Dextrin và các tinh bột biến tính khác, và các chất keo dựa trên các tinh bột hoặc dựa trên các chất dextrin hoặc các tinh bột biến tính khác (nhóm 35.05).
(f) Thuốc trừ côn trùng và các chế phẩm khác thuộc nhóm 38.08.
(g) Nhũ tương, chất phân tán hoặc hòa tan của các polyme (nhóm 32.09 hoặc Chương 39).
3810.10 - Các chế phẩm tẩy sạch cho bề mặt kim loại; bột và bột nhão gồm kim loại và các vật liệu khác dùng để hàn thiếc, hàn hơi hoặc hàn điện
3810.90 - Loại khác
(1) Các chế phẩm tẩy sạch bề mặt kim loại. Đây là các chế phẩm được sử dụng để loại bỏ các oxit, gỉ, cặn, cáu bẩn hoặc các chất làm xỉn ra khỏi bề mặt kim loại, hoặc dùng cho việc đánh ráp bề mặt của kim loại tạo thuận lợi cho quá trình nào đó. Quá trình tẩy sạch này có thể là một thao tác cuối cùng, hoặc cũng có thể có tác dụng tại một giai đoạn trước (ví dụ, để chuẩn bị cho các hoạt động kéo hoặc ép đùn kim loại), hoặc trước khi phủ kim loại, ví dụ, mạ kẽm, bọc kim loại, tráng thiếc, sơn phủ, mạ điện, sơn,....
Các chế phẩm tẩy sạch thường dựa trên các axit loãng (HCl, H2SO4, HF, HNO3, H3PO4,...), và đôi khi chứa các chất ức chế hạn chế quá trình ăn mòn kim loại. Tuy nhiên, một số chế phẩm dựa trên kiềm (ví dụ, NaOH).
Nhóm này không bao gồm các chế phẩm làm sạch kim loại (nhóm 34.02).
(2) Các chất giúp chảy và các chế phẩm phụ khác dùng trong việc hàn thiếc, hàn hơi hoặc hàn điện. Các chất giúp chảy được sử dụng làm thuận lợi cho việc nối kim loại trong quá trình hàn thiếc, hàn điện hoặc hàn hơi, bảo vệ cho các bề mặt kim loại được nối và ngay cả mối hàn khỏi bị oxy hóa. Chúng có thuộc tính là hòa tan oxit mà oxit đó tạo thành trong quá trình hoạt động. ZnCl2, NH4CI, natri tetraborat, colophan và lanolin (mỡ lông cừu) là các sản phẩm thông dụng nhất được sử dụng trong các chế phẩm này.
Nhóm này cũng bao gồm các hỗn hợp các hạt nhỏ hoặc bột nhôm với các oxit kim loại khác nhau (ví dụ, oxit sắt) được sử dụng như các nguồn phát nhiệt cường độ lớn (quá trình nhiệt nhôm) trong hoạt động hàn điện,....
(3) Bột và bột nhão gồm các kim loại và các vật liệu khác dùng để hàn thiếc, hàn hơi hoặc hàn điện. Các chế phẩm này được sử dụng để làm cho các bề mặt kim loại được liên kết bám dính với nhau. Thành phần thiết yếu của chúng là kim loại (thường là các hợp kim chứa thiếc, chì, đồng, ...). Các chế phẩm này được phân loại trong nhóm này chỉ khi:
(a) Chúng chứa các thành phần khác tương tự kim loại. Các thành phần này là các chế phẩm phụ đã mô tả trong phần (2) ở trên, và
(b) Chúng được tạo thành ở dạng bột hoặc bột nhão.
Các chế phẩm dùng để hàn thiếc, hàn hơi hoặc hàn điện chỉ có thành phần là các bột kim loại, có hoặc không trộn lẫn với nhau, bị loại trừ (Chương 71 hoặc Phần XV tùy theo các thành phần của chúng).
(4) Các chế phẩm thuộc loại dùng để làm lỗi hoặc vỏ bọc cho các điện cực hàn hoặc que hàn. Các chế phẩm này có mục đích chính là để loại bỏ các oxit dưới dạng xỉ dễ nóng chảy, hình thành trong quá trình hàn điện. Chúng thường bao gồm một hỗn hợp chứa các chất chịu lửa, ví dụ, vôi và cao lanh.
Các điện cực, bằng kim loại cơ bản hoặc bằng cacbua kim loại, được bọc, phủ hoặc có lõi bằng chất trợ dung (flux), bị loại trừ (nhóm 83.11).
- Chế phẩm chống kích nổ:
3811.11 - - Từ hợp chất chì
3811.19 - - Loại khác
- Các phụ gia cho dầu bôi trơn:
3811.21 - - Chứa dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ khoáng bi-tum
3811.29 - - Loại khác
3811.90 - Loại khác
Các chế phẩm thuộc nhóm này là các phụ gia cho dầu khoáng hoặc cho các chất lỏng khác được sử dụng cho các mục đích tương tự để loại trừ hoặc giảm các tính chất không mong muốn, hoặc để nhân rộng hoặc tăng cường các tính chất mong muốn.
(A) Các phụ gia đã điều chế dùng cho dầu khoáng.
1 .- Các chất phụ gia cho dầu thô. Nhóm này bao gồm các chất chống ăn mòn được thêm vào dầu thô để bảo vệ cấu trúc kim loại (đặc biệt là các cột chưng cất). Các cấu tử hoạt động của chúng thường là các chất kiểu amino dẫn xuất đặc biệt từ imidazoline.
2.- Các phụ gia cho xăng dầu. Nhóm này bao gồm:
(a) Các chế phẩm chống kích nổ, chúng làm tăng mức kháng của nhiên liệu đối với việc bắt cháy sớm và như vậy ngăn chặn sự kích nổ. Chúng thường dựa trên tetraetyl chì và tetrametyl chì và cũng chứa, ví dụ, 1,2 - dibromoetan hoặc monocloronapthalene. Nhóm này không bao gồm cặn hợp chất chì chống kích nổ thu được từ thùng chứa các hợp chất chì chống kích nổ và bao gồm chủ yếu là chì, hợp chất chì và oxit sắt (nhóm 26.20).
(b) Chất ức chế quá trình oxy hóa. Các chất ức chế quá trình oxy hóa quan trọng nhất dựa trên các sản phẩm của phenol (ví dụ, dimethyl-tert-butylphenol) và các dẫn xuất của các amin thom như alkyl p-phenylenediamines.
(c) Các chế phẩm chống đóng băng. Các sản phẩm thường dựa trên các rượu (ví dụ, propan - 2 - ol (hoặc isopropyl alcohol)), chúng được thêm vào xăng dầu để ngăn chặn sự tạo thành đá trong hệ thống nhiên liệu (chất đốt).
(d) Các chất tẩy rửa. Các chế phẩm được sử dụng để làm sạch bộ chế hòa khí và dòng vào và dòng ra của xylanh.
(e) Chất chống dính (Gum inhibitors). Các sản phẩm này nhằm ngăn chặn sự tạo thành keo dính trong cửa nạp nhiên liệu của bộ chế hòa khí hoặc của động cơ.
3 - Phụ gia cho dầu bôi trơn. Nhóm này bao gồm:
(a) Chất tăng độ nhớt, dựa trên các polyme như polymethacrylat, polybuten, polyalkylstyren.
(b) Chất ức chế điểm chảy, chúng ngăn chặn sự kết hợp của các tinh thể ở nhiệt độ thấp. Các sản phẩm của loại này được dựa trên các polyme của etylen, dựa trên các vinyl este và vinyl ete hoặc dựa trên các este acrylic.
(c) Chất ức chế quá trình oxy hóa thường dựa trên các hợp chất phenolic hoặc các hợp chất amino.
(d) Các phụ gia áp suất cực cao (EP) dựa trên các organodithiophosphate của kẽm, dầu đã lưu hoá (sulphurised oil), các hợp chất hydrocarbon đã clo hóa, các hợp chất photphat thơm và các hợp chất thiophosphat.
(e) Các chất tẩy rửa và các chất phân tán, như là các chất dựa trên các alkyl phenoxit, các napthenate hoặc các sulphonate dầu mỏ của một số kim loại, ví dụ như các hợp chất đó với nhôm, canxi, kẽm hoặc bari.
(f) Các hợp chất chống gỉ dựa trên các muối hữu cơ (sulphonate) của canxi hoặc bari, dựa trên các hợp chất amin hoặc dựa trên các axit alkylsuccinic.
(g) Các chất chống bọt, thường dựa trên các silicon.
Các chế phẩm bôi trơn được sử dụng để thêm một lượng nhỏ vào nhiên liệu hoặc dầu bôi trơn động cơ mô tô, ví dụ, để giảm sự mài mòn trong hệ thống xy lanh của động cơ, bị loại trừ (nhóm 27.10 hoặc 34.03).
4 - Phụ gia cho dầu khoáng khác. Nhóm này bao gồm:
(a) Các chất ức chế điểm chảy, tương tự như các chất được sử dụng cho dầu bôi trơn như trong phần 3(b) ở trên.
(b) Các chất ức chế quá trình oxy hóa. Các chất này tương tự như các chất được sử dụng cho xăng dầu.
(c) Chất tăng cường chỉ số xetan cho dầu khí, ví dụ, các chất dựa trên các alkyl nitrat và alkyl nitrit.
(d) Các chất phụ gia với tác động của các chất hoạt động bề mặt, các chất này nhằm loại bỏ hoặc ngăn chặn sự tạo thành kết tủa (asphaltenes) trong dầu dự trữ.
(e) Các chất phụ gia để ngăn chặn hoặc giảm các chất lắng cặn không mong muốn (ví dụ, tro, muội carbon) trong các buồng đốt cháy hoặc các ống khói của lò nung nhiên liệu, và các phụ gia để giảm sự ăn mòn do tác động của các sản phẩm dễ bay hơi (ví dụ, SO2 và SO3) trong cấu trúc truyền nhiệt hoặc ống khói.
(f) Các chế phẩm chống đóng băng, được thêm vào để ngăn chặn sự tạo thành đá, băng trong hệ thống nhiên liệu.
(B) Các phụ gia đã điều chế cho các chất lỏng khác được sử dụng cho các mục đích tương tự dầu khoáng.
Trong số các chất lỏng được sử dụng cho các mục đích tương tự như dầu khoáng, đó là:
(a) Nhiên liệu dựa trên rượu (ví dụ, gasohol); và
(b) Dầu bôi trơn tổng hợp:
(1) dựa trên các este của các axit hữu cơ (các adipate, azelate, các neopentylpolyol este) hoặc các axit vô cơ (triaryl phostphate);
(2) dựa trên các polyete (poly(oxyethylene) (polyethylene glycol) hoặc poly(oxypropylene) (polypropylene glycol));
(3) dựa trên các silicon.
Các phụ gia này tương tự như loại được sử dụng cho các dầu khoáng tương ứng.
Nhóm này không áp dụng đối với các hợp chất và các nguyên tố đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt (thường thuộc Chương 28 hoặc Chương 29), hoặc đối với các chất sulphonate dầu mỏ chưa ở dạng các chế phẩm.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Các chế phẩm bôi trơn với thành phần cơ bản là molyden disulphit (nhóm 34.03).
(b) Các graphit keo ở dạng huyền phù trong dầu hoặc môi trường khác và graphit bán keo (nhóm 38.01).
