Khi đọc các Chú giải của Chương này cần phải kết hợp xem xét với Chú giải Tổng quát của Phần XI.
Theo mục đích của Chương này thuật ngữ “tơ tằm” bao gồm không chỉ là chất sợi được tiết ra bởi con tằm nuôi bằng lá dâu (Bombyx Mori) mà còn là những chất được tiết ra từ những con côn trùng tương tự (ví dụ, Bombyx Textor) được biết tới như là tơ tằm dại. Trong số các loài côn trùng hoang dại gọi như vậy chỉ vì chỉ có một số rất ít loài được thuần hoá cho ta sản phẩm tơ, trong đó quan trọng nhất là tơ tussah thu được từ một loại tơ tằm nuôi bằng lá sồi. Tơ nhện và tơ biển (những loại sợi tơ ở các loài sò hến thuộc họ Pinna bám trên các mỏm đá) cũng được phân loại trong Chương này.
Nói chung, Chương này bao gồm tơ, kể cả các vật liệu dệt đã được phân loại như tơ, ở các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, từ vật liệu thô cho tới sản phẩm dệt. Chương này cũng bao gồm cả tơ từ ruột con tằm.
Nhóm này chỉ áp dụng cho những loại kén có thể quay tơ cho loại tơ thô như đã phân loại trong nhóm 50.02, loại trừ kén không quay tơ được (nhóm 50.03).
Kén tằm thường có màu trắng bạc, vàng tươi hay đôi khi có màu xanh lá.
Tơ tằm thô này thu được bằng việc kéo sợi từ kén. Trong thực tế, vì những sợi filament hình thành trên mỗi kén rất mịn, đẹp nên tơ tằm thô thu được bằng cách kết hợp nhiều sợi tơ đơn (thông thường 4 đến 20) trong quá trình kéo sợi; những sợi này dính chặt vào nhau sau khi kéo bởi một lớp gôm (sericin) đã có sẵn bao phủ bên ngoài các sợi đó. Những sợi tơ tằm thô tự quấn vào nhau trong quá trình kéo sợi cho một kết cấu phẳng làm thoát phần lớn lượng nước trong sợi và bù đắp sự yếu kém trong các sợi filament đơn lẻ; quá trình này thường xuyên dẫn tới các sợi thu được có một độ xoắn nhất định. Mặc dù vậy độ xoắn của sợi chỉ rất nhẹ và sợi thô ở giai đoạn này không thể lẫn với những sợi xe đơn của nhóm 50.04.
Tơ thô luôn có màu trắng bạc, vàng tươi hay đôi khi có màu xanh lá. Nhóm này cũng bao gồm cả tơ đã được tẩy rửa (nghĩa là: rửa bằng nước xà phòng nóng hay dung dịch alkalis loãng, v.v....) đã nhuộm màu nhưng chưa xe. Tơ sống này luôn được đóng gói hoặc trong các ống chỉ hình nón, hoặc cuốn thành cuộn những trọng lượng khác nhau và được bó thành nút lỏng.
Loại trừ tơ đã xe (nhóm 50.04).
Nhóm này bao gồm phế liệu tơ ở tất cả các dạng, trong dạng thô chưa gia công hoặc ở các giai đoạn khác nhau của chế biến trước khi chuyển hoá thành sợi. Bao gồm:
(A) Phế liệu thu được từ nguyên liệu thô nghĩa là:
1) Những kén không thích hợp để quay tơ: Những kén đã bị thủng hay rách (những hư hại này có thể do sâu bướm hay bởi các ký sinh trùng hay do các trường hợp nguyên nhân khác) với sợi bị đứt; những kén quá xấu gây hư hỏng sợi, mặc dù chưa bị đứt, nhưng nó sẽ bị đứt tại các điểm bị hư trong quá trình kéo sợi; những kén bị biến màu, hay bị bẩn dù có hay không có nhộng bên trong...
2) Blazes: Đây là những lưới tơ, được hình thành bởi những sợi thưa, rối bao bên ngoài kén tằm để giữ nó trên cành cây; những lưới này thường dính cả lá vụn hay các mẩu cành cây khác.
