1.- Chương này không bao gồm:
(a) Các nguyên tố hoặc hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt, (trừ những chất hay hợp chất thuộc nhóm 32.03 hoặc 32.04, các sản phẩm vô cơ của loại được sử dụng như chất phát quang (nhóm 32.06), thuỷ tinh thu được từ thạch anh nấu chảy hoặc silica nấu chảy khác ở các dạng đã nêu trong nhóm 32.07, và kể cả thuốc nhuộm và các loại chất màu khác đã đã làm thành dạng nhất định hay đóng gói để bán lẻ thuộc nhóm 32.12);
(b) Tanat hoặc các chất dẫn xuất tananh khác của các sản phẩm thuộc các nhóm từ 29.36 đến 29.39, 29.41 hoặc 35.01 đến 35.04; hoặc
(c) Matit của asphalt hoặc matit có chứa bi-tum khác (nhóm 27.15)
2.- Nhóm 32.04 kể cả các hỗn hợp của muối diazoni ổn định và các chất tiếp hợp để sản xuất các thuốc nhuộm azo.
3.- Các nhóm 32.03, 32.04, 32.05 và 32.06 cũng áp dụng cho các chế phẩm dựa trên các chất màu (kể cả trường hợp thuộc nhóm 32.06, các chất màu thuộc nhóm 25.30 hoặc Chương 28, vảy và bột kim loại), loại sử dụng để tạo màu mọi chất liệu hoặc dùng như là nguyên liệu trong việc sản xuất các chế phẩm màu. Tuy nhiên các nhóm này không áp dụng cho các thuốc màu phân tán trong môi trường không chứa nước, ở dạng lỏng hoặc dạng nhão, loại dùng để sản xuất sơn, kể cả men tráng (nhóm 32.12), hoặc cho các chế phẩm khác thuộc nhóm 32.07, 32.08, 32.09, 32.10, 32.12, 32.13 hoặc 32.15.
4.- Nhóm 32.08 kể cả các dung dịch (trừ collodions) gồm có sản phẩm bất kỳ đã mô tả trong các nhóm từ 39.01 đến 39.13 trong các dung môi hữu cơ dễ bay hơi khi trọng lượng dung môi vượt trên 50% tính theo trọng lượng dung dịch.
5.- Khái niệm "chất màu" trong Chương này không bao gồm các sản phẩm dùng như chất phụ trợ (extenders) trong các loại sơn dầu, mặc dù có hoặc không phù hợp cho các chất keo màu.
6.- Khái niệm "lá phôi dập" trong nhóm 32.12 chỉ áp dụng cho các tấm mỏng thuộc loại dùng để in, ví dụ, bìa sách hoặc dải băng mũ, và làm bằng:
(a) Bột kim loại (kể cả bột của các kim loại quý) hoặc thuốc màu, đông kết bằng keo, gelatin hoặc chất kết dính khác; hoặc
(b) Kim loại (kể cả kim loại quý) hoặc thuốc màu, kết tủa trên một tấm làm nền bằng vật liệu bất kỳ.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm các chế phẩm sử dụng trong thuộc da và ngâm mềm da (các chiết xuất để thuộc da có nguồn gốc thực vật, các chất thuộc da tổng hợp, đã hoặc chưa pha trộn với các vật liệu thuộc da tự nhiên, và nước ngâm mềm da nhân tạo).
Chương này cũng bao gồm chất màu có nguồn gốc từ thực vật, động vật hoặc có nguồn gốc từ khoáng và chất màu hữu cơ tổng hợp và hầu hết các chế phẩm thu được từ những chất màu này (sơn, màu gốm, mực các loại,...). Các chế phẩm khác như vecni, chất làm khô và chất gắn kết cũng được bao gồm.
Ngoại trừ các sản phẩm trong các nhóm 32.03 hay 32.04, các sản phẩm vô cơ sử dụng như chất phát quang (nhóm 32.06), thuỷ tinh thu từ thạch anh nung chảy hoặc silic nung chảy ở dạng đã ghi trong nhóm 32.07 và cả thuốc nhuộm hoặc chất màu khác đã làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 32.12), các sản phẩm có chứa các nguyên tố hoặc hợp chất đã được xác định về mặt hóa học bị loại trừ khỏi Chương này, và thông thường chúng nằm trong các Chương 28 hoặc Chương 29.
Trong trường hợp sơn và vecni nào đó thuộc các nhóm từ 32.08 đến 32.10 hoặc matít thuộc nhóm 32.14, hỗn hợp được trộn lẫn của nhiều thành phần khác nhau, hoặc bổ sung một vài thành phần nhất định (ví dụ chất đóng rắn) phải được thực hiện tại thời điểm sử dụng. Những sản phẩm đó vẫn được xếp trong nhóm này với điều kiện các thành phần là:
(i) liên quan đến cách thức mà chúng được sắp xếp, xác định rõ ràng có mục đích sử dụng cùng nhau mà không cần phải đóng gói lại.
(ii) đi kèm cùng nhau; và
(iii) xác định được, thông qua bản chất hoặc tỷ lệ tương đối của từng chất, như là chất bổ sung cho nhau.
Tuy nhiên, trong trường hợp các sản phẩm có chất đóng rắn được thêm vào tại thời điểm sử dụng, các sản phẩm này vẫn thuộc nhóm này nếu không có chất đóng rắn, với điều kiện thành phần hoặc cách thức đóng gói của chúng, có thể xác định rõ ràng là có mục đích được sử dụng trong điều chế sơn, vecni, hoặc matít.
3201.10 - Chất chiết xuất từ cây mẻ rìu (Quebracho)
3201.20 - Chất chiết xuất từ cây keo (Wattle)
3201.90 - Loại khác
(A) Các chiết xuất để thuộc da có nguồn gốc thực vật.
Đây là các chất chiết xuất thực vật chủ yếu được sử dụng để thuộc da. Chúng thường được điều chế bằng cách chiết với nước ấm (đôi khi được axit hoá) từ nguyên liệu thực vật (gỗ, vỏ cây, lá cây, quả, rễ,...) trước đó có thể được nghiền nát hoặc băm nhỏ. Chất lỏng thu được được lọc hoặc ly tâm và sau đó được cô đặc và đôi khi được xử lý với sulphite,.... Do đó, các chất chiết xuất thu được là chất lỏng nhưng chúng có thể được cô đặc thêm để tạo thành dạng nhão hoặc dạng rắn. Tất cả các chiết xuất này chứa ta nanh ở tỷ lệ thay đổi cũng như các chất khác như đường, muối khoáng, axit hữu cơ,.... Chúng thường có màu vàng, nâu hay đỏ nhạt.
Các chất chiết dùng thuộc da chủ yếu được lấy từ gỗ sồi, hạt dẻ, cây mẻ rìu, cây thông, cây keo (trinh nữ), cây sơn, quả chiêu liêu, cây vallonia, cây câu đằng (Uncaria gambir), cây đước hoặc cây thuộc chi Vang (libidibia coriaria).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các nguyên liệu thực vật thô, dù được làm khô, thái nhỏ, nghiền thành bột hoặc không, thuộc loại sử dụng chính trong sản xuất các chất chiết để thuộc da (nhóm 14.04).
(b) Các chất chiết xuất để thuộc da pha trộn với các chất thuộc da tổng hợp (nhóm 32.02).
(c) Các dung dịch kiềm thải ra từ quá trình sản xuất bột giấy, đã hoặc chưa được cô đặc (nhóm 38.04).
(B) Ta nanh và muối của chúng, ete, este và các dẫn xuất khác.
Ta nanh (axit tannic) là thành phần chủ yếu của các nguyên liệu thuộc da có nguồn gốc từ thực vật. Chất này thu được bằng cách chiết với ete hay cồn từ các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật thuộc nhóm 14.04 hoặc của các chất chiết xuất dùng để thuộc da trong Phần (A) ở trên. Nhóm này cũng bao gồm chiết xuất từ quả hạch (nước chiết ta nanh từ quả hạch) ít đậm đặc mà kém đậm đặc hơn so với chiết xuất với dung môi hữu cơ.
Nhóm này bao gồm tất cả các loại ta nanh (pyrogallol và catechol tannins), dù chúng có chứa tạp chất hay không từ quá trình chiết xuất.
Loại phổ biến nhất là ta nanh từ quả hạch (axit gallotanic).
Ta nanh khác bao gồm các loại ta nanh lấy từ vỏ cây sồi (axit quercitannic), từ gỗ của cây hạt dẻ (axit castaneotannic), từ cây mẻ rìu, từ cây keo trinh nữ,.…
Tất cả các ta nanh này thường ở dưới dạng bột vô định hình màu trắng hay vàng nhạt, nhưng chúng sẽ chuyển sang màu nâu khi tiếp xúc với không khí. Đôi khi các chất này có thể ở dạng vảy hoặc dạng tinh thể hình kim,..... Chúng chủ yếu được sử dụng như chất cẩn màu trong nhuộm, trong sản xuất mực, tinh chế rượu hoặc bia, trong dược phẩm và trong ngành ảnh.
Các hợp chất tannat được phân loại trong nhóm này bao gồm các loại tannat của nhôm, bismut, canxi, sắt, mangan, kẽm, hexamethylenetetramine, phenazone hay orexin. Các dẫn xuất khác của ta nanh bao gồm acetyltannin và methyleneditannin. Các dẫn xuất này thường được sử dụng trong y học.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các muối tannat của kim loại quý hoặc các hợp chất kim loại quý khác (nhóm 28.43) hoặc các dẫn xuất ta nanh của các nhóm từ 28.44 đến 28.46 và 28.52.
(b) Axít galic (nhóm 29.18).
(c) Các tannat và các dẫn xuất ta nanh khác của sản phẩm thuộc các nhóm từ 29.36 đến 29.39 hoặc 29.41.
(d) Các chất thuộc da tổng hợp, đã hoặc chưa pha trộn với các nguyên liệu thuộc da tự nhiên (nhóm 32.02).
(e) Các tannat và các dẫn xuất ta nanh khác của protein thuộc các nhóm từ 35.01 đến 35.04, ví dụ, tannat dựa trên casein (nhóm 35.01), tannat dựa trên albumin (nhóm 35.02) tannat dựa trên gelatin (nhóm 35.03).
3202.10 - Chất thuộc da hữu cơ tổng hợp
3202.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(I) Các sản phẩm thuộc da.
Với điều kiện các chất này không tạo nên các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt thuộc Chương 28 hoặc 29, các sản phẩm thuộc da trong nhóm này bao gồm:
(A) Các chất thuộc da hữu cơ tổng hợp (đôi khi được biết với tên gọi "syntans").
Đây là các sản phẩm, mặc dù có thể được sử dụng riêng để thuộc da làm nhạt màu da, chúng thường được trộn lẫn hoặc được sử dụng kết hợp với nguyên liệu thuộc da tự nhiên để thấm vào da một cách dễ dàng. Chúng bao gồm:
(1) Các chất thuộc da có vòng thơm như là sản phẩm ngưng tụ của formandehyde với các phenol-, cresol- hoặc axit naphthalensulphonic; các sản phẩm sulphonat hoá của hydrocacbon thơm có trọng lượng phân tử lượng cao; các polysulphonamide và các polyhydroxy-polyaryl sulphone-sulphonic axit.
(2) Các alkylsulphonylclorua (có khi được gọi dưới tên “chất thuộc da hữu cơ tổng hợp từ dầu”).
(3) Các sản phẩm thuộc da ở dạng nhựa, hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn hòa tan được trong nước. Các sản phẩm này bao gồm một vài các sản phẩm thu được từ việc ngưng tụ formaldehyde với dicyandiamide, với urê hoặc với melamin.
(B) Các sản phẩm thuộc da vô cơ hay "chất thuộc da dạng khoáng" (ví dụ dựa trên muối crôm, nhôm, sắt, hoặc zircon).