3812.10 - Hỗn hợp xúc tiến lưu hoá cao su đã điều chế
3812.20 - Hợp chất hoá dẻo dùng cho cao su hay plastic
- Các chế phẩm chống oxy hóa và các hợp chất khác làm ổn định cao su hay plastic:
3812.31 - - Hỗn hợp oligome của 2,2,4-trimethyl-1,2-dihydroquinoline (TMQ)
3812.39 - - Loại khác
Theo mục đích của nhóm này, các thuật ngữ "hợp chất", "đã điều chế" và "chế phẩm" bao gồm:
(i) hỗn hợp và pha trộn có tính toán; và
(ii) hỗn hợp phản ứng bao gồm các sản phẩm có được từ các chuỗi đồng đẳng ví dụ như các axit béo hoặc các cồn béo thuộc nhóm 38.23.
(A) Hỗn hợp xúc tiến lưu hoá cao su đã điều chế.
Loại này bao gồm các sản phẩm được thêm vào cao su trước khi lưu hóa để cho các sản phẩm được lưu hóa có các tính chất vật lý tốt hơn và giảm thời gian và nhiệt độ cần cho quá trình lưu hóa. Đôi khi chúng cũng được coi như là chất hóa dẻo. Nhóm này chỉ bao gồm các sản phẩm là các hỗn hợp.
Các chế phẩm này nhìn chung dựa trên các sản phẩm hữu cơ (diphenylguanidine, dithiocarbamates, thiuram sulphides, hexamethylenetetramine, mercaptobenzothiazole,....) thường kết hợp với các chất hoạt hoá vô cơ (kẽm oxit, magiê oxit, chì oxit,...).
(B) Hợp chất hoá dẻo cao su hoặc plastic, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
Loại này bao gồm các hợp chất hoá dẻo mà chúng được sử dụng để tạo nên một độ mềm dẻo mong muốn cho plastic hoặc làm tăng khả năng dẻo của hỗn hợp cao su. Ví dụ về các sản phẩm dạng này bao gồm hỗn hợp có tính toán của hai hay nhiều hon các este phthalate cũng như các dialkyl phthalate đã pha trộn tạo ra từ các rượu béo đã pha trộn của nhóm 38.23. Các chất hóa dẻo được sử dụng rộng rãi với poly(vinyl chloride) và với các este cellulose.
Nhóm này không bao gồm sản phẩm được sử dụng như hoặc đôi khi được gọi là các chất hóa dẻo, chúng được chi tiết cụ thể hơn ở nhóm khác của Danh mục (xem phần loại trừ ở cuối của Chú giải Chi tiết này).
(C) Các chế phẩm chống oxy hóa và các hợp chất khác làm ổn định cao su hay plastic.
Loại này bao gồm các chế phẩm chống oxy hóa cho cao su hoặc plastic (được sử dụng, ví dụ, trong sản xuất cao su để ngăn chặn sự cứng hoặc sự lão hóa), như hỗn hợp oligome của 2,2,4-trimethyl-1,2-dihydroquinoline (TMQ), hỗn hợp các alkylated diphenylamine và các chế phẩm dựa trên N - naphthylaniline.
Loại này cũng bao gồm các hợp chất ổn định khác cho cao su hoặc plastic. Các ví dụ về các sản phẩm loại này bao gồm hỗn hợp có tính toán của hai hoặc nhiều chất làm ổn định cũng như hỗn hợp các chất phản ứng chẳng hạn như các hợp chất hữu cơ đã pha trộn thu được từ các rượu béo đã trộn thuộc nhóm 38.23. Mục đích sử dụng chính của các hợp chất ổn định cho plastic là để kìm hãm sự khử hydro và clo của một số polyme, chẳng hạn poly(vinyl cloride). Chúng cũng có thể được sử dụng như các chất làm bền nhiệt cho các polyamide.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ, vazơlin vàng (petroleum jelly), sáp parafin và asphalt của Chương 27.
(b) Các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt thuộc Chương 28 hoặc 29, ví dụ, dioctylphthalate.
(c) Các chất chống oxy hóa đã điều chế như các chất phụ gia cho dầu khoáng hoặc cho các chất lỏng khác được sử dụng cho các mục đích tương tự như dầu khoáng (nhóm 38.11).
(d) Tác nhân peptit hóa cho chế biến cao su, mặc dù được biết như các chất hóa dẻo hóa học (thường thuộc nhóm 38.24).
(e) Các polyme thuộc Chương 39.
Nhóm này bao gồm:
(A) Các chế phẩm cho bình dập lửa. Chúng bao gồm các chế phẩm với thành phần cơ bản là bicarbonat, đôi khi có chứa, ví dụ, các chiết xuất của vỏ cây canhkina (quillaia), chất chiết xuất từ cây cam thảo hoặc các sản phẩm hoạt động bề mặt giúp sản sinh ra lớp màng bọt. Các chế phẩm này có thể ở dạng lỏng hoặc khô.
(B) Các vật liệu nạp cho bình dập lửa, tức là, các bình có trọng lượng nhẹ (bằng thủy tinh, kim loại lá mỏng,...) được thiết kế để lắp được vào bình dập lửa, chứa:
(1) Các chế phẩm đã mô tả trong phần (A).
hoặc (2) Hai hoặc nhiều sản phẩm không trộn lẫn (ví dụ, một dung dịch nhôm sulphate và một dung dịch natri hydrocarbonat), chia cắt bởi một vách ngăn và nhằm để tiếp xúc với nhau vào thời điểm sử dụng.
hoặc (3) Một sản phẩm đơn lẻ không trộn lẫn (ví dụ, carbon tetrachloride, methyl bromide hoặc axit sulphuric).
(C) Các loại lựu đạn dập lửa đã nạp, tức là, các bình chứa đã được nạp các sản phẩm dập lửa (có hoặc không trộn lẫn), và được sử dụng trực tiếp không cần gắn vào trong các dụng cụ dập lửa. Chúng là các bình chứa bằng thủy tinh hoặc gốm, được ném vào giữa các đám cháy và giải phóng các chất bên trong, hoặc các bình chứa bằng thủy tinh có một đầu chỉ cần dùng ngón tay làm vỡ để phun ra chất dập lửa.
Các bình dập lửa, có hoặc không thế xách tay được và có hoặc không nạp, mà chúng được vận hành bởi một đinh chốt, khi xoay ngược lên sẽ làm bật lẫy,... được xếp vào nhóm 84.24.
Nhóm này cũng không bao gồm các sản phẩm hóa học không trộn lẫn có các tính chất dập lửa, khi chúng được đóng gói khác không như đã mô tả trong đoạn (B) (2), (B) (3) và (C) ở trên (thường thuộc Chương 28 hoặc 29).
Nhóm này bao gồm các dung môi và các chất pha loãng hữu cơ (dù có hay không chứa 70% trở lên tính theo trọng lượng là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ) với điều kiện là chúng không phải là các hợp chất được xác định về mặt hóa học riêng biệt và chua được chi tiết ở một nhóm cụ thể hơn. Chúng là các chất lỏng ít nhiều dễ bay hơi, được sử dụng, không kể những cái khác, trong sản xuất vecni và sơn hoặc sử dụng nhu các chế phẩm tẩy dầu mỡ cho các bộ phận của máy móc,....
Các ví dụ về các sản phẩm được phân loại ở nhóm này:
(1) Hỗn hợp của aceton, methyl acetate và methanol, và hỗn hợp của ethyl acetate, butyl alcohol và toluen.
(2) Các chế phẩm tẩy dầu mỡ cho các bộ phận của máy móc..., bao gồm hỗn hợp của:
(i) dung môi trắng với tricloroethylene; hoặc
(ii) spirit dầu mỏ với các sản phẩm đã được clo hóa và xylen.
Nhóm này cũng bao gồm các chất tẩy sơn hoặc tẩy vecni gồm có các hỗn hợp ở trên có bổ sung lượng nhỏ sáp paraffin (để kìm hãm quá trình bay hơi của các dung môi), các chất nhũ hóa, tác nhân tạo gel,....
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các hợp chất pha loãng hoặc dung môi đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt (Chương 29 nói chung) và các sản phẩm của các chất phức được sử dụng như các dung môi hoặc các chất pha loãng nhưng đã được chi tiết ở các nhóm cụ thể hơn của Danh mục, ví dụ, dung môi naphtha (nhóm 27.07), dung môi trắng (nhóm 27.10), turpentine gôm, turpentine gỗ hoặc turpentine sulphate (nhóm 38.05); dầu hắc ín gỗ (nhóm 38.07), hỗn hợp dung môi vô cơ (nhóm 38.24).
(b) Các dung môi tẩy sơn móng, được đóng gói để bán lẻ (nhóm 33.04).
- Chất xúc tác có nền:
3815.11 - - Chứa niken hoặc hợp chất niken như chất hoạt tính
3815.12 - - Chứa kim loại quý hoặc hợp chất kim loại quý như chất hoạt tính
3815.19 - - Loại khác
3815.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các chế phẩm mà chúng có tác dụng khơi mào hoặc thúc đẩy một số quá trình hóa học. Các sản phẩm ức chế các quá trình này không được bao gồm ở đây.
Phần lớn các chế phẩm này thuộc hai nhóm.
(a) Nhóm thứ nhất, nhìn chung, gồm một hoặc nhiều chất hoạt động được lắng trên một chất nền (được gọi là “chất xúc tác có nền”) hoặc các hỗn hợp có thành phần cơ bản là các chất hoạt động. Đa số trường hợp, các chất hoạt động này là một số kim loại, oxit kim loại nhất định, các hợp chất kim loại khác hoặc các hỗn hợp của chúng. Các kim loại được sử dụng phổ biến nhất như là các kim loại hoặc như là các hợp chất gồm coban, niken, paladi, platin, molipden, crôm, đồng hoặc kẽm. Các chất nền, đôi khi được hoạt hóa, thường bao gồm nhôm oxit, carbon, silica gel, bột hóa thạch chứa silic hoặc các vật liệu gốm. Các ví dụ về "chất xúc tác có nền" là các dạng Ziegler hoặc Ziegler- Natta có chất nền.
(b) Các chế phẩm thuộc nhóm thứ hai là các hỗn hợp với thành phần cơ bản là hợp chất mà tính chất và tỷ lệ của chúng là khác nhau tùy theo phản ứng hóa học bị xúc tác. Các chế phẩm này bao gồm:
(i) "các chất xúc tác gốc tự do" (ví dụ, các dung dịch hữu cơ của peroxide hữu cơ hoặc của các hợp chất azo, các hỗn hợp oxy hóa khử);
(ii) "các chất xúc tác ion" (ví dụ, alkyllithium);
(iii) "các chất xúc tác cho các phản ứng đa tụ" (ví dụ, hỗn hợp của acetat canxi với antimon trioxit).
Các chế phẩm thuộc nhóm thứ hai thường được sử dụng trong quá trình sản xuất các polyme.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các chất xúc tác đã qua sử dụng được sử dụng để chiết xuất kim loại cơ bản hoặc để sản xuất các hợp chất hoá học của kim loại cơ bản (nhóm 26.20) và các chất xúc tác đã qua sử dụng được sử dụng chủ yếu cho việc thu hồi kim loại quý (nhóm 71.12).
(b) Các hợp chất được xác định về mặt hóa học riêng biệt (Chương 28 hoặc 29).
(c) Các chất xúc tác chỉ bao gồm kim loại hoặc hợp kim ở dạng bột mịn, dạng lưới dệt,... (Phần XIV hoặc XV).
(d) Các chất xúc tác cao su đã được điều chế để sử dụng trong quá trình lưu hóa cao su (nhóm 38.12).
