1. Chương này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm ăn được (trừ ruột, bong bóng và dạ dày của động vật, nguyên dạng và các mảnh của chúng, và tiết động vật, ở dạng lỏng hoặc khô);
(b) Da hoặc da sống (kể cả da lông), trừ các hàng hoá thuộc nhóm 05.05 và các đầu mẩu và phế liệu tương tự từ da hoặc da sống thô thuộc nhóm 05.11 (Chương 41 hoặc 43);
(c) Vật liệu dệt gốc động vật, trừ lông đuôi hoặc bờm ngựa và phế liệu lông đuôi hoặc bờm ngựa (Phần XI); hoặc
(d) Túm hoặc búi đã chuẩn bị sẵn để làm chổi hoặc bàn chải (nhóm 96.03).
2. Theo mục đích của nhóm 05.01, việc phân loại tóc theo độ dài (với điều kiện là chưa sắp xếp theo đầu và đuôi với nhau) sẽ không được coi là gia công.
3. Trong toàn bộ Danh mục này, ngà voi, sừng hà mã, sừng con moóc (hải mã), sừng kỳ lân biển và răng nanh lợn lòi đực, sừng tê giác và răng của các loài động vật đều được coi là "ngà".
4. Trong toàn bộ Danh mục này, khái niệm "lông đuôi hoặc bờm ngựa" để chỉ lông đuôi hoặc bờm của ngựa hay động vật họ trâu bò. Ngoài các mặt hàng khác, nhóm 05.11 còn bao gồm lông đuôi hoặc bờm ngựa và phế liệu lông đuôi hoặc bờm ngựa, đã hoặc chưa xếp thành lớp mà lớp này có hoặc không có vật liệu phụ trợ.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm một tập hợp đa dạng những chất liệu khác nhau có nguồn gốc từ động vật, chưa gia công hoặc đã qua quá trình xử lý đơn giản, thường không dùng làm thực phẩm (ngoại trừ một số loại tiết, ruột, bong bóng và dạ dày của động vật) và chưa được nêu trong các Chương khác của Danh mục.
Chương này không bao gồm:
(a) Mỡ động vật (Chương 2 hoặc Chương 15).
(b) Da sống của động vật dùng làm thực phẩm (Chương 2) hoặc của cá (Chương 3). (Khi chín, chúng được phân loại vào Chương 16).
(c) Vây, đầu, đuôi, bong bóng của cá, ăn được và các phụ phẩm ăn được khác của cá (Chương 3).
(d) Những tuyến và cơ quan khác dùng để trị liệu, được làm khô, đã hoặc chưa làm thành bột (Chương 30).
(e) Phân bón có nguồn gốc từ động vật (Chương 31).
(f) Da và da sống thô (trừ da chim và các phần của da chim, còn lông vũ hoặc lông tơ, chưa xử lý, đã làm sạch, khử trùng hoặc xử lý để bảo quản, nhưng chưa gia công theo cách khác) (Chương 41).
(g) Da lông (Chương 43).
(h) Lụa và len và các vật liệu thô để dệt khác có nguồn gốc từ động vật (trừ lông đuôi hoặc bờm ngựa và phế liệu lông đuôi hoặc bờm ngựa) (Phần XI).
(ij) Ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy (Chương 71).
Nhóm này bao gồm tóc người, chưa xử lý, đã hoặc chưa rửa sạch hoặc gột tẩy, kể cả tóc duỗi thẳng nhưng chưa sắp xếp đầu và đuôi tương ứng với nhau, và phế liệu tóc người.
Nhóm này không bao gồm tóc người (trừ phế liệu) đã được xử lý trên mức rửa sạch hoặc gột tẩy đơn giản, ví dụ: chuốt, nhuộm, tẩy, làm quăn hoặc chuẩn bị sẵn để làm tóc giả... và tóc người đã được sắp xếp đầu và đuôi tương ứng với nhau (nhóm 67.03, xem Chú giải tương ứng). Loại trừ này không áp dụng đối với phế liệu của tóc người, luôn được phân vào nhóm này, ngay cả khi, ví dụ, là phế liệu của tóc nhuộm hoặc tẩy trắng.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Vải lọc làm từ tóc người (nhóm 59.11).