Các sản phẩm thuộc da miêu tả trong các phần (A) và (B) ở trên vẫn được xếp trong nhóm này dù chúng có được trộn với nhau hay không (ví dụ chất thuộc da hữu cơ (syntan) được trộn với muối nhôm hay crôm...) hoặc được trộn với các chất thuộc da tự nhiên.
Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm các sản phẩm, ngoài công dụng chính được sử dụng như các chất thuộc da tổng hợp, còn được sử dụng cho công dụng khác (như là hòa vào thuốc nhuộm hay chất tẩy trắng...).
(II) Nước ngâm mềm da nhân tạo:
Đây là các chế phẩm phức, dùng để làm tăng quá trình loại bỏ sợi protein và chất vôi trong lớp da cạo, làm mềm chúng và làm cho chúng mềm hơn trong các bước tiếp theo của chất thuộc da. Chúng thường dựa trên các enzym đã chọn lọc, pancreatin,..., và có thể được trộn với một số các sản phẩm khử vôi, hoặc với một chất độn như bột cám hoặc bột gỗ.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Dung dịch kiềm thải ra từ quá trình sản xuất bột giấy từ gỗ, đã hoặc chưa cô đặc (nhóm 38.04).
(b) Các tác nhân hoàn thiện, các thuốc nhuộm thúc đẩy quá trình nhuộm hoặc cố định thuốc nhuộm và các chế phẩm, các sản phẩm khác (ví dụ, chế phẩm hồ vải và cẩn màu), được sử dụng trong công nghiệp da, với điều kiện chúng không được dùng chủ yếu như là nguyên liệu thuộc da (nhóm 38.09).
Nhóm này phần lớn gồm các sản phẩm có nguồn gốc thực vật hay nguồn gốc động vật được sử dụng chủ yếu như chất màu. Các sản phẩm này nói chung được chiết xuất từ nguyên liệu nguồn gốc thực vật (gỗ, vỏ cây, rễ cây, hạt, hoa, địa y,...) hoặc nguồn gốc động vật, bằng cách ngâm chúng trong nước hoặc trong axít yếu hoặc dung dịch amoniac hoặc, trong trường hợp của một số nguyên liệu thực vật, bằng cách làm lên men. Chúng là các vật liệu tương đối phức tạp và thông thường chúng chứa một hoặc nhiều chất màu chủ yếu kết hợp với một lượng nhỏ các chất khác (đường, ta nanh,...), thu được từ các nguyên liệu thô hay từ quá trình chiết xuất. Các chất màu vẫn được xếp trong nhóm này, ngay cả khi chúng phải hoặc không phải là các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các chất màu và chiết xuất thuốc nhuộm có nguồn gốc thực vật thu được từ gỗ huyết mộc (haematein, haematoxylin,…), gỗ vàng (gỗ hoàng mộc, gỗ của Cuba và Tampico,..), gỗ đỏ (gỗ Pernambouc, Lima, Braxin,…), gỗ đàn hương, gỗ sồi nhuộm, cây keo cao (acacia catechu), màu điều nhuộm (từ cây điều màu), cây thiến thảo (rubia), cây rễ đỏ, cây lá mỏng, cây nghệ, cây quả mọng Ba Tư, cây hồng hoa, cây nghệ tây,... Nhóm này cũng bao gồm chất màu ocxen (orchil) và màu quỳ tím (litmus) được chiết xuất từ một số loại địa y; oenin từ vỏ của một số loài nho; diệp lục được chiết xuất từ cây tầm ma và từ các thực vật khác, cũng như muối natri clorophyl, đồng clorophyl và xanthophyll; chất làm giả mầu nâu Van Dyck được điều chế bằng sự phân hủy một phần từ nguyên liệu thực vật như vỏ cây sồi rừng hoặc cây bần; và mầu chàm tự nhiên chiết xuất từ một số loài thực vật thuộc Chi Chàm (chủ yếu là Indigofera tinctoria). Nó thường ở dạng bột, bột nhão, bánh, cục,... mầu xanh tối.
(2) Các chất màu có nguồn gốc động vật, ví dụ, dụ, chiết xuất rệp son đỏ thu được bằng cách chiết xuất chung với nước có tính axit hay amoniac, từ loài rệp son; kermes, một chiết xuất màu đỏ từ sâu kemes; sepia, một màu nâu đỏ thu được từ túi mực của một số loài mực nang; các chiết xuất màu được điều chế từ nhựa cánh kiến, chủ yếu được biết đến như mầu đỏ tía (lac-dye); thuốc màu có ánh xà cừ tự nhiên (ngọc trai) thu được từ vây cá và chủ yếu chứa các chất guanine và hypoxanthine dạng tinh thể.
Nhóm cũng bao gồm các chế phẩm dựa trên các chất màu có nguồn gốc thực vật hoặc động vật, loại được sử dụng để nhuộm màu cho mọi vật liệu hoặc sử dụng như nguyên liệu trong sản xuất các chế phẩm mầu. Bao gồm:
(i) Dung dịch màu điều nhuộm (annato) trong dầu thực vật được sử dụng ở một số nước để tạo màu cho bơ.
(ii) Thuốc màu có ánh xà cừ tự nhiên (ngọc trai) phân tán trong môi trường nước hay một hỗn hợp gồm nước và dung môi hòa tan trong nước. Sản phẩm này đôi khi được gọi "tinh chất ngọc trai" và được sử dụng trong sản xuất chất phủ gốc nước hoặc chế phẩm mỹ phẩm.
Tuy nhiên, các chế phẩm được đề cập trong câu cuối của Chú giải 3 Chương này bị loại trừ.
Nhóm cũng không bao gồm:
(a) Muội carbon (nhóm 28.03).
(b) Các chất trong thực tế không còn được sử dụng để nhuộm như morin, haematin, và haemin (Chương 29).
(c) Chất màu hữu cơ tổng hợp (nhóm 32.04).
(d) Các loại chất màu nền thu được bằng cách định hình trên một chất màu tự nhiên có gốc thực vật hoặc động vật (ví dụ chất màu carmine, chất màu cây gỗ huyết mộc, gỗ vàng, gỗ đỏ,...) (nhóm 32.05).
(e) Thuốc nhuộm và chất màu khác được làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 32.12).
(f) Muội từ ngà và muội động vật khác (nhóm 38.02).
- Chất màu hữu cơ tổng hợp và các chế phẩm từ chúng như đã ghi trong Chú giải 3 của Chương này:
3204.11 - - Thuốc nhuộm phân tán và các chế phẩm từ chúng
3204.12 - - Thuốc nhuộm axit, có hoặc không tạo phức kim loại, và các chế phẩm từ chúng; thuốc nhuộm cầm màu và các chế phẩm từ chúng
3204.13 - - Thuốc nhuộm bazơ và các chế phẩm từ chúng
3204.14 - - Thuốc nhuộm trực tiếp và các chế phẩm từ chúng
3204.15 - - Thuốc nhuộm chàm (kể cả loại có thể dùng như thuốc màu) và các chế phẩm từ chúng
3204.16 - - Thuốc nhuộm hoạt tính và các chế phẩm từ chúng
3204.17 - - Thuốc màu và các chế phẩm từ chúng
3204.18 - - Các chất màu carotenoit và các chế phẩm từ chúng
3204.19 - - Loại khác, kể cả hỗn hợp chất màu từ hai phân nhóm trở lên của các phân nhóm từ 3204.11 đến 3204.19
3204.20 - Các sản phẩm hữu cơ tổng hợp được dùng như tác nhân tăng sáng huỳnh quang
3204.90 - Loại khác
(I) CHẤT MÀU HỮU CƠ TỔNG HỢP, ĐÃ HOẶC CHƯA XÁC ĐỊNH VỀ MẶT HOÁ HỌC; CÁC CHẾ PHẨM NHƯ ĐÃ ĐƯỢC GHI TRONG CHÚ GIẢI 3 CỦA CHƯƠNG NÀY DỰA TRÊN CHẤT MÀU HỮU CƠ TỔNG HỢP
Chất màu hữu cơ tổng hợp thường thu được từ dầu hoặc các sản phẩm khác từ việc chưng cất hắc ín than đá.
Ngoài những đề cập khác, nhóm này áp dụng cho:
(A) Chất màu hữu cơ tổng hợp ở trạng thái chưa trộn lẫn (các hợp chất đã hoặc chưa xác định về mặt hóa học) và chất màu hữu cơ tổng hợp đã được pha loãng với các chất không có đặc tính nhuộm (ví dụ, sulphate natri khan, clorua natri, dextrin, tinh bột) chúng có tác dụng làm giảm hoặc chuẩn hóa mầu sắc. Việc bổ sung thêm một lượng nhỏ các sản phẩm hoạt động bề mặt nhằm tạo thuận lợi cho quá trình thấm và ngưng kết của thuốc nhuộm, điều đó không làm ảnh hưởng đến việc phân loại chất màu. Chất màu của những mô tả này thường ở dạng bột, dạng tinh thể, dạng nhão,...
Chất màu hữu cơ tổng hợp đã được làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ được phân loại trong nhóm 32.12 (xem phần (C) của Chú giải Chi tiết của nhóm đó).
(B) Loại khác của chất màu hữu cơ tổng hợp được trộn lẫn với nhau.
(C) Các hệ phân tán nồng độ cao của chất màu hữu cơ tổng hợp trong nhựa, cao su tự nhiên, cao su tổng hợp, chất dẻo hoặc các môi trường khác. Nói chung, các chất phân tán thường dưới dạng miếng nhỏ hoặc cục nhỏ và được sử dụng như các nguyên liệu thô để tạo màu cho cao su, plastics,...
(D) Các hỗn hợp của chất màu hữu cơ tổng hợp với tỷ lệ tương đối cao của các sản phẩm hoạt động bề mặt, hoặc với chất kết dính hữu cơ, mà được sử dụng để tạo màu cho plastics nói chung,..., hay như thành phần để pha chế các chế phẩm dùng để in vải dệt. Các chất này thường dạng nhão.
(E) Các chế phẩm khác dựa trên chất mầu hữu cơ tổng hợp được sử dụng để tạo màu cho vật liệu bất kỳ hoặc dùng như thành phần trong sản xuất các chế phẩm màu. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các chế phẩm được nêu trong Chú giải 3 của Chương này.
Các loại chất màu hữu cơ tổng hợp khác nhau được phân loại ở đây (như thuốc nhuộm hoặc thuốc màu) bao gồm:
(1) Các hợp chất nitroso hoặc nitro.
(2) Các hợp chất Mono- hoặc polyazo.
(3) Các stillbene.
(4) Các thiazole (ví dụ, thioflavine).
(5) Các carbazole.
(6) Các quinoneimine, ví dụ, các azine (indulines, nigrosines, eurhodines, safranines,...), các oxazine (gallocyanines,...) và các thiazine (xanh metylen,...); indophenols hoặc indaminies.
(7) Các xanthene (pyronine, rhodanines, eosins, fluorescein,...).
(8) Các acridine, quinoline (ví dụ, cyanines, isocyanines, cryptocyanines).
(9) Các di- hoặc triphenylmethane, ví dụ, auramine và fuchsine.
(10) Các hydroxyquinone và anthraquinone, ví dụ, alizarin.
(11) Sulphonated indigoids.
(12) Thuốc nhuộm chàm khác hoặc các thuốc màu chàm khác (ví dụ màu chàm tổng hợp), thuốc nhuộm lưu huỳnh hoặc thuốc màu lưu huỳnh khác, indigosols, v.v….
(13) Phosphotungstic greens,... (xem đoạn 3 trong Chú giải Chi tiết nhóm 32.05).
(14) Các phthalocyanine (kể cả ở dạng thô) và các hợp chất kim loại của chúng, kể cả các dẫn xuất sulphonat hoá.
(15) Các carotenoid thu được bằng cách tổng hợp (ví dụ, β-carotene, 8’-apo-β-carotenal, 8’-apo-β-carotenic acid, ethyl 8’-apo-β-carotenate, methyl 8’-apo-β-carotenate và canthaxanthin).