Nhóm này bao gồm một số chế phẩm (ví dụ, lớp lót cho lò nung) với thành phần cơ bản là các vật liệu chịu lửa như samốt và đất dinat (dinas earth), corundum đã tán vụn hoặc nghiền, thạch anh dạng bột, đá phấn, dolomite đã nung, với một chất kết dính chịu lửa được thêm vào (ví dụ, natri silicat, magie hoặc kẽm flosilicat). Nhiều sản phẩm của nhóm này cũng chứa các chất kết dính không chịu lửa như là tác nhân kết dính thủy lực.
Nhóm này cũng bao gồm các vật liệu chịu lửa với thành phần cơ bản là silica để sản xuất khuôn đúc răng hoặc khuôn đúc đồ trang sức bằng quá trình sáp chảy.
Nhóm này còn bao gồm các hỗn hợp dolomite ramming được sử dụng làm vật liệu chịu lửa (ví dụ, để lót lò). Các sản phẩm này được bán ở dạng bột hoặc dạng hạt bao gồm chủ yếu là dolomite thiêu kết nghiền nát. Tùy thuộc vào lĩnh vực ứng dụng hoặc nhiệt độ mà hỗn hợp sẽ được sử dụng, các chất liên kết phi thủy lực (non-hydraulie) khác nhau (ví dụ, nhựa đường, hắc ín, nhựa) được sử dụng.
Nhóm này còn bao gồm vật liệu bê tông chịu lửa chứa hỗn hợp của xi măng thủy lực bền nhiệt (ví dụ, xi măng nhôm) và cốt liệu chịu lửa, được sử dụng cho việc xây dựng lò nung, lò nung than cốc,... hoặc để vá lớp lót lò nung như sau:
(a) Vật liệu chịu lửa (Composition) được biết là "plastic" chịu lửa, chúng là các sản phẩm được bán như là khối ẩm ướt thường bao gồm cốt liệu chịu lửa, đất sét và một lượng phụ gia không đáng kể.
(b) Hỗn hợp ramming, thành phần tương tự như các sản phẩm đã đề cập trong phần (a) ở trên và khi chúng được ứng dụng bởi máy đầm dùng khí nén cầm tay, tạo thành các lớp phủ hoặc phần nạp đầy dày đặc.
(c) Hỗn hợp phun, chúng là các cốt liệu chịu lửa trộn với chất đông kết thủy lực hoặc các chất kết dính khác, áp dụng đối với các lớp lót lò nung, thậm chí đôi khi chúng rất nóng, bằng loại súng đặc biệt phun hỗn hợp này qua một ống phun dưới tác dụng của khí nén.
Nhóm này không bao gồm các bột nhão chứa carbon của nhóm 38.01.
Nhóm này bao gồm các alkylbenzen hỗn hợp và các alkylnaphthalen hỗn hợp thu được bằng cách alkyl hóa benzene và naphthalene. Chúng có chuỗi khá dài và không như loại đã đề cập ở phần thứ hai của phần nội dung thuộc nhóm 27.07. Alkylbenzene hỗn hợp được sử dụng, không kể những cái khác, như các dung môi, và được sử dụng trong sản xuất các tác nhân hoạt động bề mặt, dầu bôi trơn và các loại dầu cách điện. Các alkylnaphthalene hỗn hợp được sử dụng chủ yếu để sản xuất axit alkylnaphthalene sulphonic và các muối của chúng.
Nhóm này không bao gồm các hỗn hợp của các đồng phân thuộc nhóm 29.02.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các nguyên tố hóa học thuộc Chương 28 (ví dụ, silic và selen) kích tạp, bởi Bo hoặc phospho chẳng hạn, thường theo tỷ lệ yêu cầu là một phần triệu, với điền kiện là chúng ở dạng đĩa, tấm mỏng hoặc các dạng tương tự. Khi chúng ở dạng chưa gia công như được kéo ra, hoặc ở dạng hình trụ hoặc hình que, thì chúng được phân loại vào Chương 28.
(2) Các hợp chất hóa học như cadimi selenide và sulphide; indium arsenide,..., chứa một số phụ gia (ví dụ, germanium, iodine), thông thường ở tỷ lệ vài phần trăm, với ý định sử dụng chúng trong ngành điện tử, bất kỳ chúng ở dạng hình trụ, hình que,..., hoặc cắt thành đĩa, tấm mỏng hoặc các dạng tương tự.
Nhóm này bao gồm các hợp chất trên ở dạng tinh thể, đã hoặc chưa được đánh bóng, có hoặc không được phủ với một lớp epitaxi đồng nhất.
Những hợp chất được gia công toàn diện hơn (ví dụ, bởi các quá trình khuyếch tán chọn lọc) được đưa vào nhóm 85.41 như các thiết bị bán dẫn.
Nhóm này bao gồm các chất lỏng dùng trong bộ hãm thủy lực và các chất lỏng đã điều chế khác dùng cho sự truyền động thủy lực, ví dụ, chúng bao gồm hỗn hợp dầu thầu dầu, 2 - ethoxyethanol hoặc ethylene diricinoleate và rượu butyl, hoặc chúng bao gồm 4-hydroxy - 4 methylpentan - 2 - one (diacetone alcohol), diethyl phthalate và propane - 1,2 - diol cũng như các hỗn hợp của glycol.
Nhóm này cũng bao gồm chất lỏng thủy lực đã điều chế dựa trên các polyglycol, silicon, hoặc các polyme khác thuộc Chương 39.
Tuy nhiên, các chất lỏng tương tự chứa 70% trở lên tính theo trọng lượng dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ các khoáng bitum, bị loại trừ (nhóm 27.10).
Nhóm này bao gồm các chế phẩm chống đông và chất lỏng khử đóng băng (ví dụ, các hỗn hợp với thành phần cơ bản của các dẫn xuất glycol).
Một số các chế phẩm chống đông cũng có tác dụng như các chất làm lạnh hoặc như các tác nhân trao đổi nhiệt.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các phụ gia được điều chế cho dầu khoáng hoặc cho các chất lỏng khác được sử dụng cho các mục đích tương tự như dầu khoáng (nhóm 38.11).
Nhóm này bao gồm các chế phẩm khác nhau nơi các vi khuẩn, nấm mốc, vi trùng, vi rút, các vi sinh vật khác và các tế bào của thực vật, người hoặc động vật dùng cho mục đích y học (ví dụ, sản xuất kháng sinh) hoặc các mục đích khoa học khác hoặc trong công nghiệp (ví dụ, trong sản xuất dấm, axit lactic, rượu butyl) có thể được nuôi dưỡng và nhân lên hoặc có thể được duy trì.
Thông thường chúng được điều chế từ các chiết xuất từ thịt, máu tươi hoặc huyết thanh, trứng, khoai tây, alginate, thạch aga, pepton, gelatin,... và thông thường chứa các thành phần bổ sung chẳng hạn như glucose, glycerol, NaCl, natri citrat hoặc thuốc nhuộm. Các axit, các men tiêu hóa hoặc các chất kiềm có thể được thêm vào để sao cho chúng đạt được mức độ axit hoặc kiềm cần thiết...
Cũng còn có các môi trường khác, ví dụ, hỗn hợp NaCl, canxi clorua, magie sulphate, kali hydrogensulphate, kali aspartate và amoni lactate trong nuớc cất.
Một số môi trường nuôi cấy cho các virut bao gồm phôi sống.
Thông thường chúng ở dạng lỏng (nước xuýt), dạng nhão hoặc dạng bột nhưng cũng có thể ở dạng viên nén hoặc dạng hạt, và được tiệt trùng và được đóng vào các chai thủy tinh, ống, ống thuốc tiêm hoặc hộp thiếc đóng kín.
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm không được điều chế làm môi trường nuôi cấy...
(a) Thạch aga (nhóm 13.02).
(b) Albumin máu hoặc albumin trứng (nhóm 35.02).
(c) Gelatin (nhóm 35.03).
(d) Pepton (nhóm 35.04).
(e) Alginate (nhóm 39.13).
- Các chất thử chẩn đoán bệnh hoặc chất thử thí nghiệm có lớp bồi, chất thử chẩn đoán hoặc chất thử thí nghiệm được điều chế, có hoặc không có lớp bồi, có hoặc không đóng gói ở dạng bộ:
3822.11 - - Cho bệnh sốt rét
3822.12 - - Cho Zika và các bệnh khác truyền qua muỗi thuộc chi Aedes
3822.13 - - Để thử nhóm máu
3822.19 - - Loại khác
3822.90 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm Các chất thử chẩn đoán bệnh hoặc chất thử thí nghiệm có lớp bồi, chất thử chẩn đoán hoặc chất thử thí nghiệm được điều chế có hoặc không có lớp bồi, có hoặc không đóng gói ở dạng bộ, kể cả chất khử nhóm máu, trừ loại chất thử chẩn đoán được thiết kế để sử dụng cho bệnh nhân thuộc nhóm 30.06. Nhóm này cũng bao gồm các mẫu chuẩn được chứng nhận.
Chất thử chẩn đoán được dùng để đánh giá các phương pháp và tình trạng vật lý, lý sinh hoặc hoá sinh của động vật và người; chức năng của chúng dựa trên một sự thay đổi có thể định lượng hoặc có thể quan sát được trong các chất hoá học hoặc sinh học tạo thành chất thử. Chất thử chẩn đoán đã điều chế của nhóm này về mặt chức năng có thể giống với những sản phẩm được sản xuất để điều trị bệnh nhân (phân nhóm 3006.30), trừ khi chúng được dùng cho ống nghiệm (ni vitro), hơn là dùng cho cơ thể sống (in vivo). Chất thử thí nghiệm đã điều chế không chỉ có chất thử chuẩn đoán, mà còn bao gồm những chất thử phân tích khác được sử dụng cho những mục đích ngoại trừ để kiểm tra hoặc chẩn đoán. Các chất thử thí nghiệm và chẩn đoán đã điều chế có thể được sử dụng trong các phòng thí nghiệm y tế, thú y, khoa học hoặc công nghiệp, tại các bệnh viện, trong ngành công nghiệp, trên đồng ruộng hoặc, trong một số trường hợp, tại nhà riêng.
Chất thử của nhóm này có thể có lớp bồi hoặc ở dạng các chế phẩm và do đó chúng có nhiều hơn một cấu phần đơn lẻ. Ví dụ, chúng có thể bao gồm các hỗn hợp của hai hoặc nhiều chất thử hoặc có các chất thử đơn được hoà tan trong các dung môi trừ nước. Chúng cũng có thể ở dạng giấy, plastic hoặc các nguyên liệu khác (được sử dụng như là chất bồi hoặc chất nền), được thấm tẩm hoặc phủ bởi một hoặc nhiều chất thử thí nghiệm hoặc chẩn đoán, như quỳ, pH hoặc giấy cực phổ hoặc các tấm thử miễn dịch đã được tẩm trước. Các chất thử của nhóm này cũng có thể được đóng thành bộ, bao gồm một số thành phần, ngay cả khi có một hoặc nhiều thành phần là những hợp chất đã được xác định về mặt hoá học riêng biệt thuộc Chương 28 hoặc Chương 29, chất màu tổng hợp thuộc nhóm 32.04 hoặc bất kỳ chất nào mà, khi xuất hiện đơn lẻ, sẽ có thể được phân loại vào nhóm khác. Các ví dụ về những bộ như vậy là những loại dùng để thử nghiệm glucose trong máu, xeton trong nước tiểu... và những loại dựa trên các enzyme.