(b) Lưới bao tóc làm từ tóc người (nhóm 65.05).
(c) Những vật phẩm khác làm bằng tóc người (nhóm 67.04).
0502.10 - Lông và lông cứng của lợn hoặc lợn lòi và phế liệu của chúng
0502.90 - Loại khác
Những sản phẩm này có thể ở dạng rời hoặc buộc thành bó lỏng hoặc chặt trong đó lông hoặc lông cứng được sắp xếp song song và phần đuôi dài ngắn khác nhau. Chúng có thể ở dạng thô hoặc đã được làm sạch, tẩy, nhuộm hoặc khử trùng.
Những loại lông khác dùng làm bàn chải gồm lông chồn hôi (skunk), lông sóc hoặc lông chồn mactet.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm lông hoặc lông cứng thuộc nhóm 96.03 khi chúng ở dạng túm hoặc búi đã được xử lý (tức là làm thành túm, búi đã được làm sẵn để làm chổi hoặc bàn chải hoặc chỉ cần một số hoạt động gia công nhỏ là có thể sẵn sàng dùng được) (xem Chú giải 3 của Chương 96).
Nhóm này gồm ruột, bong bóng và dạ dày của động vật (trừ của cá, thuộc nhóm 05.11), nguyên dạng hoặc từng mảnh, có thể ăn được hoặc không, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, muối hoặc ngâm nước muối, làm khô hoặc hun khói. Không bao gồm những sản phẩm được chế biến hoặc bảo quản cách khác (nhìn chung thuộc Chương 16).
Nhóm này bao gồm:
(1) Dạ múi khế (của bê, dê non, v.v...), đã hoặc chưa cắt hoặc làm khô dùng để chiết lấy men dịch vị.
(2) Lòng và dạ cỏ. (Khi làm chín, chúng được phân loại vào Chương 16).
(3) Màng ruột già chưa được xử lý, bao phía ngoài ruột tịt (manh tràng) của bò hoặc của cừu.
Nhóm này cũng bao gồm ruột và màng ruột già (nhất là của bò) đã được xẻ dọc hoặc cắt dọc thành dải, đã hoặc chưa được nạo bỏ phần màng trong của ruột.
Ruột chủ yếu dùng để làm vỏ xúc xích. Chúng cũng được sử dụng để sản xuất chỉ catgut phẫu thuật vô trùng (nhóm 30.06), dây để căng vợt tennis (nhóm 42.06) hoặc dây nhạc cụ (nhóm 92.09).
Nhóm cũng không bao gồm “ruột nhân tạo” được tạo bởi sự ép đùn bột nhão từ da hoặc xơ da, sau đó làm cứng lại bằng dung dịch formaldehyde và phenol (nhóm 39.17) và ruột “nhân tạo” làm bằng cách dính các khúc ruột tự nhiên đã tách rời lại với nhau (nhóm 42.06).
0505.10 - Lông vũ dùng để nhồi; lông tơ
0505.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Da và các bộ phận khác của chim và gia cầm (ví dụ: đầu, cánh) có lông vũ hoặc lông tơ, và
(2) Lông vũ và các phần của lông vũ (đã hoặc chưa cắt tỉa), và lông tơ, với điều kiện chúng chưa được xử lý, mới chỉ làm sạch, khử trùng hay xử lý để bảo quản, nhưng chưa được xử lý theo cách khác hoặc chưa được gắn với nhau.
Nhóm này cũng bao gồm bột, bột thô và phế liệu của lông vũ hoặc các phần của lông vũ.
Những mặt hàng thuộc nhóm này là loại dùng làm lông trải giường, trang trí (thường sau khi đã xử lý thêm) hoặc có những công dụng khác. Đối với mục đích phân loại, sẽ không có sự phân biệt giữa các loại lông vũ khác nhau.
Các phần của lông vũ thuộc nhóm này bao gồm lông vũ chẻ dọc, tơ được cắt từ ống lông hoặc được gắn với một ống lông đã được cạo mỏng (đã hoặc chưa cắt tỉa), lông ống và ống lông.