Một số loại chất màu azo, thường được làm thành dạng hỗn hợp muối diazoni ổn định và chất kết nối, từ đó cho thu được thuốc nhuộm azo không tan ngay cả ở trên sợi. Những hỗn hợp này cũng được phân loại trong nhóm này.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các muối diazoni riêng biệt (có hoặc chưa được ổn định hoặc pha loãng tới nồng độ tiêu chuẩn) loại có thể được dùng riêng cho các sợi từ các chất kết nối trong quá trình nhuộm để sản xuất các chất màu tương tự (Chương 29).
Nhóm này cũng không bao gồm các sản phẩm trung gian, nhưng bản thân chúng không phải là thuốc nhuộm, thu được ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất chất màu. Các sản phẩm trung gian này (ví dụ axit monochloroacetic, axit benzenesulphonic hoặc axit naphthol- sulphonic, resorcinol, chloronitrobenzenes, nitro- hoặc nitrosophenols, nitrosoamines, aniline, dẫn xuất amin đã được nitrat hóa hoặc sulphonat hóa, benzidine, axit aminonaphtholsulphonic, anthraquinone, methylanilines) được phân loại trong Chương 29. Các chất này khác một vài sản phẩm ở dạng thô được phân loại trong nhóm này, như phthalocyanine, chất này đã xác định về mặt hóa học và chỉ cần một quá trình vật lý đơn giản là có thể cho cường độ màu tối ưu.
Chất mầu hữu cơ tổng hợp có thể hòa tan hay không hòa tan trong nước. Chúng gần như có thể được thay thế hoàn toàn bằng chất màu hữu cơ tự nhiên, đặc biệt khi nhuộm hay in vải dệt, nhuộm da thuộc, giấy hay gỗ. Chúng cũng được sử dụng trong điều chế các chất màu nền (nhóm 32.05), các màu của các nhóm từ 32.08 đến 32.10, 32.12 và 32.13, mực của nhóm 32.15, và để tạo màu cho plastics, cao su, sáp, dầu, nhũ tương ảnh,...
Một vài loại trong số đó cũng được sử dụng như chất phản ứng màu sử dụng trong thí nghiệm hoặc cho mục đích y học.
Các chất trong thực tế không sử dụng đặc tính nhuộm của chúng thì bị loại trừ, ví dụ azulene (nhóm 29.02); trinitrophenol (axit picric) và dinitro-ortho-cresol (nhóm 29.08); hexanitrodiphenylamine (nhóm 29.21); metyl da cam (nhóm 29.27); bilirubin, biliverdin và các chất porphyrin (nhóm 29.33); và acriflvine (nhóm 38.24).
(II) CÁC SẢN PHẨM HỮU CƠ TỔNG HỢP LOẠI ĐƯỢC DÙNG NHƯ TÁC NHÂN TĂNG SÁNG HUỲNH QUANG HOẶC NHƯ CÁC CHẤT PHÁT QUANG, ĐÃ HOẶC CHƯA XÁC ĐỊNH VỀ MẶT HOÁ HỌC
(1) Các sản phẩm hữu cơ của loại được dùng như các tác nhân tăng sáng huỳnh quang trong nhóm này là các sản phẩm hữu cơ tổng hợp hấp thụ các tia cực tím và tạo ra các bức xạ màu xanh có thể nhìn thấy, do vậy nó làm tăng mầu trắng bao phủ bên ngoài các sản phẩm có mầu trắng. Chúng thường gồm các dẫn xuất của stilbene.
(2) Các sản phẩm hữu cơ của loại được sử dụng như chất phát quang là các chất tổng hợp, dưới tác dụng của các tia sáng, tạo ra chất phát quang hoặc hiệu ứng huỳnh quang.
Một số trong những sản phẩm này cũng có đặc tính của chất màu. Một ví dụ của các chất phát quang này là rhodamine B trong plastic, loại để tạo ra huỳnh quang đỏ. Nó thường ở dạng bột.
Hầu hết các sản phẩm hữu cơ được sử dụng như chất phát quang (ví dụ diethyl dihydroxyterephthalate và salicylaldazine) không phải là chất mầu. Chúng được thêm vào các chất màu làm tăng độ sáng. Các sản phẩm này vẫn được xếp trong nhóm này, ngay cả khi chúng được xác định về mặt hóa học, nhưng các chất hóa học tương tự ở dạng không phát quang (ví dụ kém tinh khiết, có cấu trúc tinh thể khác biệt) bị loại trừ (Chương 29). Do vậy mà chất salicylaldazine được sử dụng như là tác nhân làm trương nở cao su và được xếp vào nhóm 29.28.
Các sản phẩm hữu cơ của loại được dùng như chất phát quang trộn lẫn với nhau hoặc với chất màu hữu cơ tổng hợp vẫn được xếp vào nhóm này. Khi trộn lẫn với các thuốc màu vô cơ chúng bị loại trừ (nhóm 32.06).
Nhóm này bao gồm các chất được biến đổi về mặt hóa học bằng một số thuốc nhuộm nhất định thuộc nhóm này (ví dụ, fluoresceine, cyanine....) để tạo thành chất phát quang, thường được sử dụng làm thuốc thử trong phòng thí nghiệm hoặc cho mục đích chụp ảnh trong y tế.
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm miễn dịch gồm các kháng thể liên hợp hoặc các mảnh kháng thể được biến đổi bằng sản phẩm thuộc nhóm này (nhóm 30.02). Nhóm này cũng không bao gồm các thuốc thử chẩn đoán bệnh cho bệnh nhân, là các sản phẩm không pha trộn đóng gói theo liều lượng hoặc các sản phẩm gồm hai thành phần trở lên đã pha trộn dùng cho mục đích trên (nhóm 30.06).
o
o o
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm từ 3204.11 đến 3204.19
Chất màu hữu cơ tổng hợp và các chế phẩm dựa trên các chất được ghi trong Chú giải 3 của Chương này đều được phân thành từng nhóm trên cơ sở khả năng ứng dụng hoặc sử dụng của chúng. Các sản phẩm của các phân nhóm này được miêu tả ở phần dưới đây:
Thuốc nhuộm phân tán chủ yếu là loại không hòa tan trong nước, thuốc nhuộm không ion là loại dùng cho loại sợi kỵ nước từ hệ phân tán trong môi trường nước. Chúng được sử dụng cho các loại sợi polyeste; nylon hoặc các loại sợi polyamide, axetat cellulose hoặc sợi acrylic và để nhuộm bề mặt một số nhựa nhiệt dẻo.
Thuốc nhuộm axit là loại thuốc nhuộm anion hòa tan trong nước được sử dụng để nhuộm màu sợi nylon, len, vải lụa, các loại sợi modacrylic hay da thuộc.
Thuốc nhuộm cẩn mầu là các thuốc nhuộm tan trong nước và cần phải sử dụng với một chất cẩn màu (như muối crôm), để có thể nhuộm được các loại sợi dệt.
Các loại thuốc nhuộm bazơ là các thuốc nhuộm cation tan trong nước, chúng được sử dụng cho các loại sợi modacrylic, các loại sợi nylon đã biến đổi hoặc sợi polyeste đã biến đổi hoặc giấy chưa tẩy trắng. Trước hết, chúng được dùng để nhuộm lụa; len hay chất liệu cotton đã được cẩn màu bằng ta nanh, khi mà độ sáng của màu quan trọng hơn độ bền màu của chúng. Một số thuốc nhuộm bazơ có đặc tính sinh học và được sử dụng trong lĩnh vực y học như chất khử trùng.
Các loại thuốc nhuộm trực tiếp là các thuốc nhuộm anion tan trong nước, trong dung dịch nước hiện diện của các chất điện ly, chúng có khả năng nhuộm trực tiếp sợi cellullose. Chúng được sử dụng để nhuộm cotton, cellulose tái sinh, giấy, da và, trong khuôn khổ hẹp hơn là nylon. Để tăng tính bền màu của chúng, sợi đã được nhuộm trực tiếp được đưa vào xử lý tiếp theo, như là diazo hóa và tiếp hợp tại chỗ, tạo phức với muối kim loại hoặc được xử lý với formaldehyt.
Thuốc nhuộm chàm là các thuốc nhuộm không tan trong nước, bị khử trong môi trường kiềm, sau đó chuyển thành dạng leuco tan trong nước và ở dạng đó chúng chủ yếu được dùng để nhuộm các loại sợi cellulose; tiếp theo chúng được tái oxi hóa để trở về dạng keto màu không tan.
Thuốc nhuộm hoạt tính là các thuốc nhuộm được gắn trên chất liệu sợi, thông thường là sợi cotton, len hay nylon, bằng cách tác dụng với các nhóm chức của phân tử sợi để tạo nên liên kết cộng hóa trị.
Thuốc màu là các chất màu hữu cơ tổng hợp ở dạng tinh thể hay ở các dạng hạt trong suốt quá trình sử dụng (hoàn toàn khác với các thuốc nhuộm đã mất cấu trúc tinh thể do hòa tan hoặc bay hơi, mặc dù ở trong giai đoạn tiếp theo của quá trình nhuộm chúng lấy lại được cấu trúc). Các chất này bao gồm các loại muối kim loại không hòa tan của một số thuốc nhuộm nói trên.
Ngoài những đề cập khác, phân nhóm 3204.19 bao gồm:
- các hỗn hợp đã ghi trong Chú giải 2 của Chương này;
- các thuốc nhuộm dung môi, được hòa tan trong các dung môi hữu cơ và được dùng cho sợi tổng hợp, ví dụ, sợi nylon, polyeste hoặc acrylic, hoặc được sử dụng trong xăng, vecni, chất nhuộm màu, mực, sáp,...
Một số chất màu hữu cơ tổng hợp tùy theo hai hoặc nhiều chức năng sử dụng của chúng mà rơi vào các phân nhóm khác nhau. Chúng được phân loại như sau:
- Các chất, ở các dạng khác nhau của chúng, có thể được sử dụng đồng thời như thuốc nhuộm chàm và như thuốc màu, được phân loại như thuốc nhuộm chàm trong phân nhóm 3204.15.
- Các chất khác có thể được xếp trong hai hoặc nhiều phân nhóm cụ thể từ nhóm 3204.11 đến 3204.18, được xếp trong phân nhóm có số thứ tự sau cùng.
- Các chất có thể được xếp trong một phân nhóm cụ thể từ phân nhóm 3204.11 đến 3204.18 và trong phân nhóm còn lại 3204.19 thì được xếp vào phân nhóm cụ thể.
Hỗn hợp của các chất màu hữu cơ tổng hợp và các chế phẩm dựa trên các hỗn hợp này được phân loại như sau:
- Hỗn hợp của hai hay nhiều sản phẩm của cùng một phân nhóm được phân loại vào cùng phân nhóm đó.
- Hỗn hợp của hai hoặc nhiều các sản phẩm của các phân nhóm khác nhau (3204.11 đến 3204.19) được phân loại vào nhóm còn lại 3204.19.
Các tác nhân tăng sáng huỳnh quang, đôi khi được gọi là “thuốc nhuộm trắng” không được ghi trong các phân nhóm từ 3204.11 đến 3204.19, được xếp trong phân nhóm 3204.20.
Các chất màu nền là các chế phẩm không tan trong nước, thu được bằng cách cố định các chất màu tự nhiên (động vật hoặc thực vật) hoặc chất màu hữu cơ tổng hợp (có hoặc không tan trong nước), trên một nền, thường là khoáng (sulphat bari, sulphat canxi, nhôm oxit, đất sứ, talc, silic dioxit, đất có chứa silic hóa thạch, cacbonat canxi,..).
Quá trình cố định của chất màu trên nền thường thu được bằng cách sau:
(1) Quá trình kết tủa của chất màu trên chất nền với tác nhân kết tủa (như ta nanh, chlorua bari,...), hay thông qua sự kết tủa đồng thời giữa chất màu và chất nền.