Các chất thử thuộc nhóm này cần được xác định rõ là chỉ được sử dụng như là chất thử thí nghiệm hoặc chất thử chẩn đoán. Điều này phải thể hiện rõ ở thành phần, nhãn hiệu, chỉ dẫn sử dụng của chúng là dùng cho ống nghiệm hoặc trong phòng thí nghiệm, chỉ dẫn về thí nghiệm chẩn đoán cụ thể sẽ được thực hiện hoặc dạng vật lý (ví dụ, trên chất nền hoặc chất bồi).
Các bộ chẩn đoán dựa trên các phản ứng như ngưng kết, kết tủa, trung hòa, liên kết bổ thể, ngưng kết máu, xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme (ELISA),….được phân loại ở đây. Bộ chẩn đoán sốt rét, ví dụ như loại dựa trên kháng thể đơn dòng kháng pLDH (plasmodium lactate dehydrogenase). Cũng được phân loại ở đây.
Tuy nhiên, các bộ chẩn đoán có đặc tính cơ bản của các sản phẩm thuộc nhóm 30.06 (ví dụ, bộ dụng cụ thử nghiệm lâm sàng mù (hoặc mù đôi) để sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng được công nhận, được đóng gói theo liều lượng) sẽ bị loại trừ.
Thuốc thử nhóm máu cũng được phân loại ở đây. Các thuốc thử thuộc nhóm này phải phù hợp để sử dụng trực tiếp trong việc xác định nhóm máu. Chúng là huyết thanh có nguồn gốc từ người hoặc động vật, hoặc chiết xuất thực vật từ hạt hoặc các bộ phận khác của cây (phytagglutinin). Những thuốc thử này được sử dụng để xác định nhóm máu bằng cách tham chiếu các đặc tính của tiểu cầu hoặc huyết thanh. Ngoài (các) hoạt chất, chúng có thể chứa các chất để tăng cường hoạt động hoặc ổn định chúng (thuốc sát trùng, kháng sinh,….)
A. Những chất sau đây được coi là thuốc thử để xác định nhóm máu bằng cách tham chiếu với đặc điểm của huyết cầu:
(i) Chế phẩm để xác định các nhóm A, B, O và AB, phân loại nhóm A1, A2 và Yếu tố H.
(ii) Chế phẩm để xác định nhóm M, N, S, P và các nhóm khác như Lu, K, Le.
(iii) Chế phẩm để xác định các nhóm Rh và các phân nhóm Cw, F, V,…
(iv) Chế phẩm để xác định nhóm máu của động vật.
B. Các chế phẩm được coi là thuốc thử để xác định đặc tính của huyết thanh là loại dùng để xác định:
(i) đặc điểm của hệ thống GM, Km,…;
(ii) các nhóm huyết thanh Gc, Ag,….
C. Huyết thanh anti-human globulin (huyết thanh Coombs), rất cần thiết trong một số kỹ thuật xác định nhóm máu, cũng được coi là thuốc thử thuộc nhóm này.
Huyết thanh thô và các chất bán thành phẩm khác cần được xử lý thêm trước khi thích hợp để sử dụng làm thuốc thử phải được phân loại theo vật liệu cấu thành của chúng.
D. Thuốc thử để xác định đặc tính HLA (kháng nguyên HLA) thuộc nhóm này; chúng phải được dùng trực tiếp. Chúng là huyết thanh có nguồn gốc từ người hoặc động vật. Các thuốc thử này phản ứng với tế bào lumpho máu ngoại vi của đối tượng thử nghiệm để xác định kháng nguyên HLA. Các kháng nguyên HLA của đối tượng thử nghiệm có thể được xác định dựa trên kiểu phản ứng của huyết thanh xét nghiệm HLA khác nhau. Bên cạnh các thành phần hoạt tính, thuốc thử còn chứa các chất phụ gia để ổn định và bảo quản.
Loại này bao gồm:
a. Chế phẩm để xác định kháng nguyên HLA A, B và C
b. Chế phẩm để xác định kháng nguyên HLA DR.
c. Chế phẩm để xác định kháng nguyên HLA D.
Thuốc thử thành phẩm để xác định kháng nguyên HLA A,B và C có chứa nhiều loại kháng huyết thanh HLA khác nhau (ví dụ, đĩa thử nghiệm).
e. Thuốc thử thành phẩm để xác định locus HLA DR (ví dụ: Đĩa thử nghiệm).
Trừ những sản phẩm của Chương 28 hoặc 29, liên quan đến việc phân loại các mẫu chuẩn được chứng nhận, nhóm 38.22 sẽ được ưu tiên so với bất kỳ nhóm nào khác trong Danh mục.
Các mẫu chuẩn được chứng nhận của nhóm này là những mẫu chuẩn được điều chế để xác định kích cỡ một thiết bị, đánh giá một phương pháp đo lường hoặc xác định giá trị của một nguyên liệu. Những mẫu chuẩn này có thể bao gồm:
(a) Các chất nền có chứa các analyte bổ sung, chất cô đặc của chúng đã được xác định chính xác;
(b) Các nguyên liệu chưa được trộn, sự cô đặc của một số thành phần của chúng đã được xác định chính xác (ví dụ, hàm lượng protein và chất béo của bột sữa);
(c) Các nguyên liệu, có thể ở dạng tự nhiên hoặc tổng hợp, một số đặc tính của loại này đã được xác định chính xác (ví dụ, độ bền kéo, trọng lượng riêng).
Những mẫu chuẩn này phải có một giấy chứng nhận trong đó nêu rõ giá trị của các đặc tính được chứng nhận, các phương pháp được sử dụng để xác định các giá trị và mức độ chắc chắn liên quan đến từng giá trị, và thẩm quyền chứng nhận.
Nhóm này cũng loại trừ những chất thử sau, dù chúng có hoặc không ở những dạng được sử dụng như là chất thử thí nghiệm hoặc chẩn đoán:
(a) Các sản phẩm thuộc các nhóm từ 28.43 đến 28.46 và nhóm 28.52 (xem Chú giải 1 của Phần VI);
(b) Các sản phẩm được nêu tại Chú giải 1 của Chương 28 hoặc Chú giải 1 của Chương 29;
(c) Chất màu của nhóm 32.04, kể cả các chế phẩm được nêu tại Chú giải 3 của chương 32;
(d) Môi trường nuôi cấy đã điều chế cho sự phát triển và nuôi các vi sinh vật (kể cả các virut và các loại tương tự) hoặc của các tế bào của thực vật, người hoặc động vật (nhóm 38.21).
- Axit béo monocarboxylic công nghiệp; dầu axit từ quá trình tinh lọc:
3 823.11 - - Axit stearic
3823.12 - - Axit oleic
3823.13 - - Axit béo dầu tall
3823.19 - - Loại khác
3823.70 - Cồn béo công nghiệp
(A) AXIT BÉO MONOCARBOXYLIC CÔNG NGHIỆP; DẦU AXIT TỪ QUÁ TRÌNH TINH LỌC
Các axit béo monocarboxylic nói chung được điều chế bằng quá trình xà phòng hóa hoặc sự thủy phân các chất béo hoặc dầu tự nhiên. Sự phân tách các axit béo ở thể rắn (đã bão hòa) và các axit béo ở thể lỏng (chưa bão hòa) thông thường được thực hiện bởi quá trình kết tinh hoặc có dung môi hoặc không có dung môi. Phần lỏng (thương phẩm gọi là axit oleic hoặc olein) bao gồm axit oleic và các axit béo chưa bão hòa khác (ví dụ, axit linoleic và axit linolenic) cùng với một lượng nhỏ các axit béo bão hòa. Phần rắn (thương phẩm gọi là axit stearic hoặc stearin) bao gồm chủ yếu là axit palmitic và axit stearic với tỷ lệ nhỏ các axit béo chưa bão hòa.
Nhóm này bao gồm, không kể những cái khác:
(1) Axit stearic thương phẩm (stearin) là một chất rắn màu trắng có mùi đặc trưng. Nó là một chất tương đối rắn và hơi giòn và nó thường được bán dưới dạng hạt, mảnh hoặc bột. Nó cũng được bán dưới dạng lỏng khi vận chuyển nóng trong các thùng đẳng nhiệt.
(2) Axit oleic thương phẩm (olein) là một chất lỏng sánh từ không màu đến màu nâu có mùi đặc trưng.
(3) Các axit béo của dầu tall (TOFA) bao gồm chủ yếu là axit oleic và axit linoleic. Chúng thu được bởi sự chưng cất dầu tall thô và chứa 90% trở lên trọng lượng là axit béo (tính theo trọng lượng của sản phẩm khô).
(4) Các axit béo đã chưng cất, chúng thu được sau khi tách thủy phân các chất béo và dầu khác (ví dụ, dầu dừa, dầu cọ, mỡ (tallow)), tiếp theo là quá trình tinh lọc (chưng cất).
(5) Phần chưng cất axit béo, thu được từ các chất béo và dầu, chúng được chưng cất chân không với sự có mặt của hơi nước như một phần của một quá trình lọc. Phần chưng cất của axit béo được đặc trưng bởi hàm lượng axit béo tự do cao.
(6) Các axit béo thu được bởi sự oxy hóa có xúc tác các hydrocarbon tổng hợp có trọng lượng phân tử cao.
(7) Các dầu axit từ quá trình lọc, có hàm lượng axit béo tự do tương đối cao, được điều chế bởi việc phân tách bằng axit khoáng cặn dầu thu được trong quá trình tinh luyện dầu thô.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Axit oleic, có độ tinh khiết từ 85% trở lên (tính theo trọng lượng của sản phẩm khô) (nhóm 29.16)
(b) Các axit béo khác có độ tinh khiết từ 90% trở lên (tính theo trọng lượng của sản phẩm khô) (thường thuộc nhóm 29.15, 29.16 hoặc 29.18)
(B) CỒN BÉO CÔNG NGHIỆP
Cồn béo được phân loại ở đây là các hỗn hợp rượu acrylic thu được bởi sự khử có xúc tác hỗn hợp các axit béo thuộc nhóm này (xem Phần (A) ở trên) hoặc sự khử có xúc tác các ester của chúng, bằng sự xà phòng hóa dầu cá voi, bằng phản ứng có xúc tác giữa các olefin, carbon monoxide và hydro (quá trình "oxo"), bằng sự hydro hóa các olefin, bằng sự oxy hóa các hydrocarbon hoặc bằng các phương pháp khác.
Cồn béo thường ở dạng lỏng, nhưng có một số ở dạng rắn.
Các cồn béo cơ bản thuộc nhóm này là:
(1) Cồn lauryl là một hỗn hợp các cồn béo đã bão hòa thu được bởi sự khử có xúc tác các axit béo từ dầu dừa. Nó ở trạng thái lỏng tại nhiệt độ thường, nhưng ở trạng thái bán rắn khi thời tiết lạnh.
(2) Cồn cetyl là một hỗn hợp rượu cetyl và stearyl, trong đó rượu cetyl chiếm ưu thế hơn hẳn, thu được từ dầu cá nhà táng và dầu cá voi. Nó ở dạng chất rắn kết tinh, trong mờ ở nhiệt độ phòng.
(3) Cồn stearyl là một hỗn hợp rượu stearyl và cetyl thu được bởi sự khử stearin hoặc các dầu giàu axit stearic, hoặc từ dầu cá voi bằng sự hydro hóa và thủy phân tiếp theo là quá trình chưng cất. Nó ở dạng rắn kết tinh màu trắng ở nhiệt độ phòng.