Lông vũ và lông tơ được đóng gói để bán lẻ trong các túi vải và hoàn toàn không phải loại dùng làm nệm hoặc gối cũng được phân loại vào nhóm này. Nhóm này cũng bao gồm cả lông vũ xâu tạm với nhau để dễ vận chuyển.
Nhóm này không bao gồm da và các bộ phận khác của loài chim và gia cầm, lông vũ và các phần của lông vũ đã qua xử lý nhiều hơn mức cho phép tại nhóm này (như tẩy, nhuộm, làm quăn hoặc tạo sóng), hoặc đã được gắn lại, và các sản phẩm làm từ lông vũ,v.v... ; nói chung chúng được phân loại vào nhóm 67.01 (xem Chú giải của nhóm). Tuy nhiên lông ống đã xử lý và các sản phẩm làm từ lông ống được phân loại theo đặc tính của chúng (ví dụ: phao để câu thuộc nhóm 95.07, tăm xỉa răng thuộc nhóm 96.01).
o
o o
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 0505.10
“Lông vũ loại dùng để nhồi” tức là lông của gia cầm (nhất là của ngỗng hoặc vịt, ngan), của chim bồ câu, của gà gô hoặc động vật tương tự, trừ lông vũ lớn từ cánh hoặc từ đuôi cũng như những lông vũ lớn bị loại bỏ sau khi tuyển chọn. “Lông tơ” là phần mượt và mềm nhất của bộ lông, nhất là của ngỗng hoặc của vịt, ngan và khác với lông vũ vì không có lông ống cứng. Những lông vũ và lông tơ này được dùng chủ yếu để nhồi bộ đồ giường ngủ hoặc những sản phẩm khác như nệm và quần áo cách ly (ví dụ áo mặc khi trượt tuyết).
0506.10 - Ossein và xương đã xử lý bằng axit
0506.90 - Loại khác
Những sản phẩm của nhóm này chủ yếu dùng làm nguyên liệu chạm khắc, để sản xuất hồ dán và gelatin hoặc làm phân bón.
Nhóm này gồm:
(1) Xương và lõi sừng (xương trong của sừng), chưa xử lý hoặc đã khử mỡ (xương loại bỏ mỡ bằng nhiều cách chế biến khác nhau).
(2) Xương sơ chế (nhưng không cắt thành hình), tức là xương chưa qua quá trình gia công ngoài việc cưa đơn giản để loại bỏ những phần thừa, cắt (cắt khúc hoặc xẻ dọc), đôi khi được bào thô hoặc tẩy trắng. Bởi vậy, nhóm này không bao gồm những tấm và mảnh hình chữ nhật (kể cả hình vuông) và những hình khác, đã hoặc chưa đánh bóng hoặc xử lý cách khác, và những sản phẩm hình thành từ việc đúc khuôn bột xương; tất cả các sản phẩm này thuộc nhóm 96.01 hoặc ở các nhóm khác chi tiết hơn.
(3) Xương xử lý bằng axit, tức là xương mà phần vôi được hoà tan bằng axit clohydric, nhưng không bị mất đi hình dạng ban đầu và chỉ giữ lại mô tế bào và phần sụn (ossein), phần này có thể dễ dàng chuyển thành chất gelatin.
(4) Xương khử gelatin là xương đã loại bỏ chất hữu cơ gelatin bằng cách làm chín bằng hơi và thường ở dạng bột (bột xương hấp).
(5) Bột và phế liệu từ xương (bao gồm cả xương nghiền nhỏ), ví dụ phần sinh ra từ quá trình xử lý xương.
0507.10 - Ngà; bột và phế liệu từ ngà
0507.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm những sản phẩm miêu tả dưới đây, ở dạng chưa xử lý hoặc đã sơ chế nhưng chưa cắt thành hình, tức là, chưa qua xử lý ngoài việc nạo, cạo, làm sạch, loại bỏ những phần thừa, gọt, xẻ, cắt chưa thành hình, bào thô, chuốt thẳng hoặc dát mỏng:
(A) Ngà.