(B) Phế liệu thu được từ quá trình ươm tơ:
1) Frisons (Tơ sồi) thuật ngữ này thường để chỉ những sợi tơ thô bao quanh bên ngoài kén, đầu tiên nó được loại bỏ bằng cách chải bằng bàn chải và sau đó được cắt ra khỏi các kén, để lại phần của kén có thể quay tơ được. Những sợi dạng này được bán như những cuộn tơ rối hay dùng để buộc sợi.
2) Những kén bị lỗi và bị loại trong quá trình ươm tơ (đôi khi được biết như là «bassinés»)
3) «Pelettes» hoặc «telettes»: ví dụ: phần sợi không thể quay tơ tạo thành phía trong kén hay vẫn bám quanh con nhộng và «Pelades» thu được từ quá trình ngâm «Pelettes» trong nước ấm, lấy ra khỏi con nhộng và phơi khô.
(C) Sợi xe bị đứt hoặc bị nút hoặc những cụm rối của sợi thô hay sợi xe thu được từ phê liệu trong quá trình kéo sợi, quay tơ hoặc dệt.
(D) Những sản phẩm làm ra từ những phế liệu tơ ở các quá trình gỡ và chải (ở một số quốc gia sản phẩm này gọi là “schappe”).
Những sản phẩm này thường ở dạng những tấm khăn trải hay những tấm nối, nhưng ở giai đoạn cuối của quá trình gia công, chúng sẽ được chuyển thành những dải hẹp hơn hay dạng dây, hay dạng những dây thừng (cúi hoặc sợi thô). Những dạng nêu trên mà chưa được xe thành sợi cũng thuộc nhóm này. Sản phẩm ở đây bao gồm cả những sợi được kéo rất mảnh có độ dày xấp xỉ 1 sợi đơn và luôn được xoắn chặt, không thể lẫn với sợi ở nhóm 50.05.
(E) Tơ vụn.
Tơ vụn được lấy ra trong khi chải các phế liệu liên quan tới phần (D) ở trên. Tơ vụn này có chất lượng kém hơn tơ đã giới thiệu ở phần (D) những sợi của nó ngắn hơn và không thể chải thêm được, nhưng có thể đưa nó trở lại các quá trình xe sợi khác. Tơ vụn được gia công theo cách này vẫn thuộc nhóm này miễn là nó không thể đạt tới giai đoạn sợi xe.
(F) Chải kỹ:
Đây là những sợi rất ngắn bỏ đi trong quá trình chải sạch tơ vụn.
(G) Tơ tái chế:
Tơ này thu được từ việc xé vải rách, vải vụn hay các phế liệu khác và mảnh vụn của vải hoặc các sản phẩm của tơ thành các sợi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hoặc 56.01)
(b) Xơ vụn và bụi xơ và kết xơ từ công nghiệp dệt, bằng tơ (nhóm 56.01).
(c) Tơ vụn (Chương 63).
Nhóm này áp dụng cho tơ xe, tức là những sợi thu được bởi việc xoắn hai hay nhiều sợi tơ thô của nhóm 50.02.
Mặc dù vậy chúng bị loại trừ nếu đã được đóng gói để bán lẻ (nhóm 50.06) hay trong phạm vi định nghĩa của sợi xe, chão bện...(nhóm 56.07) xem các mục (I) (B) (2) và (3) của Chú giải tổng quát Phần XI.
Sợi trong nhóm này khác với sợi xe từ phế liệu tơ đã được phân loại trong nhóm tiếp theo mà trong đó nó ở dạng những sợi liên tục. Có nhiều loại khác nhau, bao gồm:
(1) Các sợi đơn (đôi khi được biết như là poils) thu được bởi quá trình xoắn 1 sợi chỉ tơ thô đơn. Những sợi đã được xoắn chặt dạng này được gọi là sợi nhiễu, mousselines hoặc sợi the xoắn.
(2) Sợi khổ thu được bằng cách xoắn lỏng hai hay nhiều sợi chỉ tơ thô chưa xe; những sợi này được sử dụng như những sợi dệt ngang.
(3) “Sợi nhiều xoắn” là sợi khổ được xoắn chặt.
(4) “Sợi dọc tơ tằm” thu được từ hai hay nhiều sợi chỉ tơ thô đã được xoắn thành 1 sợi bằng cách chập đôi để xoắn ngược lại. Sợi tơ xe đôi là sợi tơ xe 2 lần được xoắn chặt. Những sợi này phần lớn được sử dụng như sợi dệt dọc.
Tất cả những sợi này có thể là những sợi được khử màu hoặc hoàn thiện.