(4) Cồn oleyl thu được nhờ sự khử olein, hoặc từ các rượu được dẫn xuất từ dầu cá voi bởi áp suất thủy lực. Nó ở dạng lỏng ở nhiệt độ phòng.
(5) Hỗn hợp các cồn béo bậc nhất thường bao gồm các cồn có khoảng từ 6 đến 13 nguyên tử carbon. Nhìn chung, chúng là các chất lỏng được sản xuất bởi quá trình "Oxo".
Các cồn béo được đề cập trong các đoạn (1) đến (4) được sử dụng chủ yếu để điều chế các dẫn xuất sulphonate của chúng có các muối kiềm là các tác nhân hữu cơ hoạt động bề mặt thuộc nhóm 34.02. Các cồn béo thuộc đoạn (5) được sử dụng chủ yếu để sản xuất các chất hóa dẻo cho poly(vinyl chloride).
Nhóm này cũng bao gồm các cồn béo công nghiệp mang đặc tính của sáp.
Nhóm này không bao gồm các cồn béo đã xác định về mặt hóa học, có độ tinh khiết từ 90% trở lên (tính theo trọng lượng của các sản phẩm khô) (thường thuộc nhóm 29.05).
3824.10 - Các chất gắn đã điều chế dùng cho khuôn đúc hoặc lõi đúc
3824.30 - Cacbua kim loại không kết tụ trộn với nhau hoặc trộn với các chất gắn kim loại
3824.40 - Phụ gia đã điều chế dùng cho xi măng, vữa hoặc bê tông
3824.50 - Vữa và bê tông không chịu lửa
3824.60 - Sorbitol trừ loại thuộc phân nhóm 2905.44
- Hàng hóa đã nêu trong Chú giải phân nhóm 3 của Chương này:
3824.81 - - Chứa oxirane (ethylene oxide)
3824.82 - - Chứa polychlorinated biphenyls (PCBs), polychlorinated terphenyls (PCTs) hoặc polybrominated biphenyls (PBBs)
3824.83 - - Chứa tris(2,3-dibromopropyl) phosphate
3824.84 - - Chứa aldrin (ISO), camphechlor (ISO) (toxaphene), chlordane (ISO), chlordecone (ISO), DDT (ISO) (clofenotane (INN), 1,1,1-trichloro-2,2-bis(p-chlorophenyl)ethane), dieldrin (ISO, INN), endosulfan (ISO), endrin (ISO), heptachlor (ISO) hoặc mirex (ISO)
3824.85 - - Chứa 1,2,3,4,5,6-hexachlorocyclohexane (HCH (ISO)), kể cả lindane (ISO, INN)
3824.86 - - Chứa pentachlorobenzene (ISO) hoặc hexachlorobenzene (ISO)
3824.87 - - Chứa perfluorooctane sulphonic acid, muối của nó, perfluorooctane sulphonamides, hoặc perfluorooctane sulphonyl fluoride
3824.88 - - Chứa tetra-, penta-, hexa-, hepta- hoặc octabromodiphenyl ethers
3824.89 - - Chứa các parafin đã clo hóa mạch ngắn
- Loại khác:
3824.91 - - Hỗn hợp và chế phẩm chủ yếu chứa (5-ethyl-2- methyl-2-oxido-1,3,2-dioxaphosphinan-5-yl)methyl methyl methylphosphonate và bis[(5-ethyl-2-methyl-2-oxido-1,3,2- dioxaphosphinan-5-yl)methyl] methylphosphonate
3824.92 - - Các este polyglycol của axit methylphosphonic
3824.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A) CÁC CHẤT GẮN ĐÃ ĐIỀU CHẾ DÙNG CHO KHUÔN ĐÚC HOẶC LÕI ĐÚC
Nhóm này bao gồm các chất gắn lõi đúc dựa trên các sản phẩm nhựa tự nhiên (ví dụ, Colophan), dầu hạt lanh, các chất nhầy thực vật, dextrin, mật mía, các polyme thuộc chương 39...
Đây là các chế phẩm để trộn với cát đúc để có độ đặc phù hợp với mục đích sử dụng trongkhuôn đúc hoặc lõi đúc, và tạo thuận tiện cho việc tách cát sau khi khối đúc đã được đổ vào khuôn.
Tuy nhiên, các dextrin và các tinh bột biến tính khác, và các loại keo dựa trên các tinh bột hoặc dựa trên các dextrin hoặc các tinh bột biến tính khác được phân loại vào nhóm 35.05.
(B) CÁC SẢN PHẨM HÓA HỌC VÀ CÁC CHẾ PHẨM HÓA HỌC HOẶC CÁC CHẾ PHẨM KHÁC
Chỉ có ba trường hợp ngoại lệ (xem các đoạn (7), (19) và (32) dưới đây), nhóm này không áp dụng đối với các nguyên tố và các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt.
Các sản phẩm hóa học phân loại ở đây vì vậy là các sản phẩm mà các hợp phần của chúng chưa được xác định về mặt hóa học, dù chúng thu được như các sản phẩm phụ từ quá trình sản xuất các chất khác (điều này áp dụng cho, ví dụ, các axit naphthetic) hoặc được điều chế trực tiếp.
Các chế phẩm hóa học hoặc các chế phẩm khác hoặc là các hỗn hợp (trong số đó các chất nhũ tương và các chất phân tán là các dạng đặc biệt) hoặc đôi khi là các dung dịch. Các dung dịch chứa nước của các sản phẩm hóa học thuộc Chương 28 hoặc 29 vẫn phân loại trong các Chương đó, nhưng các dung dịch của các sản phẩm này ở dạng dung môi trừ nước, không kể đến một vài trường hợp ngoại lệ, bị loại khỏi các chương đó và tùy theo, chúng được xem xét như các chế phẩm thuộc nhóm này.
Các chế phẩm được phân loại ở đây có thể là toàn bộ hoặc một phần của các sản phẩm hóa học (đây là trường hợp phổ biến), hoặc hoàn toàn là các thành phần tự nhiên (ví dụ, xem đoạn (24) dưới đây chẳng hạn).
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các hỗn hợp các sản phẩm hóa học với thực phẩm hoặc các chất khác có giá trị dinh dưỡng, loại được sử dụng trong chế biến các thực phẩm nhất định cho người như là các nguyên liệu hoặc để cải thiện một số đặc tính của thực phẩm (ví dụ, chất phụ gia cho các loại bánh làm từ bột nhão, bánh quy, bánh ngọt và các sản phẩm của lò nướng bánh khác), với điều kiện là các hỗn hợp hoặc các chất như vậy có giá trị bởi chính hàm lượng dinh dưỡng của nó. Các sản phẩm này thông thường thuộc nhóm 21.06 (Xem thêm Chú giải tổng quát của Chương 38).
Nhóm này cũng loại trừ hợp chất thủy ngân (nhóm 28.52).
Theo các điều kiện trên, các chế phẩm và các sản phẩm hóa học phân loại vào đây bao gồm:
(1) Axit naphthenic (sản phẩm phụ của quá trình tinh lọc một số dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và các dầu khác thu được từ các khoáng bitum), và các muối của chúng, trừ các muối của axit naphthenic (naphthenate) tan trong nước thuộc nhóm 34.02, và các muối thuộc các nhóm 28.43 đến 28.46 và 28.52. Nhóm này bao gồm, ví dụ, các naphthenate của canxi, bari, kẽm, mangan, nhôm, coban, crom, chì..., mà một vài trong số chúng được sử dụng để điều chế các chất làm khô hoặc các phụ gia dầu khoáng, và đồng naphthanate sử dụng để sản xuất thuốc diệt nấm.
(2) Carbua kim loại không kết tụ (vonfam cacbua, molipden cacbua...) trộn lẫn với nhau hoặc với các chất gắn kim loại (như coban), để sản xuất các mũi chóp và các chi tiết tương tự cho dụng cụ thuộc nhóm 82.09.
(3) Phụ gia đã điều chế dùng cho xi măng, vữa hoặc bê tông, ví dụ, các phụ gia chống axit với thành phần chính là natri hoặc kali silicat và natri hoặc kali fluorosilicat, và các chế phẩm không thấm nước (có hoặc không chứa xà phòng), ví dụ, dựa trên các oxit canxi, các axit béo...
(4) Vữa và bê tông không chịu lửa.
(5) Sorbitol trừ loại thuộc nhóm 29.05.
Loại này bao gồm, đặc biệt là xirô sorbitol (D-glucitol) chứa các polyol khác và trong đó hàm lượng D-glucitol thường trong khoảng từ 60% đến 80% vật liệu khô. Các sản phẩm thuộc loại này thường thu được bởi sự hydro hóa xirô glucose có hàm lượng disaccharide và polysaccharide cao, mà không xảy ra quá trình phân ly. Chúng có đặc tính là khó kết tinh và được sử dụng rất rộng rãi trong các ngành công nghiệp khác nhau (ví dụ, công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, plastic và công nghiệp dệt).
Sorbitol đáp ứng các yêu cầu của Chú giải 1 thuộc Chương 29 được phân loại vào nhóm 29.05. Sorbitol thuộc loại này thường thu được bởi sự hydro hóa glucose hoặc đường nghịch chuyển.
(6) Hỗn hợp canxi cacbua, canxi carbonat (đá vôi) và các vật liệu khác chẳng hạn như carbon hoặc fluorspar, được điều chế để sử dụng như một chất tách sulphur trong luyện thép.
(7) Các tinh thể nuôi cấy (trừ các bộ phận quang học) trọng lượng không thấp hơn 2,5 gam mỗi tinh thể, bằng oxit magie hoặc các halogen của kiềm hoặc của kim loại kiềm thổ (canxi hoặc liti florua, kali hoặc natri clorua, kali bromua, kali bromiodide...). Các bộ phận quang học từ các tinh thể nuôi cấy bị loại trừ (nhóm 90.01).
Các tinh thể nuôi cấy (trừ các bộ phận quang học) trọng lượng thấp hơn 2,5 gam mỗi tinh thể, được phân loại trong Chương 28, nhóm 25.01 (các tinh thể natri clorua) hoặc nhóm 31.04 (các tinh thể kali clorua).
(8) Các sulphonate dầu mỏ, không tan trong nước, thu được từ dầu mỏ hoặc các phân đoạn của dầu mỏ bởi quá trình sulphonate, ví dụ, bằng axit sulphuric, axit sulphuric bốc khói (oleum) hoặc sulphur trioxide hòa tan trong sulphur dioxide lỏng, quá trình này thường được nối tiếp bởi quá trình trung hoà. Tuy nhiên, các loại sulphonate dầu mỏ có thể tan trong nước, ví dụ, của kim loại kiềm, của nhôm hoặc của các ethanolamine bị loại trừ (nhóm 34.02).
(9) Các Polychlorobiphenyl (các hỗn hợp của các dẫn xuất đã clo hóa của biphenyl) và các chloroparaffins.
Tuy nhiên, các sản phẩm polychlorobiphenyl rắn và các chloroparaffln rắn có đặc tính của các loại sáp nhân tạo bị loại trừ (nhóm 34.04).
(10) Poly(oxyethylene) (polyethylene glycol) với trọng lượng phân tử rất thấp, ví dụ, các hỗn hợp của di-, tri- và tetra (oxyethylene) glycols.
Tuy nhiên, các loại khác của poly(oxyethylene) (polyethylene glycol) bị loại trừ (nhóm 39.07 hoặc, nếu chúng có đặc tính của sáp nhân tạo, nhóm 34.04).