(2) Quá trình nhuộm chất nền với một dung dịch của chất màu.
(3) Quá trình trộn lẫn bằng hóa học các chất màu không tan với chất nền trơ
Không nhầm các chất màu nền với một vài các sản phẩm khác như là các chất màu hữu cơ tổng hợp, không hòa tan trong nước, trong đó các nguyên tố khoáng là một phần không thể tách rời của phân tử, đây là trường hợp của các chất màu hữu cơ tổng hợp không hòa tan được ở dạng muối kim loại (ví dụ muối canxi của thuốc nhuộm đã sunphonat hóa, và muối của các thuốc nhuộm bazơ với các axit phức của phosphorus, molybden và tungsten) (nhóm 32.04).
Các chất màu nền được điều chế chủ yếu từ các chất màu hữu cơ tổng hợp (nhóm 32.04) có tính chống ôxy hóa cao, như là các thuốc nhuộm azo, các thuốc nhuộm chàm được đi từ anthraquinone, hoặc các thuốc nhuộm alizarin. Các chất màu này được dùng chủ yếu trong sản xuất mực in, giấy dán tường hoặc sơn dầu.
Các chất màu nền cũng có thể được điều chế từ chất màu hữu cơ có nguồn gốc thực vật hoặc động vật (tức là các chất màu của nhóm 32.03). Ngoài những đề cập khác chúng bao gồm, chất màu nền carmine từ rệp son, thường thu được từ quá trình xử lý dung dịch nước của chiết xuất cochineal với phèn, và chủ yếu được dùng cho sản xuất các loại màu nước, và cho màu sirô, mứt hoặc rượu mùi; chất màu nền gỗ huyết mộc, chất màu nền gỗ vàng và chất màu nền gỗ đỏ,...
Các sản phẩm này thường ở dạng bột.
Nhóm này bao gồm các hệ phân tán nồng độ cao của phức màu kim loại trong plastics, cao su, chất hóa dẻo hoặc trong môi trường khác. Nói chung, chất phân tán này thường ở dạng miếng nhỏ hoặc mảnh vụn và được dùng như nguyên liệu thô cho nhuộm cao su, plastics,...
Nhóm cũng bao gồm một số chế phẩm khác dựa trên chất màu loại được dùng để tạo màu cho vật liệu bất kỳ hoặc được dùng như các thành phần trong sản xuất các chế phẩm màu. Tuy nhiên, các chế phẩm được nêu trong câu cuối của Chú giải 3 của Chương này bị loại trừ.
Nhóm này không bao gồm dầu bóng xuất xứ từ Trung quốc hay của Nhật Bản (nhóm 13.02).
- Thuốc màu và các chế phẩm từ dioxit titan:
3206.11 - - Chứa hàm lượng dioxit titan từ 80% trở lên tính theo trọng lượng khô
3206.19 - - Loại khác
3206.20 - Thuốc màu và các chế phẩm từ hợp chất crom
- Chất màu khác và các chế phẩm khác:
3206.41 - - Chất màu xanh nước biển và các chế phẩm từ chúng
3206.42 - - Litopon và các thuốc màu khác và các chế phẩm từ kẽm sulphua
3206.49 - - Loại khác
3206.50 - Các sản phẩm vô cơ được dùng như chất phát quang
(A) CHẤT MÀU KHÁC; CÁC CHẾ PHẨM NHƯ ĐÃ GHI TRONG CHÚ GIẢI 3 CỦA CHƯƠNG NÀY, TRỪ LOẠI THUỘC NHÓM 32.03, 32.04 HOẶC 32.05
Nhóm này gồm chất màu vô cơ hoặc chất màu có nguồn gốc khoáng.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:
(a) Oxit sắt dạng mica tự nhiên; đất màu, đã hoặc chưa bị nung hay trộn lẫn với nhau (xem Chú giải Chi tiết nhóm 25.30).
(b) Các chất màu vô cơ đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt (ví dụ dựa trên carbonat chì bazơ, ôxit của kẽm, sắt, chì hoặc crôm; sulphua của kẽm hoặc thuỷ ngân; chì cromat (Chương 28); acetoarsenite đồng (mầu xanh Schweinfurt) (nhóm 29.42).
(c) Bột và vảy kim loại (Phần XIV hoặc XV).
Chất màu thuộc nhóm này bao gồm:
(1) Các thuốc màu dựa trên dioxit titan. Nhóm này bao gồm dioxit titan đã qua xử lý bề mặt hoặc dioxit titan trộn với canxi hoặc bari sulphat hoặc các chất khác. Nhóm này cũng bao gồm dioxit titan đã được thêm vào một số hợp chất có chủ ý trong quá trình sản xuất để có được một vài đặc tính vật lý làm cho nó thích hợp để sử dụng như một thuốc màu. Dioxit titan đã được điều chế đặc biệt khác mà không phù hợp cho việc sử dụng như thuốc màu bởi vì đặc tính đặc biệt của nó được xếp vào nhóm khác (ví dụ, nhóm 38.15, 38.24). Dioxit titan không được xử lý bề mặt và không được trộn lẫn được phân loại vào nhóm 28.23.
(2) Thuốc màu dựa trên hợp chất crôm. Nhóm này bao gồm chất màu vàng chứa hỗn hợp của chì crômat và các sản phẩm vô cơ khác như sunphat chì, và các thuốc mầu xanh lá cây bao gồm ôxit crôm trộn lẫn với các chất khác.
(3) Ultramarine. Ultramarine xanh dương trước đây là hợp chất phức được điều chế từ đá da trời lazuli, nhưng hiện nay được điều chế theo phương pháp nhân tạo bằng cách xử lý hỗn hợp của silicat, aluminat, lưu huỳnh, cacbonat natri,... Ultramarine màu xanh lá cây, màu hồng và màu tím của cũng được xếp ở nhóm này, nhưng một số cromat không trộn lẫn, đôi khi được biết như là màu vàng ultramarine, thì bị loại trừ (nhóm 28.41).
(4) Lithopone và các thuốc màu khác dựa trên sunphua kẽm, như thuốc màu trắng bao gồm hỗn hợp của sunphua kẽm và sulphat bari theo tỷ lệ khác nhau.
(5) Các thuốc màu dựa trên hợp chất cadimi, ví dụ thuốc màu vàng bao gồm hỗn hợp sunphua cadimi và sunphat bari, và màu đỏ cadimi bao gồm hỗn hợp của sunphua cadimi và selenua cadimi.
(6) Màu xanh Phổ (màu xanh Berlin) và các thuốc màu khác dựa trên hexacyanoferrate (feroxianua và ferixianua). Màu xanh Phổ bao gồm feroxianua sắt, chưa được xác định về mặt hóa học. Nó thu được bằng cách làm kết tủa một chất feroxianua kiềm với muối sắt và sau đó ôxi hoá chúng với hypoclorit. Đây là một chất rắn vô định hình mầu xanh dương, được sử dụng trong điều chế nhiều loại thuốc màu cũng được phân loại trong nhóm này. Nhóm này bao gồm màu xanh khoáng (với bari sulphat và cao lanh), màu xanh milori hoặc màu xanh English (với màu vàng crôm và đôi khi cũng là sunphat bari) và màu xanh lá cây kẽm (với kẽm cromat), và các hợp chất cho mực màu (với axit oxalic). Màu xanh dương Turnbull được làm từ feroxianua sắt, chưa được xác định về mặt hóa học, ở dạng đơn chất hay hỗn hợp.
(7) Muội khoáng (trừ các loại muội trong nhóm 25.30 hay 28.03), ví dụ:
(a) Muội đá phiến, một hỗn hợp của silicat và carbon thu được sau khi nung một phần đá phiến bitum.
(b) Muội silic dioxit thu được bằng cách nung hỗn hợp than đá và kieselgurh.
(c) Các sản phẩm được biết như “muội nhôm”, một hỗn hợp của nhôm oxit và cacbon thu được bằng cách nung một hỗn hợp của bôxit và nhựa chưng hắc ín than đá hoặc mỡ.
(8) Các loại đất màu đã được tăng sắc với một lượng rất nhỏ các chất nhuộm hữu cơ tổng hợp (đất màu, đã hoặc chưa được trộn lẫn, nhưng chưa được tăng sắc, thường được xếp trong nhóm 25.30 - xem phần Chú giải Chi tiết tương đương).
(9) Màu nâu Vandyke hòa tan và các sản phẩm tương tự, nhìn chung thu được bằng cách xử lý đất mầu thuộc nhóm 25.30 (màu nâu Vandyke, đất Cassel, đất Cologne...) với dung dịch ammoniac hoặc dung dịch kali hydroxide.
(10) Thuốc màu dựa trên các hợp chất coban, ví dụ màu xanh dương cerulean
(11) Các thuốc màu có chứa quặng đã được nghiền mịn, ví dụ ilmenite.
(12) Màu xám của kẽm (ôxy kẽm không tinh khiết).
(13) Các thuốc màu tổng hợp có ánh xà cừ (ngọc trai) các chất mầu có ánh xà cừ vô cơ như:
(a) bismut chloride oxide, có kèm theo một lượng nhỏ của chất hoạt động bề mặt hữu cơ;
(b) mica được phủ bởi bismut chloride oxide, titan dioxide hoặc titan dioxide và sắt oxide;
Các sản phẩm này được sử dụng để sản xuất các chế phẩm mỹ phẩm.
Các thuốc mầu vô cơ có trộn thêm các chất mầu hữu cơ cũng được nêu trong nhóm này.
Các sản phẩm này là nguyên liệu chính được sử dụng để sản xuất các chất màu dùng trong công nghiệp gốm sứ (xem chú giải chi tiết nhóm 32.07), các chất màu, sơn, men tráng và dầu bóng của nhóm từ 32.08 đến 32.10 và nhóm 32.12, các chất màu dùng trong nghệ thuật hội họa, học đường hoặc trang trí của nhóm 32.13 và các loại mực in (phân loại trong nhóm 32.15)
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm dựa trên các chất mầu được ghi ở trên, và cả các chất mầu của nhóm 25.30 hoặc của chương 28 và các loại bột và vảy mầu kim loại được sử dụng để tạo mầu cho các vật liệu bất kỳ hoặc dùng làm nguyên liệu để sản xuất các chế phẩm mầu dưới dạng:
(I) Hệ phân tán nồng độ cao trong plastics, cao su tự nhiên, cao su tổng hợp, chất dẻo hoặc trong môi trường khác. Nhìn chung, những chất phân tán này được sử dụng như nguyên liệu tạo màu cho plastics, cao su.
hoặc (II) Hỗn hợp có chứa một lượng lớn các chất hoạt động bề mặt hoặc với các chất kết dính hữu cơ. Nhìn chung, chúng được dùng để tạo màu cho plastics,... hoặc được dùng như nguyên liệu trong các chế phẩm để in vải. Chúng thường ở dưới dạng nhão.
Tuy nhiên, các chế phẩm đã ghi trong câu cuối của Chú giải 3 của Chương này thì bị loại trừ.
Nhóm này cũng không bao gồm:
Các sản phẩm được dùng như chất độn trong sơn dầu, có hoặc không phù hợp để tạo màu cho sơn keo, ví dụ:
(a) Cao lanh (nhóm 25.07).
(b) Carbonat canxi (nhóm 25.09 hoặc 28.36).
(c) Sulphat bari (nhóm 25.11 hoặc 28.33).
(d) Đất Diatomaceous (nhóm 25.12).
(e) Đá phiến (nhóm 25.14).
(f) Dolomit (nhóm 25.18).
(g) Carbonate magiê (nhóm 25.19 hoặc 28.36).
(h) Thạch cao (nhóm 25.20).
(ij) Amiăng (nhóm 25.24).
(k) Mica (nhóm 25.25).
(l) Talc (nhóm 25.26).
(m) Calcite (Iceland spar) (nhóm 25.30).