Nhóm này loại trừ chỉ giả catgut làm bằng tơ tằm của nhóm 56.04.
Nhóm này bao gồm những sợi đơn được gia công bởi quá trình xe tơ vụn hay các phế liệu khác của tơ của nhóm 50.03; cũng bao gồm cả sợi xe được gia công từ những sợi đơn lẻ này.
Tuy nhiên chúng bị loại trừ nếu đã được đóng gói để bán lẻ (nhóm 50.06) hoặc nếu nằm trong định nghĩa của sợi xe, chão bện, v.v... (nhóm 56.07) (xem Phần (I) (B) (2) và (3) của Chú giải tổng quát Phần XI).
(A) Sợi tơ được kéo từ phế liệu tơ cắt ngắn trừ tơ vụn.
Không như những sợi tơ ở nhóm trước, sợi tơ từ phế liệu tơ (trừ tơ vụn) được hình thành từ những sợi nối. Những sợi thô này có thể dài tới 20cm nằm song song trong sợi, do vậy những sợi này có bề mặt nhẵn, mượt như tơ và tương đối bóng; những đặc điểm trên để phân biệt loại sợi tơ này với sợi xe từ tơ vụn.
(B) Sợi tơ kéo từ tơ vụn.
Sợi tơ vụn có chất lượng thấp hơn nhiều so với sợi phế liệu tơ; chứng bao gồm các sợi có độ dài khác nhau và thường dưới 5 cm; do vậy những sợi này chỉ được chải thô chứ không chải kỹ, chúng hơi rối vụn và gây ra những nút thắt nhỏ ở những khoảng nối. Sợi tơ từ tơ vụn không có độ bền và tính cân đối của sợi tơ kéo từ tơ vụn và có bề mặt khá đơn điệu.
Nhóm này cũng bao gồm những sợi đã được gia công như mô tả trong mục (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
Nhóm này loại trừ chỉ giả catgut bằng tơ tằm của nhóm 56.04.
(A) Sợi tơ và sợi tơ được kéo từ phế liệu tơ.
Nhóm này bao gồm sợi của các nhóm 50.04 và 50.05 đã đóng gói cho bán lẻ, tức là ở trong các dạng và phù hợp với điều kiện đã mô tả trong mục (I) (B) (3) của Chú giải Tổng quát Phần XI.
(B) Tơ từ ruột con tằm.
Tơ từ ruột con tằm thu được bởi việc rút và kéo các tuyến tơ của con tằm được giết bằng cách ngâm chúng vào dung dịch axit axetic loãng ở giai đoạn khi mà chúng đã sẵn sàng cho các kén để quay tơ. Tơ từ ruột con tằm thì ít mềm dẻo và bóng hơn lông ngựa, hiếm khi có độ dài lớn hơn 50cm.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Ruột tằm vô trùng (nhóm 30.06).
(b) Chỉ giả catgut bằng tơ tằm (nhóm 56.04).
(c) Tơ ruột tằm gắn lưỡi câu làm thành dây câu cá (nhóm 95.07).
5007.10 - Vải dệt thoi từ tơ vụn
5007.20 - Các loại vải dệt thoi khác, có hàm lượng tơ hoặc phế liệu tơ tằm ngoại trừ tơ vụn chiếm 85% trở lên tính theo khối lượng:
5007.90 - Vải dệt khác
Nhóm này cũng bao gồm các loại vải dệt (như đã chỉ rõ ở mục (I) (C) của Chú giải tổng quát Phần XI làm từ sợi tơ hay từ tơ vụn hay sợi phế liệu tơ.
Bao gồm:
(1) Vải Habutai, Sơn Đông, Tuytso và Viễn Đông khác.
(2) Crếp
(3) Hàng dệt mỏng như muslin, sa, voan.
(4) Hàng dệt dầy như vải Taphota, satanh, lụa phay, moa rê và hàng dệt Đamat.
Những nhóm này không bao gồm hàng dệt của các Chương 57 đến 59 (vải dùng để rây sàng của nhóm 59.11).
o
o o
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 5007.20
Phân nhóm 5007.20 chỉ bao gồm các loại vải dệt thoi có tỷ trọng tơ hoặc phế liệu tơ từ 85% trở lên, ngoại trừ tơ vụn; tơ vụn không được tính trong phần 85%.