(11) Các hỗn hợp của mono-, di- và tri-, các este của axit béo của glycerol, được sử dụng như các chất nhũ hóa cho các chất béo.
Tuy nhiên, những hỗn hợp trên có đặc tính của sáp nhân tạo bị loại trừ (nhóm 34.04).
(12) Dầu rượu tạp (Fusel oil), thu được trong quá trình tinh cất rượu ethyl thô.
(13) Dầu dippel (dầu xương, dầu động vật, dầu Jeppel) thu được nhờ quá trình chưng cất khô xương hoặc sừng của động vật nhai lại. Nó là một chất lỏng hoi đen, đặc quánh và có mùi thối, sử dụng chủ yếu trong điều chế thuốc trừ côn trùng hoặc các pyridine bazơ.
(14) Các chất trao đổi ion (kể cả các chất trao đổi axit hoặc kiềm) trừ các polyme thuộc Chương 39. Đây là các hợp chất không tan, khi tiếp xúc với một dung dịch chất điện ly, sẽ xảy ra sự trao đổi một trong các ion của chúng với một trong các ion chứa trong một chất hòa tan trong dung dịch đó, thuộc tính này có giá trị công nghiệp, ví dụ, để loại bỏ các muối canxi hoặc muối magiê khỏi nước cứng dùng trong các nồi hơi, cho công nghiệp dệt hoặc nhuộm, cho giặt là... Chúng cũng được sử dụng để chuyển hóa nước mặn thành nước uống... Tuy nhiên, các zeolite nhân tạo (đã hay chưa xác định về mặt hóa học), trừ những loại chứa các chất kết dính, bị loại trừ (nhóm 28.42).
(15) Các hợp chất chống cặn lắng thường dựa trên natri carbonate, natri silicat, tannin... Các hợp chất này, khi thêm vào nước cứng, sẽ làm kết tủa hầu hết các muối canxi và magiê hòa tan, từ đó ngăn chặn việc hình thành các chất lắng canxi trong nồi hơi, các ống dẫn của hệ thống xông hơi và các thiết bị khác mà trong đó nước được sử dụng theo một chu trình kín.
(16) Oxylith (hoặc đá oxy), được điều chế bằng cách thêm một lượng nhỏ các sản phẩm như muối đồng hoặc muối niken vào natri peroxide. Điều này hiệu chỉnh sự giải phóng oxy khi ngâm chìm trong nước. Oxylith thường ở dạng khối lập phương hoặc tấm.
(17) Các phụ gia để làm cứng vecni hoặc keo, ví dụ, các hỗn hợp amoni clorua và ure.
(18) Các sản phẩm hút khí cho các ống chân không, với thành phần chính là bari, zirconium... Các chất này thường được đóng thành dạng thỏi, dạng viên hoặc dạng tương tự, hoặc trên các ống hoặc dây kim loại.
(19) Các chất tẩy mực được đóng gói để bán lẻ. Đây thường là các dung dịch có chứa nước của các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học. Trong một số trường hợp, một hợp chất đơn lẻ có thể được sử dụng (ví dụ, một dung dịch có chứa nước của chloramine), nhưng trong các trường hợp khác, hai hợp chất với các chức năng bổ sung có thể là cần thiết. Đối với trường hợp sau, hai chai có thể được đóng cùng một gói, một chai chứa, ví dụ, một dung dịch có chứa nước của natri hydrosulphite và một chai khác chứa một dung dịch có chứa nước của kali permanganate.
(20) Chất sửa bản in từ khuôn tô được đóng gói để bán lẻ. Chúng thường là vecni cellulose màu hồng và được đóng trong các chai nhỏ có nắp đậy kèm theo một chổi nhỏ.
Các vecni này bị loại trừ khỏi nhóm này khi chưa được đóng gói để bán lẻ như các chất sửa bản in từ khuôn tô. Các chất pha loãng gồm hỗn hợp các chất hữu cơ cho các vecni này thuộc nhóm 38.14.
(21) Các chất sửa xóa dạng lỏng được đóng gói để bán lẻ. Chúng là các chất lỏng mờ đục (trắng hoặc có màu) bao gồm chủ yếu là thuốc màu, các chất kết dính, và các dung môi, được sử dụng cho việc che phủ các lỗi hoặc các dấu không mong muốn trong văn bản đánh máy, trong các văn bản viết tay, các bản photocopy, bản in offset mẫu hoặc các loại tương tự. Chúng thường được đóng trong các chai nhỏ (thường có nắp đậy kèm theo một chổi nhỏ), trong các hộp thiếc hoặc theo dạng chiếc bút.
Các chất pha loãng gồm hỗn hợp các chất hữu cơ cho các chất lỏng này thuộc nhóm 38.14
(22) Băng xóa được đóng gói để bán lẻ. Chúng là những cuộn ruy băng xóa thường đặt trong vỏ nhựa, được sử dụng để phủ lên những lỗi viết tay hoặc đánh máy hoặc các dấu không mong muốn trong văn bản đánh máy, trong các văn bản viết tay, các bản photocopy, bản in offset mẫu hoặc các loại tương tự. Những sản phẩm này có độ rộng và chiều dài của băng khác nhau. Băng xóa có thành phần là lớp phủ màu đục trên bề mặt của ruy băng. Việc phủ được thực hiện bằng tay bằng cách ấn vị trí đầu di chuyển trên phần cần xóa.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng xóa làm bằng giấy có lớp bồi dính (Chương 48).
(b) Ruy băng máy chữ hoặc các ruy băng tương tự, đã phủ mực hay làm sẵn bằng cách khác để in ấn.
(23) Các chế phẩm sử dụng chủ yếu để gạn lọc rượu vang và các đồ uống đã lên men khác. Nhìn chung các chế phẩm này có thành phần cơ bản là poly(vinyl pyrrolidone) hoặc các chất có chứa galetin hoặc albumin, chẳng hạn như keo điều chế từ bong bóng cá, gelatin, tảo carrageen hoặc albumin trứng. Tuy nhiên, các chế phẩm chứa enzyme bị loại trừ (nhóm 35.07).
(24) Các chất độn hỗn hợp cho các sản phẩm sơn. Đây là các loại bột đã điều chế thường được thêm vào sơn (trừ màu keo) để giảm giá thành của chúng và đồng thời, trong một số trường hợp, để cải thiện một số đặc tính (ví dụ, để tạo thuận lợi cho sự lan rộng của thuốc màu). Chúng cũng được sử dụng trong sản xuất các chất màu keo, nhưng trong trường hợp này chúng tác dụng như các thuốc màu. Các chế phẩm này bao gồm các hỗn hợp của hai hoặc nhiều sản phẩm tự nhiên (đá phấn, bari sulphate tự nhiên, đá phiến, đá trầm tích (dolomite), magiê carbonate tự nhiên, thạch cao, amiăng, mica, bột talc, calcite,...), các hỗn hợp của các sản phẩm tự nhiên này với các sản phẩm hóa học, hoặc hỗn hợp các sản phẩm hóa học (ví dụ, các hỗn hợp của nhôm hydroxide và bari sulphate).
Loại này cũng bao gồm canxi carbonat tự nhiên được nghiền mịn ("màu trắng của rượu sâm banh"), mỗi hạt được bao phủ, bằng một quá trình xử lý đặc biệt, với màng axit stearic có tác dụng ngăn nước.
(25) Các chế phẩm để sản xuất một số sản phẩm gốm (răng nhân tạo...), ví dụ, hỗn hợp có thành phần cơ bản là đất sét (cao lanh), thạch anh và tràng thạch (feldspar).
Danh mục này cũng bao gồm các sản phẩm zirconia nha khoa có thành phần cơ bản là oxit zirconium (ZrO2) và các oxit kim loại khác. Chúng không thể được sử dụng trong nha khoa trước khi trải qua một số quy trình như nghiền, thiêu kết và tráng men để tạo thành hình dạng cuối cùng của răng nhân tạo hoặc phục hình răng.
(26) Sản phẩm nóng chảy được để thử độ đốt nóng của các đồ gốm (nón Seger...). Các sản phẩm này thường ở dạng hình chóp nhỏ, được tạo thành từ hỗn hợp các chất tương tự như các chất trong bột nhão gốm và trong các chế phẩm có thể nấu thành thủy tinh. Thành phần của chúng được tính toán để chúng mềm đi và gãy đổ ở một nhiệt độ nhất định, và do vậy có thể được sử dụng để kiểm soát độ đốt nóng của các sản phẩm, chẳng hạn như sản phẩm gốm.
(27) Vôi soda, điều chế bằng cách ngâm đá vôi tinh khiết với natri hydroxide và được sử dụng để hấp thụ CO2 trong hệ thống máy thở gây mê, trong tàu ngầm,... Nhóm này loại trừ nước soda vôi đóng gói như một thuốc thử của phòng thí nghiệm (nhóm 38.22).
(28) Silica gel ngậm nước được tạo màu bằng các muối coban, được sử dụng như một chất có tác dụng hút ẩm, nó chỉ thị qua màu sắc khi không còn tác dụng nữa.
(29) Các chế phẩm chống gỉ. Đây có thể là các chế phẩm dựa trên, ví dụ, axit phosphoric, nó có tác dụng về mặt hóa học trong việc ngăn ngừa gỉ.
Các chế phẩm chống gỉ dựa trên các chất bôi trơn thuộc nhóm 27.10 hoặc 34.03, tùy trường hợp cụ thể.
(30) Các chế phẩm (ví dụ, các viên nén), bao gồm saccharin hoặc các muối của nó và các chất như natri bicarbonate (natri hydrogencarbonate) và axit tartaric, không phải là thực phẩm, được sử dụng cho các mục đích làm ngọt.
(31) Muối cho chữa bệnh hoặc làm mặn, bao gồm natri clorua bổ sung thêm natri nitrite (muối đã nitrit hóa) hoặc natri nitrate (muối đã nitrat hóa).
Các sản phẩm tương tự đã được thêm đường, được phân loại vào nhóm 21.06.
(32) Một số phần tử đã được cắt gọt chưa được lắp ráp từ các vật liệu áp điện (trừ thạch anh, tourmaline,... thuộc nhóm 71.03 hoặc 71.04).
Các vật liệu sử dụng phổ biến nhất cho việc sản xuất các phần tử áp điện thuộc nhóm này là:
(a) Muối Rochelle (hoặc muối Seignette, tức là, kali natri tartrate tetrahydrate); ethylenediamine tartrate; các orthophosphate của ammoni, rubidium hoặc caesium hoặc các tinh thể pha trộn của chúng.
(b) Bari titanate; chì zirconate titanate; chì metaniobate; chì stronti titanate zirconate; canxi titanate;...
Các phần tử này thu được bởi sự cắt gọt chính xác các tinh thể nuôi cấy chất lượng cao tùy theo dụng cụ cắt bằng điện. Trước khi cắt các tinh thể này thuộc các nhóm thích hợp của chúng trong Chương 28 hoặc 29 nếu chúng là các chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt, nếu không thì chúng được phân loại vào nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm các phần tử phân cực đa tinh thể của các sản phẩm đã được trích dẫn ở đoạn (b) ở trên, với điều kiện chúng chưa được lắp ráp.
(33) Các chế phẩm chống trượt của băng truyền tải, bao gồm các chất béo, chất mài mòn,... thậm chí chứa 70% trở lên tính theo trọng lượng là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ các khoáng bitum.