(n) Hydroxit nhôm (nhóm 28.18).
(o) Các hỗn hợp của hai hay nhiều các sản phẩm được đề cập từ điểm (a) đến điểm (n) ở trên (thường ở nhóm 38.24).
(B) CÁC SẢN PHẨM VÔ CƠ ĐƯỢC DÙNG NHƯ CHẤT PHÁT QUANG, ĐÃ HOẶC CHƯA XÁC ĐỊNH VỀ MẶT HOÁ HỌC
Các sản phẩm vô cơ được dùng như chất phát quang bao gồm các sản phẩm dưới tác dụng của các bức xạ mà mắt thường có thể nhìn thấy hay không nhìn thấy (ánh sáng mặt trời, tia cực tím, tia catot, tia X,...), tạo ra hiện tượng phát quang (huỳnh quang hoặc lân quang).
Phần lớn các sản phẩm này gồm có các muối kim loại đã được hoạt hóa bởi một lượng rất nhỏ các chất “hoạt hóa” như bạc, đồng hay mangan. Ví dụ, sulphua kẽm đã được hoạt hóa bởi đồng hoặc bạc, sulphat kẽm đã được hoạt hóa bởi đồng, và silicat kẽm - berili đã được hoạt hóa bởi mangan.
Các loại khác là muối kim loại có tính phát quang không có chất hoạt hóa, nhưng qua quá trình xử lý mang lại cho chúng một cấu trúc tinh thể rất đặc biệt. Những sản phẩm này là các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học và không chứa các chất khác, bao gồm canxi tungstate và magiê tungstate. Các chất hóa học tương tự dưới dạng không phát quang (ví dụ loại kém tinh khiết, loại cấu trúc tinh thể khác nhau) thì bị loại trừ (Chương 28). Do đó canxi tungstate vô định hình, được dùng như chất phản ứng được xếp vào nhóm 28.41.
Các sản phẩm vô cơ được dùng như chất phát quang đôi khi chứa vết của muối phóng xạ được thêm vào có tác dụng làm cho chúng tự phát quang. Khi mức phóng xạ vượt quá 74 Bq/g (0,002 µCi/g), chúng phải được coi như hỗn hợp có chứa các chất phóng xạ và được phân loại vào nhóm 28.44.
Các sản phẩm vô cơ được dùng như các chất phát quang được trộn lẫn với nhau (ví dụ sulphua kẽm đã được hoạt hóa bởi đồng trộn với kẽm cadimi sulphua đã được hoạt hóa bởi đồng) hoặc với các chất màu vô cơ (thuộc Chương 28 hoặc Phần A ở trên) cũng được phân loại trong nhóm này.
Các chất phát quang được dùng cho sơn phát quang và để làm chất phủ màn hình cho ti vi, máy ghi dao động, máy chụp X-quang, máy soi X-quang hoặc các thiết bị ra đa hoặc ống phát huỳnh quang.
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm phù hợp với mô tả của các nhóm từ 28.43 đến 28.46 và 28.52 (ví dụ, hỗn hợp của oxit ytri và oxit europi), cho dù được đóng gói và sử dụng như thế nào.
o
o o
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 3206.19
Các chế phẩm chứa dioxit titan không quá 80% bao gồm các chất phân tán nồng độ cao trong plastics, cao su tự nhiên, cao su tổng hợp hoặc chất dẻo, chúng thường được biết đến như master-batches (hạt màu), được dùng để tạo màu cho plastics, cao su,....
3207.10 - Thuốc màu đã pha chế, chất cản quang đã pha chế, các loại màu đã pha chế và các chế phẩm tương tự
3207.20 - Men kính và men sứ, men sành (slips) và các chế phẩm tương tự
3207.30 - Các chất láng bóng dạng lỏng và các chế phẩm tương tự
3207.40 - Frit thủy tinh và thuỷ tinh khác, ở dạng bột, hạt hoặc vẩy
Nhóm này bao gồm một dãy các chế phẩm được sử dụng trong công nghiệp gốm sứ (đồ sứ, đồ sành,...) trong công nghiệp sản xuất thuỷ tinh hoặc để tạo màu hoặc hoàn thiện sản phẩm kim loại.
(1) Các thuốc màu đã pha chế, các chất cản quang đã pha chế và các loại màu đã pha chế là hỗn hợp khô đã được định hình bởi quá trình xử lý nhiệt các oxit (của antimon, bạc, asen, đồng, crom, coban,...) hoặc muối (florua, photphat,...) có hay không có chất trợ dung hoặc các chất khác, và được nung ở nhiệt độ cao, thường trên 300 °C. Các mặt hàng này được sử dụng để sản xuất các bề mặt màu hoặc mờ trong quá trình nung gốm sứ. Chúng có thể được kết hợp trong men sứ hoặc men tráng, hoặc được sử dụng như chất phủ trước khi tráng men.
(2) Các hợp chất men kính và men sứ, là hỗn hợp của dioxit silic với các sản phẩm khác (feldspar, cao lanh, kiềm, carbonate natri, các hợp chất kim loại kiềm thổ, ôxit chì, axit boric,...), làm cho bề mặt nhẵn, mờ hoặc bóng, bởi quá trình nấu thủy tinh dưới tác dụng của nhiệt. Trong hầu hết các trường hợp, một số các chất được nung chảy với nhau trong quá trình sơ chế và hiện diện trong hỗn hợp dưới dạng bột thủy tinh (xem ở dưới).
Chúng có thể ở dạng trong suốt (có màu hoặc không màu) hoặc có thể ở dạng mờ đục khi thêm thuốc màu hay chất làm mờ; đôi khi các chất (ví dụ, titan oxit hoặc kẽm oxit) được thêm vào để tạo ra hiệu ứng pha lê trang trí trong quá trình làm lạnh sau khi nung. Các hợp chất men kính và men sứ này thường ở dạng bột hay hạt.
(3) Men sành (slips) là dạng nhão sền sệt có thành phần chính là đất sét, có màu hoặc không có màu, được dùng để phủ hoàn toàn đồ sứ hay một phần có hoạ tiết. Chúng được dùng trước khi nung hoặc sau khi nung sơ bộ lần đầu.
(4) Các chất láng bóng dạng lỏng là các dung dịch hoặc huyền phù trong dầu nhựa thông hoặc các dung môi hữu cơ khác, được dùng để trang trí đồ sứ hoặc đồ thuỷ tinh. Sử dụng rộng rãi nhất là các loại nước láng bóng vàng, bạc, nhôm hay crôm.
(5) Thủy tinh Frit và các loại thủy tinh khác (kể cả vitrite và thuỷ tinh thu được từ thạch anh nung chảy hoặc từ dioxit silic nung chảy) ở dạng bột, hạt hoặc mảnh, đã và chưa được tạo màu hoặc mạ bạc.
Các sản phẩm này được sử dụng trong điều chế các chất phủ cho đồ gốm sứ, thủy tinh hoặc đồ vật kim loại cũng như cho các mục đích khác. Ví dụ, frit được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm thủy tinh đã được ghi ở đoạn (2) ở trên. Bột và hạt thủy tinh đôi khi được nung kết để tạo ra đĩa, ống... dùng cho phòng thí nghiệm.
Vitrite thường được sử dụng chủ yếu để sản xuất các bộ phận cách điện (ví dụ đui bóng đèn).
Các loại bột thuỷ tinh khác được sử dụng như bột mài nhũ, để trang trí các tấm thiệp bưu điện, cây thông Noen, để sản xuất các đồ thuỷ tinh màu,...
Khi các sản phẩm đã được mô tả ở đoạn (5) ở trên là ở dạng khác trừ các dạng bột, hạt hoặc mảnh, chúng bị loại trừ, và thường được xếp vào Chương 70. Việc này được áp dụng trong trường hợp đặc biệt đối với “ vitrite ” và men thủy tinh nói chung (nhóm 70.01), đối với men thuỷ tinh ở các dạng thanh, que hoặc ống (nhóm 70.02) và các hạt nhỏ hình cầu (microsphesres) được dùng để phủ màn hình máy chiếu phim, các biển báo,...(nhóm 70.18).
3208.10 - Từ polyeste
3208.20 - Từ polyme acrylie hoặc polyme vinyl
3208.90 - Loại khác
(A) SƠN (BAO GỒM CẢ MEN TRÁNG)
Sơn của nhóm này là các hệ phân tán của chất màu không tan (chủ yếu là thuốc màu hữu cơ hoặc khoáng, hoặc chất màu nền), hoặc bột hay vẩy kim loại, trong đó có chứa chất kết dính đã phân tán hay hòa tan trong dung dịch không chứa nước. Chất kết dính tạo là tác nhân tạo màng, gồm các polyme tổng hợp (như nhựa phenol, nhựa amino, polyme acrylic nhiệt rắn hay loại khác, nhựa alkyd và các loại polyeste khác, các polyme vinyl, silicon, nhựa epoxy, và cao su tổng hợp) hoặc các polyme tự nhiên đã biến tính về mặt hóa học (như các dẫn xuất hóa học của cellulose hoặc cao su tự nhiên).
Lượng khác nhau của các chất khác như các chất làm khô (chủ yếu dựa trên các hợp chất coban, mangan, chì hoặc kẽm), các tác nhân làm đặc (muối xà phòng hóa của nhôm và kẽm), các chất hoạt động bề mặt, chất pha loãng hoặc chất độn (sulphat bari, cacbonat canxi, talc,...) và các tác nhân chống tạo màng (ví dụ, oxime butanone) có thể được thêm vào vì những mục đích đặc biệt.
Trong các loại sơn pha loãng trong dung môi. Dung môi và chất pha loãng là các chất lỏng bay hơi (như xăng trắng, toluene, chất gôm, gỗ hoặc sunphat nhựa thông, hỗn hợp của dung môi tổng hợp,...) được thêm vào để hòa tan chất kết dính dạng rắn và để cho sơn có tính chất chảy phù hợp để thuận tiện trong việc sử dụng.
Khi loại có chứa vecni, sơn được biết đến như là men tráng; chất này sau khi được làm khô, tạo nên một màng đặc biệt nhẵn cứng, có thể bóng hoặc mờ.
Công thức pha chế của sơn và sơn men pha loãng trong dung môi tuỳ thuộc mục đích sử dụng cụ thể của nó mà chúng được tạo ra và những sản phẩm như vậy thường chứa một vài thuốc màu và một số chất kết dính. Sau khi thi công trên bề mặt, sau khi khô, chúng tạo nên một màng có màu, phủ, không dính, bóng hoặc mờ.
(B) VECNI (KỂ CẢ DẦU BÓNG - LACQUERS)
Vecni và dầu bóng của nhóm này là các chế phẩm dạng lỏng dùng để bảo vệ hoặc trang trí bề mặt. Chúng dựa trên polyme tổng hợp (kể cả cao su tổng hợp), hoặc chất polyme tự nhiên đã biến tính về mặt hóa học (như nitrat cellulose hoặc các dẫn xuất của cellulose khác, nhựa novolac hay nhựa phenolic khác, nhựa amino, silicone,...) được trộn thêm dung môi và chất pha loãng. Chúng tạo nên một màng liên tục khô, không tan trong nước, tương đối cứng, có thể ít nhiều trong suốt hoặc không, nhẵn, có thể bóng, mờ hoặc bóng mờ.
Chúng có thể được tạo màu bằng cách trộn thêm các chất màu của loại hòa tan trong thành phần (Trong sơn hay sơn men, chất màu được gọi là “thuốc màu” và không tan trong môi trường - xem Phần (A) ở trên).