Trong toàn bộ Danh mục này, thuật ngữ “ngà” được xem như là lớp phủ ngoài chất xương cấu tạo từ:
(1) Ngà voi, sừng hà mã, sừng con moóc (hải mã), kỳ lân biển hoặc răng nanh lợn lòi đực.
(2) Sừng tê giác
(3) Răng của tất cả động vật trên cạn hoặc động vật dưới biển.
(B) Mai động vật họ rùa.
Mai động vật họ rùa dùng vào mục đích thương mại thường là mai rùa (nói chung lấy từ các loài như rùa Kemp’s, rùa careta và đồi mồi) và các phần liên quan đến mai động vật họ rùa bao gồm mai rùa.
Mai động vật họ rùa là một loại chất liệu sừng dưới dạng tấm (vảy), với kích cỡ và độ dày khác nhau, bảo vệ khung sừng gắn với thân con vật.
Trong nhóm này "mai động vật họ rùa" là:
(1) Toàn phần hay một phần của mai.
(2) Những mảnh vảy từ mai, hầu như luôn tìm thấy tại bãi đánh cá, và gồm những tấm có độ dày không đều nhau, có bề mặt cong. Những mảnh vảy này được mô tả như là vảy lưng hoặc vảy bụng, tuỳ theo phần cơ thể sinh ra chúng; phần phủ bụng và ngực còn được gọi là vảy yếm.
(C) Lược cá voi (phiến sừng hàm trên) và hàm răng lược cá voi.
Trong tình trạng tự nhiên, lược (của cá voi hoặc của động vật có vú sống dưới biển) có dạng tấm dẹt bằng sừng được uốn cong với lớp da mầu xám dính trên bề mặt và có loại diềm cùng chất liệu với lược cá voi ở mặt trong.
(D) Sừng, gạc, móng guốc, móng, vuốt và mỏ.
Sừng thuộc nhóm này có thể ở dạng gắn hoặc không gắn với lõi sừng hoặc xương trán. Gạc là sừng có nhiều nhánh của hươu, của nai, v.v...
Nhóm này cũng bao gồm cả bột và phế liệu (cả những mẩu, vụn xén) của các sản phẩm trên.
Nhóm này không bao gồm những sản phẩm đã được cắt thành hình chữ nhật (bao gồm cả hình vuông), hoặc hình que, hình ống hoặc hình bán hoàn chỉnh khác và những sản phẩm làm bằng đúc khuôn (nhóm 96.01 hoặc các nhóm khác chi tiết hơn).
San hô là xương can xi của polip biển và thường được dùng trong nghề làm kim hoàn.
Về mặt công nghiệp, loại vỏ quan trọng nhất là vỏ tạo ra xà cừ.
Nhóm này bao gồm:
(1) San hô, chưa xử lý, hoặc chỉ loại bỏ lớp vỏ cứng bên ngoài.
(2) San hô, sơ chế nhưng chưa xử lý cách khác, tức là, san hô chưa làm gì ngoài việc cắt gọt đơn giản.
(3) Mai, vỏ, chưa xử lý hoặc đã sơ chế nhưng chưa cắt thành hình, tức là, chưa làm gì ngoài việc làm sạch hoặc cắt gọt đơn giản.
Nhóm này gồm cả mai mực, mai, vỏ, đã nghiền nhỏ hoặc tán thành bột dùng làm thức ăn cho gia súc, và phế liệu của mai, vỏ.
Nhóm này không bao gồm que, mảnh hình chữ nhật (kể cả hình vuông) và những hình khác, đã hoặc chưa đánh bóng hoặc xử lý cách khác; các mặt hàng này thuộc nhóm 96.01 hoặc các nhóm khác chi tiết hơn.
Long diên hương là chất tiết ra bởi cá nhà táng (cá voi trắng) và được tìm thấy ở dạng khối tròn tạo bởi những tầng đồng tâm và có thể nặng tới 100kg. Nó có độ đặc gần như sáp và toát lên mùi thơm dịu ngọt khi chà xát. Nó có màu sắc khác nhau từ xám tro đến đen và tỷ trọng thấp hơn tỷ trọng của nước. Không nên nhầm lẫn long diên hương với hổ phách vàng (succinite) vốn là một chất nhựa khoáng và thuộc nhóm 25.30.