(34) Các sản phẩm trung gian sản xuất một số chất chữa bệnh nhất định (ví dụ, thuốc kháng sinh), thu được nhờ sự hỗ trợ của các vi sinh vật bằng cách lên men, lọc và chiết xuất giai đoạn đầu, thông thường chúng chứa không lớn hơn 70% các chất hoạt tính; ví dụ, "các loại bánh có tính kiềm", chúng là các sản phẩm trung gian sản xuất clorotetracycline (aureomycine) và chúng chứa mycelium không hoạt tính, các chất trợ lọc, và từ 10% đến 15% clorotetracycline.
(35) Các sản phẩm sinh ra hiệu ứng ánh sáng bởi hiện tượng phát huỳnh quang hóa học, ví dụ, các que phát sáng trong đó hiệu ứng ánh sáng thu được bởi một phản ứng hóa học giữa các este kiểu axit oxalic và hydroperoxit với sự có mặt của một dung môi và một hợp chất phát huỳnh quang.
(36) Chất lỏng khởi động cho các động cơ xăng dầu, chứa dietyl ete, 70% trở lên tính theo trọng lượng là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và cũng chứa các thành phần khác, dietyl ete là thành phần cơ bản.
(37) Bột nhão làm khuôn ở dạng bột (để sử dụng sau khi trộn với nước). Bột này chứa khoảng 30% bột lúa mạch đen và khoảng 30% cellulose gỗ, cùng với ximăng, keo và đá phấn. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các loại bột nhão làm khuôn thuộc nhóm 34.07.
(38) "Thuốc màu làm mờ" (Flatting pigment) chứa muối nhôm của một axit nhựa đã biến tính, các hạt này được phủ với một lớp cellulose ete để bảo vệ chúng chống lại các dung môi và để ngăn chặn sự kết tủa.
(39) "Bột nhão của vảy cá" hoặc "phân cá" (fish guano), gồm bột nhão thô ánh bạc thu được bằng cách xử lý vẩy cá bằng dung môi trắng, và, do có thành phần guanine, được sử dụng sau khi tinh chế để làm thành tinh chất ngọc trai.
(40) Các tinh thể Thallium bromoiodide, chứa dung dịch rắn của bromide và iodide, được sử dụng vì đặc tính quang học của chúng (độ trong suốt cao đối với các bức xạ hồng ngoại).
(41) Tác nhân tạo gel, một sản phẩm không xác định về mặt hóa học, bao gồm một montmorillonite đã trải qua một quá trình xử lý đặc biệt khiến chúng trở thành ưa chất hữu cơ, được đóng gói ở dạng bột màu trắng kem, được sử dụng trong sản xuất nhiều chế phẩm hữu cơ (sơn, vecni, polyme vinyl phân tán, sáp, chất kết dính, các hợp chất matit, mỹ phẩm...)
(42) Các loại axit béo, công nghiệp:
(i) Đã đime hóa.
(ii) Đã trime hóa.
(iii) Đã ester hóa với rượu amyl và sau đó được epoxy hóa.
(43) Hỗn hợp đã thiêu kết của oxit molybdic kỹ thuật, carbon và axit boric, chúng được điều chế để sử dụng như một vật liệu hợp kim trong luyện thép.
(44) Bột được mô tả trong thương mại như "oxit màu xám" hoặc "oxit màu đen" và đôi khi gọi không đúng là "bụi chì", là một hỗn hợp được điều chế một cách đặc biệt của mono oxit chì (chiếm từ 65% đến 80%) và chì kim loại (mức cân bằng), thu được bằng sự oxy hóa có kiểm soát chì tinh khiết trong quá trình nghiền bi và sử dụng trong quá trình sản xuất các bản cực của ắc quy.
(45) Hỗn hợp các đồng phân (isomer) của hai hợp chất hữu cơ khác nhau, các đồng phân divinylbenzen (đặc trưng từ 25 đến 80%) và các đồng phân etylvinylbenzen (đặc trưng từ 19 đến 50%), được sử dụng như các tác nhân polyme hóa trong nhựa polystyrene trong đó chỉ có các đồng phân divinylbenzene tham gia quá trình tạo liên kết ngang.
(46) Các hỗn hợp, được sử dụng như các chất làm đặc và các chất làm ổn định nhũ tương trong các chế phẩm hóa học hoặc được sử dụng như các chất kết dính trong sản xuất đá mài mòn, bao gồm các sản phẩm thuộc hoặc các nhóm riêng biệt hoặc cùng nhóm của Chương 25, có hoặc không có các vật liệu được phân loại trong các chương khác và có một trong các cấu thành dưới đây.
- hỗn hợp các loại đất sét khác nhau;
- hỗn hợp các loại đất sét khác nhau và tràng thạch (đá feldspar);
- hỗn hợp đất sét, tràng thạch (đá feldspar) đã nghiền thành bột và borax (tincal) tự nhiên đã nghiền thành bột;
- hỗn hợp đất sét, trường thạch (đá feldspar) và natri silicate.
(47) Các hỗn hợp được sử dụng như môi trường trồng cây, chẳng hạn như đất trồng trong chậu, bao gồm các sản phẩm có thể được phân loại vào Chương 25 (đất, cát, đất sét), chúng có hoặc không chứa lượng nhỏ các nguyên tố phân bón như nitơ, photpho hoặc kali.
Tuy nhiên, hỗn hợp của than bùn và cát hoặc đất sét, mà các đặc tính của chúng được quyết định bởi than bùn thì bị loại trừ (nhóm 27.03)
(48) Các loại bột nhão dùng để sao chép với thành phần cơ bản là gelatin. Các chất này được sử dụng để sao lại các bản vẽ, để phủ các trục lăn của máy in,... Thành phần của các hỗn hợp này rất đa dạng, nhưng thành phần chủ yếu là gelatin, mà được thêm vào, theo các tỷ lệ khác nhau, dextrin và bari sulphate, hoặc (nếu các bột nhão được sử dụng để sản xuất trục lăn mực cho các máy in) glycerol hoặc đường và các chất độn (cao lanh,...).
Các bột nhão được phân loại tại đây dù ở dạng khối (hộp, thùng hình trống...) hay sẵn sàng cho sử dụng (thông thường là trên lớp bồi bằng giấy hoặc vật liệu dệt).
Nhóm này không bao gồm các trục lăn mực cho máy in được phủ bột nhão dùng để sao chép (nhóm 84.43).
(49) Este của axit diacetyl tartaric với các mono- và diglyceride được trộn với tricalcium phosphate hoặc calcium carbonate, được sử dụng như chất nhũ hóa.
Nhóm này cũng không bao gồm:
Silica fume được xác định về mặt hóa học riêng biệt thu được dưới dạng sản phẩm phụ từ quá trình sản xuất silicon, ferrosilicon và zirconia, thường được sử dụng làm chất phụ gia pozzolanic trong bê tông, xi măng sợi hoặc vật liệu đúc chịu lửa, và làm chất phụ gia trong polyme (nhóm 28.11)
(b) Các tác nhân hoàn tất và các sản phẩm hoặc chế phẩm khác, loại được sử dụng trong các ngành công nghiệp dệt, công nghiệp giấy, công nghiệp thuộc da hoặc các ngành công nghiệp tương tự (nhóm 38.09)
(c) Hỗn hợp các vật liệu khoáng cách nhiệt hoặc cách âm hoặc các vật liệu khoáng hấp thụ âm thanh thuộc nhóm 68.06 hoặc các hỗn hợp với thành phần cơ bản là amiăng hoặc với thành phần cơ bản là amiăng và magie carbonate thuộc nhóm 68.12.
***
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 3824.89
Hoạt động mua bán các hỗn hợp chứa các parafin đã clo hóa mạch ngắn được kiểm soát bởi Công ước Rotterdam và Stockholm.
Phân nhóm 3824.91
Hoạt động mua bán các chế phẩm và hỗn hợp được mô tả tại phân nhóm 3824.91 được điều chỉnh bởi Công ước về cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ và sử dụng vũ khí hoá học và phá huỷ chúng (Công ước về vũ khí hóa học).
Phân nhóm 3824.92
Hoạt động mua bán các hỗn hợp chứa este polyglycol của axit methylphosphonic được kiểm soát bởi Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học (Công ước về vũ khí hóa học).
3825.10 - Rác thải đô thị
3825.20 - Bùn cặn của nước thải
3825.30 - Rác thải bệnh viện
- Dung môi hữu cơ thải:
3825.41 - - Đã halogen hoá
3825.49 - - Loại khác
3825.50 - Chất thải từ dung dịch tẩy kim loại, chất lỏng thuỷ lực, chất lỏng dùng cho phanh và chất lỏng chống đông
- Chất thải khác từ ngành công nghiệp hoá chất hoặc các ngành công nghiệp có liên quan:
3825.61 - - Chứa chủ yếu các hợp chất hữu cơ
3825.69 - - Loại khác
3825.90 - Loại khác
(A) CÁC SẢN PHẨM CÒN LẠI CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP HOÁ CHẤT HOẶC CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CÓ LIÊN QUAN, CHƯA ĐƯỢC CHI TIẾT HOẶC GHI Ở NƠI KHÁC
(1) Oxit sắt kiềm dùng để tinh chế khí (đặc biệt là khí than đá) có chứa oxit sắt có tạp chất, thu được như là một sản phẩm phụ từ một trong những quá trình kết xuất nhôm từ bauxite. Những sản phẩm phụ này cũng có natri carbonat, silica…
(2) Các chất còn lại sau khi sản xuất thuốc kháng sinh (còn được gọi là “cặn (cakes)”), với một lượng kháng sinh rất thấp, thích hợp để điều chế hỗn hợp thức ăn động vật.
(3) Chất lỏng khí amoniac, được sản xuất như là một phần có nước lấy từ hắc ín than đá thô được cô đặc từ khí than, và cũng thông qua quá trình hấp thụ của amoniac trong nước dùng để rửa than đá. Chúng thường được cô đặc trước khi vận chuyển. Chúng là những chất lỏng có màu hơi nâu và được dùng để sản xuất muối amoni (đặc biệt là amonium sulphate) và các dung dịch có nước được tinh chế và cô đặc của khí amoniac.
(4) Oxit đã qua sử dụng. Sau khi chiết xuất nước từ phần lớn hơn của thành phần amoniac, khí than được tinh chế về mặt hoá học bằng cách chuyển qua một khối thường bao gồm quặng sắt nâu hoặc gồm oxit sắt (III) đã hydrate hóa, mùn cưa và canxi sulphate. Khối này sẽ giúp loại bỏ một số tạp chất từ khí (như hydro sulphide, axit hydrocyanic…). Khi đã qua sử dụng, nó chứa một hỗn hợp sulphur, phẩm lam phổ (Prussian blue), một lượng nhỏ muối amonium và các chất khác, và được gọi là oxit đã qua sử dụng. Loại này thường có dạng bột hoặc hạt, có màu từ xanh lục nhạt đến màu nâu nhạt, có mùi khó chịu, và chủ yếu được dùng như là nguồn sulphur và cyanide (đặc biệt là phẩm lam phổ (Prussian blue) và như một loại phân bón hoặc thuốc trừ côn trùng.