*
* *
Các phương pháp phổ biến dùng cho sơn, vecni và dầu bóng là sử dụng một chổi quét hay một cái ống lăn. Các phương pháp chính sử dụng trong công nghiệp gồm phun, nhúng và máy phủ.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Loại vecni được pha loãng tại thời điểm sử dụng. Chúng được tạo từ nhựa hòa tan trong một lượng nhỏ dung môi và từ các thành phần như các tác nhân chống tạo màng, một số phụ gia tạo đặc cấp ba hoặc chất làm khô mà có thể làm cho chúng thích hợp hơn khi được sử dụng riêng như là vecni. Những vecni của mô tả này, mà trong đó các thành phần phụ cũng có trong dung dịch, có thể được phân biệt với các dung dịch được xác định ở Chú giải 4 Chương này, dựa trên sự khác biệt về bản chất hóa học tự nhiên của các thành phần phụ tương ứng và sự khác biệt về chức năng của các thành phần đó trong 2 loại dung dịch.
(2) Loại vecni có thể đóng rắn bằng bức xạ, bao gồm nhiều loại oligomer (tức là những polyme bao gồm 2,3 hoặc 4 loại monome) và các monome tạo liên kết mạng, trong các dung môi bay hơi, có hay không có chất khơi mào phản ứng. Các loại vecni này được đóng rắn dưới tác dụng bức xạ của tia cực tím, tia hồng ngoại, tia X, chùm electron hoặc các bức xạ khác, tạo nên cấu trúc mạng, không tan trong các dung môi (màng cứng, khô). Các sản phẩm của loại này chỉ nằm trong nhóm này nếu như chúng rõ ràng được sử dụng như vecni. Các sản phẩm tương tự được sử dụng như nhũ tương ảnh thuộc nhóm 37.07.
(3) Vecni được tạo bởi các dung dịch polyme được miêu tả trong phần (C) ở dưới, tức là của loại thuộc các nhóm từ 39.01 đến 39.13, không kể trọng lượng của dung môi, chứa các chất được thêm vào trừ các loại cần thiết để sản xuất các sản phẩm được mô tả trong các nhóm từ 39.01 đến 39.13, như là các tác nhân chống tạo màng và một số tác nhân tạo đặc hoặc tác nhân làm khô, làm cho chúng phù hợp sử dụng riêng như vecni.
Trong phần này không bao gồm các dung dịch được nêu trong Chú giải 4 Chương này (xem Phần (C) dưới đây.
(C) CÁC DUNG DỊCH ĐƯỢC NÊU TẠI CHÚ GIẢI 4 CỦA CHƯƠNG 32
Theo Chú giải 4 của Chương này, các dung dịch (trừ collodion) có các thành phần sau đây được phân loại trong nhóm này:
- một hay nhiều các sản phẩm được mô tả trong các nhóm từ 39.01 đến 39.13 và bất kỳ thành phần đã hòa tan cần cho việc tạo ra các sản phẩm này, như các chất tăng tốc, chất hãm, chất liên kết mạng (do đó, loại trừ các thành phần tan như các chất màu và các thành phần không tan như các chất độn hoặc thuốc màu, cũng như tất cả các sản phẩm mà có thể phân loại trong các nhóm này theo quy định trong các điều khoản khác của Danh mục hàng hoá) trong các dung môi hữu cơ bay hơi, nếu trọng lượng dung môi vượt quá 50 % trọng lượng dung dịch.
- một hoặc nhiều các sản phẩm đã nêu ở trên và một chất hóa dẻo trong dung môi hữu cơ bay hơi nếu trọng lượng dung môi vượt quá 50 % trọng lượng dung dịch.
Các dung dịch như vậy được xếp vào Chương 39 nếu trọng lượng dung môi hữu cơ bay hơi không quá 50 % trọng lượng dung dịch.
Khái niệm "dung môi hữu cơ bay hơi" cũng bao gồm các dung môi có điểm sôi tương đối cao, ví dụ, dầu thông.
*
* *
Nhóm cũng không gồm các loại keo kết dính có các thành phần tương tự với các chế phẩm được miêu tả trong đoạn cuối của Phần B ở trên đây, hoặc các chất kết dính đã đóng gói bán lẻ có trọng lượng tịnh không vượt quá 1 kg (nhóm 35.06).
Nhóm này cũng loại trừ:
(a) Các chế phẩm để xử lý bề mặt dùng cho tường, nền nhà..., dựa trên plastics được trộn thêm một tỷ lệ lớn các chất độn và những chất giống như mattit thông thường, được dùng với dao phết, bay,...(nhóm 32.14).
(b) Mực in, có thành phần định tính tương tự sơn, nhưng không phù hợp sử dụng như sơn (nhóm 32.15).
(c) Vecni, loại vecni dùng cho móng chân móng tay, được làm thành dạng như mô tả trong Chú giải chi tiết của nhóm 33.04.
(d) Các chất lỏng dùng để hiệu chỉnh chủ yếu bao gồm các thuốc màu, chất kết dính và các dung môi, được đóng gói để bán lẻ được dùng để chữa các lỗi không mong muốn hoặc các lỗi không mong muốn khác trên các bản đánh máy, các bản thảo viết tay, bản photocopy, bản gốc in offset hoặc tương tự và vecni cellulose được đóng gói bán lẻ như các chế phẩm sửa bản in (nhóm 38.24).
(e) Các collodion, không phụ thuộc tỷ lệ dung môi (nhóm 39.12).
3209.10 - Từ polyme acrylic hoặc polyme vinyl
3209 90 - Loại khác
Sơn ghi trong nhóm này là dạng phân tán hoặc dung dịch của một chất kết dính dựa trên polyme tổng hợp hoặc polyme tự nhiên đã biến đổi về mặt hóa học, trong môi trường nước, được trộn lẫn với các chất phân tán của các chất màu không tan (chủ yếu là thuốc màu khoáng hoặc hữu cơ, hoặc chất màu nền) và chất độn. Chúng được trộn thêm các chất hoạt động bề mặt hay chất tạo nhữ hóa để làm ổn định các sản phẩm. Vecni của nhóm này tương tự như với các loại sơn nhưng không chứa thuốc màu; tuy nhiên, chúng có thể chứa chất màu tan trong chất kết dính.
Chất kết dính, là tác nhân tạo màng, chứa polyme, như este polyacrylic, poly(vinyl acetate) và poly(vinyl clorua), hoặc là các sản phẩm đồng trùng hợp của butadien và styren.
Khái niệm “môi trường gốc nước” nghĩa là bất kỳ môi trường có chứa nước hoặc hỗn hợp của nước và dung môi tan trong nước.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các chế phẩm xử lý bề mặt dùng cho tường, sàn..., dựa trên plastics được trộn thêm một tỷ lệ lớn các chất độn và các chất giống như matit, được sử dụng với dao phết, bay,...(nhóm 32.14).
(b) Mực in, có thành phần định tính tương tự với sơn, nhưng không phù hợp để sử dụng như sơn (nhóm 32.15).
(A) SƠN (KỂ CẢ MEN TRÁNG)
Các loại sơn (kể cả sơn men) của nhóm này bao gồm:
(1) Dầu làm khô (ví dụ, dầu lanh), đã hay chưa biến tính hoặc các loại nhựa tự nhiên, phân tán hoặc hòa tan trong môi trường có nước hay không có nước, được trộn thêm các thuốc màu.
(2) Tất cả các chất kết dính dạng lỏng (kể cả polyme tổng hợp hoặc polyme tự nhiên đã biến tính về mặt hóa học) có chứa chất đóng rắn và các thuốc mầu nhưng không chứa bất kỳ dung môi hoặc các môi chất khác.
(3) Sơn từ cao su (trừ cao su tổng hợp) đã phân tán hoặc hòa tan trong môi trường không có nước, hoặc phân tán trong môi trường nước, và được trộn thêm thuốc màu. Sơn loại này phải được dùng ở dạng các lớp màng mỏng có lớp phủ mềm dẻo.
(B) VECNI (KEERCAR DẦU BÓNG)
Trong nhóm này gồm các loại vecni sau:
(1) Các loại vecni dầu mà trong đó tác nhân tạo màng là dầu khô (ví dụ: dầu lanh) hoặc hỗn hợp của dầu khô với nhựa cánh kiến đỏ, gôm tự nhiên hoặc nhựa tự nhiên.
(2) Các loại vecni và dầu bóng dựa trên nhựa cánh kiến đỏ, gôm tự nhiên hoặc nhựa tự nhiên, chủ yếu chứa nhựa cánh kiến, gôm tự nhiên hoặc nhựa tự nhiên (shellac, copal, rosin, damar,...) trong cồn (vecni sprit), gôm, gỗ hoặc sulphat turpentine, white spirit, axeton,...
(3) Các loại vecni dựa trên bitum, nhựa hắc ín hoặc các sản phẩm tương tự (đôi khi được hiểu như sơn mài Nhật, vecni đen,...). (Sự phân biệt giữa các loại vecni dựa trên bitum,..., và một số hỗn hợp của nhóm 27.15, xem Chú giải loại trừ (e) của nhóm đó).
(4) Các loại vecni lỏng không chứa dung môi, mà có thể bao gồm:
(a) các loại plastic lỏng (thường là nhựa epoxy hoặc polyurethan) và một tác nhân tạo màng được gọi trong trường hợp này là “chất đóng rắn”. Đối với một số loại vecni, chất đóng rắn phải được thêm vào trong lúc sử dụng, trong trường hợp hai thành phần đó được đóng gói riêng biệt. Những gói này phải được đóng cùng nhau trong một kiện;
(b) nhựa đơn chất, sự tạo thành lớp màng tại thời điểm sử dụng không phụ thuộc vào việc bổ sung chất đóng rắn nhưng phụ thuộc vào sự tác động của nhiệt hoặc độ ẩm của không khí; hoặc
(c) oligomers (tức là các polyme chứa 2, 3 hoặc 4 loại monome) và monome liên kết mạng, có hay không có chất khơi mào phản ứng. Các loại vecni này được đóng rắn bởi tác dụng của tia cực tím, tia hồng ngoại, tia X, các chùm electron hoặc các bức xạ khác để tạo thành các cấu trúc mạng liên kế, không tan trong dung môi (màng cứng, khô).
Các sản phẩm của loại được miêu tả ở đây không thuộc nhóm này trừ khi chúng được nhận dạng rõ ràng để sử dụng hoàn toàn như vecni. Khi điều kiện này không được đáp ứng, loại được mô tả trong phần (a) và (b) được phân loại vào Chương 39. Các sản phẩm tương tự loại được mô tả trong phần (c) và loại được dùng như nhũ tương ảnh được phân loại vào nhóm 37.07.
(5) Các loại vecni và dầu bóng từ cao su (trừ cao su tổng hợp) phân tán hoặc tan trong môi trường không chứa nước hoặc phân tán trong môi trường chứa nước, có thể được trộn thêm chất màu hòa tan trong chất kết dính. Các loại vecni của mô tả này phải chứa các thành phần khác mà làm cho chúng thích hợp để sử dụng riêng như vecni. Khi điều kiện này không được đáp ứng, thì các sản phẩm này thường được xếp vào Chương 40.
(C) MÀU KEO (KỂ CẢ CHẤT LÀM TRẮNG ĐỂ LÀM SẠCH GIÀY DÉP), VÀ CÁC LOẠI THUỐC MÀU NƯỚC ĐÃ PHA CHẾ DÙNG ĐỂ HOÀN THIỆN DA THUỘC
(1) Màu keo chủ yếu gồm các thuốc màu hoặc các chất khoáng (ví dụ chất làm trắng) với một lượng chất kết dính nhất định, thường rất nhỏ như keo da hoặc casein. Các chất độn, chất khử trùng hoặc thuốc diệt côn trùng được trộn lẫn với nhau trong một vài loại.
Màu keo bao gồm gelatin trắng, sơn keo casein và sơn keo silicat. Chúng thường ở dạng bột, nhưng có thể là dạng nhão hoặc dạng nhũ tương.
(2) Chất làm trắng để làm sạch giày dép bao gồm chất làm trắng đã được kết khối ở dạng viên nhờ chất kết dính (ví dụ dextrin hoặc keo da). Chúng là các loại màu keo. Chúng cũng có thể ở dạng nhão hay dạng phân tán.