Hương hải ly là chất như nhựa, có mầu nâu, phớt đỏ, hoặc phớt vàng, có vị đắng và mùi nồng. Hương hải ly tiết ra từ con hải ly và thường có trong những chiếc túi (thường gắn với phần thân dưới) từ đó hương hải ly được tạo thành. Những chiếc túi này thường được xếp nếp và có độ dài từ 5 đến 10 cm.
Chất xạ hương do con cầy hương tiết ra và là một chất như nhựa nhão và sánh như dầu, có mầu nâu vàng hoặc nâu, có mùi rất nồng, gần giống mùi của xạ tự nhiên.
Xạ hương, do một loại hươu tiết ra, thường ở trong các túi (một phía phẳng không có lông và phía kia phồng có lông trắng) từ đó xạ hương được tạo thành. Chất được tiết ra có mầu nâu sẫm và mùi nồng. Không nên nhầm lẫn giữa xạ hương này với xạ hương nhân tạo (xạ xilen, xạ cây vông vàng v.v...) thuộc Chương 29.
Côn trùng cánh cứng cantharide là những côn trùng chủ yếu được sử dụng do đặc tính làm giộp da hoặc kích thích giảm đau của chúng. Chúng thường ở dạng được làm khô hoặc được tán thành bột.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Những tuyến và những cơ quan khác từ động vật dùng trong các chế phẩm trị liệu nguồn gốc hữu cơ và không thích hợp dùng làm thức ăn cho người do bản chất hoặc nguồn gốc giải phẫu của chúng (tuyến tụy, tinh hoàn, buồng trứng, túi mật, tuyến giáp, tuyến yên…), tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, hoặc bảo quản tạm thời bằng cách khác để vận chuyển hoặc tích trữ (ví dụ bảo quản trong glycerol, acetone hoặc cồn). Khi ở dạng khô hoặc chiết xuất, những sản phẩm này bị loại trừ (nhóm 30.01) (tuy nhiên, đối với những sản phẩm dùng làm thực phẩm, xem Chú giải 1(a) của Chương này).
(2) Mật, đã hoặc chưa làm khô (chất chiết từ mật bị loại trừ - nhóm 30.01).
Nhóm này cũng không bao gồm nọc của rắn hoặc của ong dưới dạng mảnh khô đựng trong ống hàn kín (nhóm 30.01).
0511.10 - Tinh dịch động vật họ trâu, bò
- Loại khác:
0511.91 - - Sản phẩm từ cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác; động vật đã chết thuộc Chương 3
0511.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Tinh dịch của động vật.
(2) Phôi động vật, ở dạng đông lạnh để cấy vào một con vật cái khác.
(3) Tiết động vật, ở dạng lỏng hoặc khô, có thể ăn được hoặc không.
Nhóm này loại trừ tiết động vật điều chế dùng cho chữa bệnh, phòng bệnh hoặc chẩn đoán bệnh (nhóm 30.02).
(4) Bọ yên chi (bọ phấn thoa mặt/rệp son) và các côn trùng tương tự, không thích hợp dùng làm thức ăn cho người. Bọ yên chi là côn trùng sống trên một vài loài xương rồng. Trên thị trường có ba loại bọ yên chi: Loại đen, xám hoặc ánh bạc, và đo đỏ. Bọ yên chi cung cấp phẩm màu đỏ (chiết xuất bọ yên chi) (nhóm 32.03) dùng để chế biến chất màu đỏ (nhóm 32.05).
Trong những côn trùng giống với bọ yên chi, quan trọng nhất là bọ kemet, sống trên một loại cây sồi lùn. Bọ kemet được sử dụng để chế thuốc nhuộm màu đỏ tươi và rất bền màu, loại thuốc nhuộm này được phân loại vào nhóm 32.03.
Không nên nhầm lẫn giữa bọ kemet với “khoáng kemet” (nhóm 38.24).