(5) Các sản phẩm còn lại từ việc xử lý khí thải ở các nhà máy năng lượng bằng quy trình còn được gọi là quy trình khử lưu huỳnh trong khói thải khi đốt thạch cao (LG FGD). Các sản phẩm còn lại này ở dạng rắn hoặc ở dạng bùn loãng và hơn nữa có thể được xử lý và sử dụng như một chất thay thế cho thạch cao tự nhiên trong sản xuất tấm thạch cao. Tuy nhiên, canxi sulphate được tách ra khỏi các sản phẩm còn lại này, bị loại trừ (nhóm 28.33)
(B) RÁC THẢI ĐÔ THỊ
Nhóm này cũng bao gồm rác thải đô thị loại được thu gom từ các hộ gia đình, khách sạn, nhà hàng, bệnh viện, cửa hàng, văn phòng,… rác thải thu được do quét vỉa hè và đường phố, cũng như rác thải thu được do phá huỷ và xây dựng. Nhìn chung rác thải đô thị chứa một lượng lớn các vật liệu khác nhau như nhựa, cao su, gỗ, giấy, vật liệu dệt, thuỷ tinh, kim loại, nguyên liệu thực phẩm, đồ nội thất bị hỏng và các vật dụng bị hỏng hoặc thải loại khác.
Các vật liệu hoặc sản phẩm riêng lẻ được phân loại ra từ rác thải (như phế thải của plastic, cao su, gỗ, giấy, vật liệu dệt, thủy tinh hoặc kim loại và pin đã sử dụng) và phế thải công nghiệp bị loại trừ và phân loại vào các nhóm phù hợp với chúng trong Danh mục. (Đối với phế thải công nghiệp từ công nghiệp hóa chất hoặc ngành công nghiệp có liên quan, xem Phần (D) dưới đây). Các vật liệu hoặc sản phẩm phế thải như trên thu được một cách riêng lẻ cần được phân loại vào các nhóm phù hợp với chúng.
(C) BÙN CẶN CỦA NƯỚC THẢI
Bùn cặn của nước thải là bùn cặn sinh ra từ nhà máy xử lý nước thải đô thị và kể cả phế thải trước khi xử lý, các chất phát sinh do cọ rửa và bùn cặn chưa làm ổn định.
Nhóm này không bao gồm bùn cặn của nước thải đã làm ổn định thích hợp cho việc sử dụng làm phân bón (Chương 31). Tuy nhiên, khi chúng có chứa các vật liệu có hại cho nông nghiệp (ví dụ, kim loại nặng), làm cho bùn đã làm ổn định không phù hợp sử dụng làm phân bón, vẫn được phân loại vào nhóm này.
(D) PHẾ THẢI KHÁC ĐƯỢC NÊU Ở CHÚ GIẢI 6 CHƯƠNG NÀY
Nhóm này cũng bao gồm nhiều loại phế thải khác được nêu tại Chú giải (6) Chương này. Chúng bao gồm:
(1) Rác thải bệnh viện là rác thải bẩn từ việc nghiên cứu y khoa, chẩn đoán, điều trị hoặc từ các khâu y khoa khác, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y. Các rác thải này thường chứa các mầm bệnh, các chất dược liệu và các dung dịch trong cơ thể và đòi hỏi quy trình xử lý đặc biệt (ví dụ, băng bẩn, găng tay đã sử dụng và ống tiêm đã sử dụng).
(2) Dung môi hữu cơ thải thường lấy ra từ các qui trình rửa và làm sạch và chủ yếu chứa dung môi hữu cơ, không còn phù hợp để sử dụng tiếp như các sản phẩm ban đầu, được hoặc không được sử dụng cho mục đích thu hồi dung môi.
Chất thải chứa chủ yếu dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc dầu thu được từ khoáng bitum bị loại trừ (nhóm 27.10).
(3) Chất thải từ dung dịch tẩy sạch kim loại, chất lỏng thủy lực, chất lỏng dùng cho phanh và chất lỏng chống đông, không còn phù hợp để sử dụng tiếp như các sản phẩm ban đầu. Chúng thường được sử dụng cho mục đích thu hồi sản phẩm ban đầu.
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ tro và bã từ phế thải chất tẩy sạch kim loại loại được sử dụng để thu hồi kim loại hoặc hợp chất kim loại (nhóm 26.20) và phế thải của chất lỏng thủy lực và chất lỏng dùng cho phanh chứa chủ yếu dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc dầu thu được từ khoáng bitum (nhóm 27.10).
(4) Chất thải khác từ ngành công nghiệp hoá chất hoặc các ngành công nghiệp có liên quan. Nhóm này bao gồm, không kể những chất khác, chất thải từ việc sản xuất, pha chế và sử dụng các loại mực, thuốc nhuộm, thuốc màu, sơn, dầu bóng và véc ni, trừ rác thải đô thị và chất thải dung môi hữu cơ. Chúng nhìn chung là các hỗn hợp không đồng nhất có trạng thái khác nhau từ dạng lỏng hoặc bán rắn phân tán trong môi trường có nước hoặc không có nước, khác nhau về độ nhớt. Chúng không còn phù hợp để sử dụng tiếp như các sản phẩm ban đầu.
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ xỉ, tro và cặn từ chất thải từ việc sản xuất, pha chế và sử dụng các loại mực, thuốc nhuộm, thuốc màu, sơn, dầu bóng và véc ni, loại được dùng cho việc thu hồi kim loại hoặc hợp chất của chúng (nhóm 26.20) và chất thải chứa chủ yếu là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ các khoáng bitum (nhóm 27.10).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Xỉ, tro và bã chứa kim loại, thạch tín (arsen) hoặc hỗn hợp của chúng, loại dùng trong công nghiệp để thu hồi thạch tín (arsen) hoặc kim loại hoặc để sản xuất hợp chất của chúng (nhóm 26.20).
(b) Tro và cặn từ quá trình đốt rác thải (nhóm 26.21).
(c) Sản phẩm phụ terpenic từ quá trình khử terpen của các loại tinh dầu (nhóm 33.01).
(d) Dung dịch kiềm còn lại từ quá trình sản xuất bột giấy từ gỗ (nhóm 38.04).
Dầu diesel sinh học bao gồm các mono-alkyl este của các axit béo có chiều dài chuỗi khác nhau, không trộn lẫn với nước, có điểm sôi cao, áp suất hơi thấp và độ nhớt tương tự như dầu diesel sản xuất từ dầu mỏ. Dầu diesel sinh học được tạo ra bởi một quá trình hóa học đặc trưng gọi là phản ứng chuyển hóa este, theo đó các axit béo trong dầu hoặc chất béo phản ứng với rượu (thường là methanol hoặc ethanol) với sự có mặt của một chất xúc tác để tạo thành các este mong muốn.
Nó có thể thu được từ dầu thực vật (ví dụ, hạt cải dầu, đậu tương, cọ, hướng dương, hạt bông, dầu mè), từ mỡ động vật (ví dụ, mỡ lợn, mỡ talow) hoặc từ các loại dầu hoặc chất béo đã qua sử dụng (ví dụ, dầu chiên, dầu mỡ nấu ăn tái chế).
Bản thân dầu diesel sinh học không chứa dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ cũng như dầu thu được từ các khoáng bitum nhưng có thể được trộn lẫn hoặc pha trộn với nhiên liệu chưng cất thu được từ dầu mỏ hoặc các khoáng bitum (ví dụ, dầu diesel, dầu kerosene, dầu đun). Dầu diesel sinh học có thể được sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng sức nén, sản xuất năng lượng nhiệt hoặc các mục đích tương tự.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hỗn hợp chứa từ 70% trở lên theo trọng lượng là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ các khoáng bitum (nhóm 27.10).
(b) Các sản phẩm có nguồn gốc từ dầu thực vật đã được khử ôxi hoàn toàn và chỉ bao gồm các chuỗi hydrocarbon béo (nhóm 27.10).
- Chứa chlorofluorocarbons (CFCs), chứa hoặc không chứa hydrochlorofluorocarbons (HCFCs), perfluorocarbons (PFCs) hoặc hydrofluorocarbons (HFCs); chứa hydrobromofluorocarbons (HBFCs); chứa carbon tetrachloride; chứa 1,1,1-trichloroethane (methyl chloroform):
3827.11 - - Chứa chlorofluorocarbons (CFCs), chứa hoặc không chứa hydrochlorofluorocarbons (HCFCs), perfluorocarbons (PFCs) hoặc hydrofluorocarbons (HFCs)
3827.12 - - Chứa hydrobromofluorocarbons (HBFCs)
3827.13 - - Chứa carbon tetrachloride
3827.14 - - Chứa 1,1,1-trichloroethane (methyl chloroform)
3827.20 - Chứa bromochlorodifluoromethane (Halon-1211), bromotrifluoromethane (Halon-1301) hoặc dibromotetrafluoroethanes (Halon-2402)
- Chứa hydrochlorofluorocarbons (HCFCs), chứa hoặc không chứa perfluorocarbons (PFCs) hoặc hydrofluorocarbons (HFCs), nhưng không chứa chlorofluorocarbons (CFCs):
3827.31 - - Chứa các chất của các phân nhóm từ 2903.41 đến 2903.48
3827.32 - - Loại khác, chứa các chất của các phân nhóm từ 2903.71 đến 2903.75
3827.39 - - Loại khác
3827.40 - Chứa methyl bromide (bromomethane) hoặc bromochloromethane
- Chứa trifluoromethane (HFC-23) hoặc perfluorocarbons (PFCs) nhưng không chứa chlorofluorocarbons (CFCs) hoặc hydrochlorofluorocarbons (HCFCs):
3827.51 - - Chứa trifluoromethane (HFC-23)
3827.59 - - Loại khác
- Chứa các hydrofluorocarbons (HFCs) khác nhưng không chứa chlorofluorocarbons (CFCs) hoặc hydrochlorofluorocarbons (HCFCs):
3827.61 - - Chứa từ 15% trở lên tính theo khối lượng là 1,1,1-trifluoroethane (HFC-143a)
3827.62 - - Loại khác, chưa được chi tiết tại phân nhóm trên, chứa từ 55% trở lên tính theo khối lượng là pentafluoroethane (HFC-125) nhưng không chứa dẫn xuất flo hóa chưa no của các hydrocarbons mạch hở (HFOs)
3827.63 - - Loại khác, chưa được chi tiết tại các phân nhóm trên, chứa từ 40% trở lên tính theo khối lượng là pentafluoroethane (HFC-125)
3827.64 - - Loại khác, chưa được chi tiết tại các phân nhóm trên, chứa từ 30% trở lên tính theo khối lượng là 1,1,1,2-tetrafluoroethane (HFC-134a) nhưng không chứa dẫn xuất flo hóa chưa no của các hydrocarbons mạch hở (HFOs)
3827.65 - - Loại khác, chưa được chi tiết tại các phân nhóm trên, chứa từ 20% trở lên tính theo khối lượng là difluromethane (HFC-32) và từ 20% trở lên tính theo khối lượng là pentafluoroethane (HFC-125)
3827.68 - - Loại khác, chưa được chi tiết tại các phân nhóm trên, chứa các chất thuộc các phân nhóm từ 2903.41 đến 2903.48
3827.69 - - Loại khác
3827.90 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các hỗn hợp chứa các dẫn xuất halogen hóa của metan, etan hoặc propan, kể cả hỗn hợp của các dẫn xuất halogen hóa đó với các chất khác.
Hoạt động mua bán các hỗn hợp chứa các dẫn xuất halogen hóa của metan, etan và propan được kiểm soát bởi Nghị định như Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ozone.
Theo Chú giải 4 của Phần VI, trường hợp sản phẩm đáp ứng mô tả tại một hoặc nhiều nhóm trong Phần VI do được mô tả theo tên hoặc nhóm chức và đáp ứng nhóm 38.27, thì sản phẩm đó được phân loại vào nhóm tương ứng theo tên hoặc nhóm chức và không phân loại vào nhóm 38.27.