(3) Thuốc màu nước đã pha chế của loại được dùng để hoàn thiện da thuộc là các chế phẩm tương tự màu keo thông thường, có chứa hỗn hợp thuốc màu khoáng hoặc thuốc màu hữu cơ và một lượng nhất định chất kết dính (ví dụ cazeinate). Chúng thường ở dạng bột hoặc dạng nhão hoặc dạng phân tán trong nước, và đôi khi được kết hợp với các sản phẩm để làm tăng độ bóng sáng của da thuộc.
Nhóm cũng không bao gồm:
(a) Các chế phẩm xử lý bề mặt dùng cho tường, sàn nhà,..., từ plastic hoặc cao su với việc thêm một tỷ lệ lớn các chất độn, và các chất giống như matit, được dùng với dao phết, bay,....(nhóm 32.14).
(b) Mực in, có thành phần định lượng tương tự như sơn, nhưng không phù hợp sử dụng như sơn (nhóm 32.15).
(c) Sơn bột chủ yếu gồm có plastics và chứa các phụ gia và thuốc màu, thường được thi công trên các bề mặt dưới tác dụng nhiệt, có hoặc không thi công bằng phương pháp tĩnh điện (chương 39).
Các chất làm khô đã được điều chế là hỗn hợp dùng để tăng tốc quá trình làm khô sơn hoặc vecni bằng cách thúc đẩy quá trình oxy hóa dầu khô. Các sản phẩm này thường chứa chất làm khô hóa học (chì borate, kẽm naphthenat, kẽm oleat, mangan dioxit, coban resinat...) với chất độn, ví dụ thạch cao (chất làm khô dạng rắn), hoặc chứa dung dịch cô đặc của các chất này trong gôm, gỗ hoặc sulphate turpentine, xăng trắng,...,(ví dụ canxi naphthenat hoặc coban naphthenat trong white sprit) có hoặc không có dầu làm khô (chất làm khô dạng lỏng hoặc nhão).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Dầu đã đun sôi hoặc đã được biến tính về mặt hóa học khác của nhóm 15.18.
(b) Các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt (thông thường Chương 28 hoặc 29).
(c) Các resinate (nhóm 38.06).
3212.10 - Lá phôi dập
3212.90 - Loại khác
(A)THUỐC MẦU (KỂ CẢ BỘT VÀ VẨY KIM LOẠI) PHÂN TÁN TRONG MÔI TRƯỜNG KHÔNG CÓ NƯỚC, Ở DẠNG LỎNG HAY DẠNG NHÃO, DÙNG ĐỂ SẢN XUẤT SƠN (KỂ CẢ MEN TRÁNG)
Phần này gồm hệ phân tán nồng độ cao của các thuốc màu (bao gồm bột và vảy nhôm hoặc của các kim loại khác) phân tán trong môi trường không có nước (ví dụ dầu làm khô, xăng trắng, gôm, gỗ hoặc sulphate turpentine hoặc vecni), ở dạng lỏng hoặc nhão, được sử dụng để sản xuất sơn hoặc men tráng.
Nhóm này cũng gồm các các hệ phân tán nồng độ cao, đôi khi được gọi là "tinh chất ngọc trai", của:
(a) thuốc màu có ánh xà cừ tự nhiên (ngọc trai) chứa guanine và hypoxanthine và thu được từ vẩy của một số loại cá, hoặc
(b) thuốc màu có ánh xà cừ tổng hợp (ngọc trai) (ví dụ mica được phủ bởi oxit clorua bismut hoặc dioxit titan), trong một loại vecni hoặc dầu bóng (ví dụ dầu bóng nitrocellulose) hoặc trong một dung dịch polyme tổng hợp.
Các sản phẩm này được dùng trong sản xuất ngọc trai nhân tạo, sơn móng tay hoặc sơn khác và men tráng.
(B) LÁ PHÔI DẬP
Các sản phẩm này (cũng được gọi là blocking foils) chứa các tấm mỏng của:
(1) Bột kim loại (kể cả bột của kim loại quý), hoặc thuốc màu, được kết tụ với keo, gelatine hoặc thuốc màu được kết khối với keo, gelatin hoặc chất kết dính khác, hoặc
(2) Kim loại (kể cả kim loại quý) hoặc thuốc màu, được lắng bằng cách bay hơi, bằng cách phóng catot,..., trên nền của vật liệu bất kỳ (ví dụ giấy, plastics).
Chúng được sử dụng để in bìa sách, vành mũ,... bằng tay hoặc bằng máy với sự trợ giúp của áp suất (và thường là bằng nhiệt).
Lá phôi kim loại được làm bằng cách cán hoặc đập được phân loại theo thành phần kim loại (ví dụ, lá phôi vàng thuộc nhóm 71.08, lá phôi đồng thuộc nhóm 74.10, lá phôi nhôm thuộc nhóm 76.07).
(C) THUỐC NHUỘM VÀ CHẤT MÀU KHÁC ĐÃ LÀM THÀNH DẠNG NHẤT ĐỊNH HOẶC ĐÃ ĐƯỢC ĐÓNG GÓI BÁN LẺ
Đó là các sản phẩm không tạo màng, mà thông thường chứa hỗn hợp chất màu và các chất khác (ví dụ chất pha loãng trơ, các chất hoạt động bề mặt cho phép đẩy nhanh quá trình thẩm thấu và cố định chất màu). Đôi khi chất cẩn màu cũng được thêm vào.
Chúng chỉ được phân loại ở đây nếu:
(1) Được đóng gói để bán lẻ (ví dụ, túi bột, các lọ chất lỏng) nhằm mục đích sử dụng như thuốc nhuộm, hoặc
(2) Ở dạng (ví dụ, viên, viên nhỏ, viên nén hoặc các hình dạng tương tự) được thiết kế rõ ràng để bán lẻ.
Các thuốc nhuộm bao gồm trong nhóm này chủ yếu được sử dụng cho mục đích nội địa và thường được bán như “thuộc nhuộm gia dụng” (ví dụ, thuốc nhuộm cho quần áo, giầy dép, nội thất). Nhóm này cũng bao gồm các thuốc nhuộm đặc biệt được sử dụng trong các phòng thí nghiệm, ví dụ để tạo màu mẫu phẩm cho kính hiển vi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các loại chất màu được dùng nghệ thuật hội họa, học đường hoặc sơn bảng hiệu, chất màu pha (modifying tints), màu trang trí và các loại màu tương tự, ở dạng viên, tuýp, hộp, lọ, khay hay các dạng hoặc đóng gói tương tự (nhóm 32.13).
(b) Mực in (nhóm 32.15).
(c) Sơn dầu dùng trang trí sân khấu hoặc để trang điểm khác (nhóm 33.04).
(d) Các loại thuốc nhuộm tóc thuộc nhóm 33.05.
(e) Phấn màu và bút chì màu (nhóm 96.09).
3213.10- Bộ màu vẽ
3213.90- Loại khác
Nhóm này gồm các loại màu và các loại sơn đã được điều chế loại được sử dụng cho nghệ thuật hội họa, học đường hoặc sơn bảng hiệu, chất màu pha (modifying tints), màu trang trí và các loại màu tương tự, ở dạng viên, tuýp, hộp, lọ, khay hay các dạng hoặc đóng gói tương tự (màu nước, màu bột, sơn dầu,...), với điều kiện chúng ở dạng viên hoặc tuýp, bình nhỏ hoặc lọ nhỏ, khay hoặc các dạng hoặc đóng gói tương tự.
Nhóm này cũng bao gồm các chất màu bán dưới dạng bộ hoặc bộ đồ nghề, có hoặc không có bút lông, bảng palettes, dao trộn thuốc màu, bút đánh bóng, khay,....
Nhóm này không bao gồm các loại mực in (hoặc các loại mầu), mực ấn, kể cả ở dạng lỏng hoặc rắn, hoặc các sản phẩm khác được phân loại vào nhóm 32.15, phấn màu, bút chì màu và các đồ tương tự (nhóm 96.09).
3214.10 - Ma tít để gắn kính, ma tít để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; chất bả bề mặt trước khi sơn
3214.90 - Loại khác
Các sản phẩm của nhóm này là các chế phẩm có thành phần đa dạng mà các thành phần này được đặc trưng cơ bản thông qua công dụng của chúng.
Các chế phẩm này thường ở dạng nhão và chúng thường đóng rắn sau khi sử dụng. Tuy nhiên, một số loại ở dạng rắn hoặc dạng bột mà được làm thành dạng nhão tại thời điểm sử dụng dưới tác dụng của nhiệt (ví dụ, làm nóng chảy) hoặc bằng cách thêm một chất lỏng (ví dụ, nước).
Các sản phẩm của nhóm này thường được thi công bằng súng phun, dao phết, bay, bàn xoa hoặc một dụng cụ tương tự.
(I) MATÍT ĐỂ GẮN KÍNH, ĐỂ GHÉP NỐI, CÁC CHẤT GẮN NHỰA, CÁC HỢP CHẤT DÙNG ĐỂ TRÁT, GẮN VÀ CÁC LOẠI MATÍT KHÁC
Các chế phẩm này thường dùng để làm kín hoặc trát các vết nứt và, trong một vài trường hợp, để bảo đảm sự kết dính giữa các mảnh. Chúng phân biệt với keo dán và các chất dính khác bằng cách được sử dụng trong các lớp phủ dày hoặc lớp dày. Tuy nhiên cũng cần nhớ rằng nhóm các sản phẩm này cũng gồm các matít được sử dụng trên da của bệnh nhân, xung quanh vùng viêm dạ dày và chỗ rò.
Nhóm này gồm:
(1) Matít từ dầu. Chúng chủ yếu gồm dầu khô, chất độn (dù chúng tương tác với dầu hay là chất trơ) và các chất làm cứng. Sản phẩm được biết đến nhiều nhất của loại này là chất gắn kết cho kính.
(2) Matít từ sáp (sáp lutting). Chúng chứa sáp (tất cả các loại sáp) thường được trộn thêm nhựa, shellac, cao su, nhựa este,.... nhằm làm tăng độ kết dính. Các loại matít trong đó sáp được thay thế hoàn toàn hay một phần bởi các sản phẩm như cồn cetyl hay cồn stearyl cũng được coi như là matít từ sáp. Các loại matit của đoạn này bao gồm chất gắn kết để ghép nối và chất làm kín để trám trét các thùng,...
(3) Matit nhựa và các chất trét nhựa xi măng. Chúng bao gồm các loại nhựa tự nhiên (shellac, damar, colophan) hoặc plastics (nhựa alkyd, polyeste, nhựa coumaron-indene,...), được trộn lẫn với nhau và thường được thêm các chất liệu khác (ví dụ, sáp, dầu, bitum, cao su, bột gạch, vôi, xi măng hoặc các chất độn khoáng khác). Cần chú ý rằng một số loại matit này cũng bao gồm các loại được mô tả dưới đây (ví dụ, các loại từ nhựa hoặc cao su). Các loại matít và chất gắn nhựa xi măng của nhóm này được sử dụng cho nhiều mục đích, như chất độn trong công nghiệp kỹ thuật điện hoặc cho gắn kính, kim loại hoặc đồ sứ. Chúng thường được dùng sau khi được nấu chảy bằng các nung nóng.
(4) Matít từ thủy tinh lỏng. Chúng thường được điều chế tại thời điểm sử dụng bằng cách trộn lẫn hai thành phần. Một thành phần chứa dung dịch nước của natri silicat và kali-natri silicat và thành phần còn lại là chất độn (bột thạch anh, cát, sợi amiang,...). Chúng thường được sử dụng để gắn các bugi đánh lửa, để gắn kín các khối hay carte của động cơ, ống khói, bộ tản nhiệt,...., và để làm kín hoặc bịt lại các khớp nối.
(5) Matít từ oxy clorua kẽm. Chúng thu được từ oxit kẽm và clorua kẽm, thường được trộn thêm các chất hãm và, trong một số trường hợp, được thêm các chất độn. Chúng được sử dụng để làm kín các lỗ hoặc các vết nứt của gỗ, gốm sứ,....
(6) Matít từ oxyclorua magiê. Chúng thu được từ clorua magiê và oxit magiê và được trộn thêm các chất độn (ví dụ, bột gỗ). Chúng chủ yếu được dùng để bịt lại các vết nứt trên các đồ vật gỗ.
(7) Matít từ lưu huỳnh. Chúng gồm lưu huỳnh được trộn với các chất độn trơ. Loại này thường ở dạng rắn, và được sử dụng để làm cứng, chống thấm, chống trám có tính chống ăn mòn axit, và cũng làm liên kết hoặc cố định các mảnh một chỗ.
(8) Matít từ vữa (plaster). Chúng ở dạng bột sợi và bột vón, được tạo bởi hỗn hợp với tỷ lệ khoảng 50 % vữa và các chất khác như sợi amiang, cellulose gỗ, sợi thuỷ tinh hoặc cát. Chúng được làm thành dạng nhão bằng cách cho thêm nước, và được sử dụng để bắt vít, chốt, hay móc,...
(9) Matít từ plastics (ví dụ, polyeste, polyurethan, silicon và nhựa epoxy) có hoặc không chứa một tỷ lệ cao (đến 80%) các chất độn khác nhau được thêm vào (ví dụ, đất sét, cát và các silicat khác, titan dioxit, bột kim loại). Một số loại của các matít này được sử dụng sau khi bổ sung thêm chất làm cứng. Một số mattit khác không đóng rắn và vẫn dính sau khi sử dụng (ví dụ, chất bịt kín cách âm). Một số khác đóng rắn do sự bay hơi dung môi, sự đông đặc (matit nóng chảy bởi nhiệt), bằng cách xử lý sau khi để ngoài không khí hoặc bằng phản ứng của các thành phần trộn với nhau (matit nhiều thành phần).
Các sản phẩm có bản chất này thì được phân loại trong nhóm này chỉ khi chúng được sử dụng hoàn toàn như matit. Matit có thể sử dụng để gắn một số khớp nối trong xây dựng hoặc sửa chữa nhà, để gắn hoặc sửa chữa các đồ bằng thủy tinh, gốm sứ hoặc kim loại, như chất độn và chất làm dùng làm kín thùng xe hoặc, trong một số trường hợp làm chất kết dính để liên kết các bề mặt khác nhau cùng với nhau.
(10) Matít từ oxit kẽm và glycerol. Chúng được sử dụng làm các chất trám trét chịu axit, để gắn các mảnh sắt vào đồ gốm sứ và để nối các ống.
(11) Matít từ cao su. Những chất này có thể gồm một chất làm đặc cao su thêm các chất độn (graphit, silicat, carbonat,...) và trong một vài trường hợp thì thêm một dung môi hữu cơ. Sau khi trộn thêm một chất đóng rắn, đôi khi chúng được sử dụng để tạo các lớp trám bảo vệ mền dẻo (bền với các tác nhân hoá học và dung môi), và cũng dùng để trát. Các loại matit này cũng có thể bao gồm cao su phân tán trong môi trường nước, có chứa thêm chất màu, chất hóa dẻo, chất độn, chất kết dính hoặc chất chống oxi hóa, được sử dụng để gắn kín các lon kim loại.
(12) Các loại matít dùng cho da. Loại này có thể được tạo bởi, ví dụ carboxymethylcellulose natri, pectin, gelatin, và polyisobutylen trong một dung môi hữu cơ như cồn isopropyl. Chúng được sử dụng trên da người bệnh xung quanh chỗ viêm dạ dày và chỗ rò như là chất làm kín để chống rò giữa da và túi đựng chất thải. Chúng không có tác dụng phòng bệnh hay chữa bệnh.
(13) Các loại sáp gắn. Chúng chủ yếu gồm một hỗn hợp các vật liệu nhựa (ví dụ shellac, rosin), cùng với tỷ lệ (thường là cao) các chất độn khoáng và các chất màu. Chúng được sử dụng làm kín lỗ, để gắn các dụng cụ, để gắn các tài liệu...
(II) CÁC CHẤT BẢ BỀ MẶT TRƯỚC KHI SƠN; CÁC CHẾ PHẨM PHỦ BỀ MẶT KHÔNG CHỊU NHIỆT DÙNG ĐỂ PHỦ BỀ MẶT CHÍNH NHÀ, TƯỜNG TRONG NHÀ, SÀN, TRẦN NHÀ HOẶC TƯƠNG TỰ
Các sản phẩm này được phân biệt với matít ở trên, nhìn chung chúng được dùng cho các bề mặt lớn hơn. Mặt khác, chúng khác với sơn, vecni và các sản phẩm tương tự do chúng chứa một lượng lớn chất độn và thuốc màu nếu có; lượng này thường cao hơn nhiều so với lượng chất kết dính và dung môi hoặc chất lỏng phân tán.
(A) CÁC CHẤT BẢ BỀ MẶT TRƯỚC KHI SƠN.
Các chất trám trét của thợ sơn được dùng để xử lý các bề mặt (ví dụ, mặt tường bên trong nhà) trước khi sơn bằng cách làm phẳng các khiếm khuyết, và nếu cần thì trám trét các vết nứt, lỗ hoặc những chỗ gồ ghề trên bề mặt tường. Sơn được quét lên bề mặt sau khi đông cứng và được xả nhám.
Nhóm này cũng bao gồm các chất trám trét từ dầu, cao su, keo,... Các chất trám trét từ plastics với thành phần tương tự như thành phần của một số loại matít cùng loại cũng được sử dụng để gắn thùng xe,....
(B) CÁC CHẤT BẢ BỀ MẶT KHÔNG CHỊU NHIỆT.
Các chất bả bề mặt không chịu nhiệt được dùng cho các bề mặt ngoài, tường bên trong nhà, sàn và trần nhà, trên thành và dưới nền của bể bơi,...để chống thấm và làm cho bề mặt đẹp hơn. Nhìn chung chúng vẫn được nhìn thấy như là bề mặt cuối cùng.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các chế phẩm bột chứa tỷ lệ bằng nhau của vữa và cát với các chất hóa dẻo.
(2) Các chế phẩm dạng bột từ thạch anh và ximăng, với một lượng nhỏ chất hóa dẻo được thêm vào, được dùng để ốp tường hoặc lát nền sau khi thêm nước.
(3) Các chế phẩm dạng nhão tạo bởi cách phủ các chất độn khoáng (hạt đá cẩm thạch, thạch anh, hoặc hỗn hợp của thạch anh và silicat) với một chất kết dính (plastic hoặc resin), và được thêm thuốc mầu, và một lượng nước hoặc dung môi thích hợp.
(4) Các chế phẩm lỏng chứa các chất như: cao su tổng hợp hoặc polyme acrylic, sợi amiang được trộn với một thuốc màu, và nước. Loại này được dùng trên bề mặt tường ngoài nhà với cọ sơn hoặc súng phun và tạo nên một lớp dày hơn so với lớp sơn.
*
* *
Trong trường hợp các sản phẩm được miêu tả ở trên, việc pha trộn các thành phần khác nhau, hoặc việc thêm một số thành phần, phải được thực hiện tại thời điểm sử dụng. Những sản phẩm như vậy vẫn được phân loại trong nhóm này với điều kiện các thành phần là:
(i) có sự liên quan đến cách chúng được sắp xếp, dễ dàng để nhận biết chúng như là được sử dụng cùng nhau mà không cần đóng gói lại;
(ii) được xuất hiện cùng với nhau; và
(iii) Có thể nhận biết, bằng đặc tính chúng hoặc bằng tỷ lệ cân đối trong sản phẩm mà chúng hiện diện, coi như chất bổ trợ cho nhau.
Tuy nhiên, trong trường hợp các sản phẩm mà được trộn thêm một chất đóng rắn tại thời điểm sử dụng, nếu như không có chất đóng rắn này thì các sản phẩm này vẫn thuộc nhóm này, với điều kiện thành phần của chúng hoặc cách đóng gói chúng được nhận biết một cách rõ ràng là để sử dụng trong điều chế chất gắn kết, matít, chất trám trét hoặc chế phẩm xử lý bề mặt.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Nhựa tự nhiên, ở một số nước còn được gọi là “matít” (nhóm 13.01).
(b) Vữa, vôi và xi măng trong các nhóm 25.20, 25.22 hoặc 25.23.
(c) Matit asphalt và các loại matít bitum khác (nhóm 27.15).
(d) Xi măng nha khoa và các chất hàn nha khoa khác (nhóm 30.06).
(e) Hắc ín cho quá trình ủ bia, và các sản phẩm khác thuộc nhóm 38.07.
(f) Ximăng và vữa chịu lửa (nhóm 38.16).
(g) Các chất kết dính đã điều chế dùng cho khuôn hay lõi khuôn đúc (nhóm 38.24).
- Mực in:
3215.11 - - Màu đen
3215.19 - - Loại khác
3215.90 - Loại khác
(A) Mực in (hoặc màu) ở dạng nhão có độ đặc khác nhau, thu được bằng cách trộn thuốc màu đen hay mầu đã nghiền mịn với một thành phần nhựa. Thuốc màu thường có carbon đen đối với mực đen và có thể là chất hữu cơ hay vô cơ đối với mực mầu. Thành phần nhựa bao gồm nhựa tự nhiên hay polyme tổng hợp, phân tán trong dầu hay hòa tan trong dung môi, và có chứa một lượng nhỏ chất phụ gia cho phép chúng đạt được các đặc tính mong muốn.
(B) Mực viết hoặc mực vẽ thông thường là dạng hòa tan hoặc huyền phù của nguyên liệu màu đen hoặc nguyên liệu màu trong nước, thường được trộn thêm gôm và các sản phẩm khác (ví dụ, chất bảo quản). Chúng bao gồm các loại mực từ muối sắt, từ chất chiết xuất từ gỗ huyết mộc hoặc màu hữu cơ tổng hợp. Mực Ấn, chủ yếu được dùng để vẽ, thường chứa carbon đen ở dạng huyền phù trong nước (với việc trộn thêm gôm Arabic, shellac,...) hoặc trong một số keo động vật.
(C) Các loại mực khác trong nhóm này bao gồm:
(1) Mực cho máy photocopy hoặc mực cho máy in sao (các loại mực thường được làm đặc với glycerol, đường, ...)
(2) Mực cho bút bi.
(3) Mực dùng cho máy sao chụp hoặc cho hộp mực hoặc băng mực của máy chữ.
(4) Mực đóng dấu (ví dụ, mực dựa trên nitrat bạc).
(5) Mực có chứa kim loại (kim loại hoặc hợp kim đã được nghiền mịn ở dạng huyền phù trong dung dịch gôm, ví dụ, mực có chứa vàng, bạc hoặc đồng).
(6) Mực sympathetic hoặc mực không nhìn thấy đã điều chế (ví dụ, dựa trên clorua coban).
Các sản phẩm này thường ở dạng lỏng hay dạng nhão, nhưng chúng cũng được xếp trong nhóm này khi đã được dạng cô đặc hoặc dạng rắn (nghĩa là, dạng bột, viên, que,...) chúng có thể được sử dụng sau khi pha loãng hoặc phân tán.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Thuốc tráng phim chứa bột màu (một hỗn hợp của carbon đen và nhựa nhiệt dẻo), được trộn với một chất mang (các hạt cát được bao phủ với ethylcellulose), được dùng cho máy photocopy (nhóm 37.07).
(b) Ống mực thay thế cho bút bi bao gồm đầu bi và ống mực (nhóm 96.08). Ngược lại, nhóm này gồm các loại ống mực đơn giản dùng cho bút bi thông thường.
(c) Băng mực dùng cho máy chữ hoặc hộp mực (nhóm 96.12).