Bọ yên chi và bọ kemet thường ở dạng khô và có thể ở nguyên dạng hoặc ở dạng bột.
(5) Trứng , sẹ và bọc trứng cá, không dùng làm thực phẩm.
Bao gồm:
(i) Trứng sống để sinh sản, chúng được nhận biết bằng các chấm đen là mắt của phôi.
(ii) Trứng muối (của cá tuyết hoặc cá nục hoa) dùng làm mồi câu. Chúng có thể phân biệt với những chế phẩm thay thế trứng cá tầm muối (nhóm 16.04) bởi mùi khó chịu và vì chúng thường được đóng chung với số lượng lớn.
Nhóm này loại trừ sẹ và bọc trứng cá dùng làm thực phẩm (Chương 3).
(6) Phế liệu của cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác.
Loại này có thể kể ra:
(i) Vẩy của cá trắng nhỏ (whitebait) hoặc các loại cá tương tự, tươi hoặc bảo quản (nhưng không trong dung dịch); các loại này dùng để chế tinh chất ánh ngọc trai phủ ngọc trai nhân tạo.
(ii) Bong bóng cá, chưa chế biến, làm khô hoặc muối, dùng làm keo cá và thạch cá.
(iii) Ruột cá và phế liệu của da cá dùng sản xuất keo...
(iv) Phế liệu từ cá.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Gan cá, vây cá, đầu, đuôi, bong bóng cá ăn được và phụ phẩm khác ăn được từ cá (Chương 3).
(b) Mai, vỏ động vật thân mềm, động vật giáp xác hoặc động vật da gai thuộc nhóm 05.08.
(c) Gan cá không thích hợp để làm thực phẩm mà dùng chế biến dược phẩm (nhóm 05.10).
(7) Trứng tằm. Chúng trông giống như những hạt rất nhỏ, màu vàng nhạt chuyển dần sang mầu tro hoặc vàng đất. Chúng thường được đóng trong hộp (hoặc lỗ tổ ong) hoặc trong túi vải.
(8) Trứng kiến.
(9) Gân và dây chằng, giống như phế liệu nêu trong Mục (10) và (11) dưới đây, được dùng chủ yếu như nguyên liệu thô để sản xuất keo.
(10) Mẩu vụn và phế liệu tương tự, của da và da sống thô.
(11) Phế thải của da lông thô mà những người kinh doanh/thuộc da lông thú không thể tận dụng được.
(12) Động vật chết thuộc Chương 1 hoặc Chương 3 và thịt của chúng hoặc các phụ phẩm dạng thịt không thích hợp dùng làm thức ăn cho người trừ các sản phẩm thuộc nhóm 02.09 hoặc thuộc một trong các nhóm trước của Chương này.
(13) Lông đuôi hoặc bờm ngựa và phế liệu từ lông đuôi hoặc bờm ngựa, đã hoặc chưa xếp thành lớp, có hoặc không có vật liệu phụ trợ. Loại này gồm lông của bờm hoặc đuôi ngựa hoặc của động vật họ trâu bò. Nó bao gồm không chỉ lông đuôi hoặc bờm ngựa chưa xử lý mà còn bao gồm lông đuôi hoặc bờm ngựa đã được rửa sạch, chà sạch, tẩy trắng, nhuộm, làm xoăn hoặc xử lý theo cách khác. Các mặt hàng này có thể ở dạng đống, dạng bó hoặc dạng cuộn, v.v…
Nhóm này cũng bao gồm một lớp của lông đuôi hoặc bờm ngựa trên nền vải dệt, giấy, v.v… hoặc được đặt giữa các tấm vải dệt, giấy, v.v…., bằng cách ghim hoặc khâu đơn giản.
Nhóm này không bao gồm lông đuôi hoặc bờm ngựa đã trải qua quá trình xe sợi và lông đuôi hoặc bờm ngựa được nối với nhau (Chương 51).
(14) Bọt biển thiên nhiên có nguồn gốc động vật. Chúng bao gồm cả bọt biển thô (kể cả loại mới chỉ làm sạch đơn thuần) và bọt biển đã được xử lý (ví dụ bằng cách loại bỏ chất vôi hoặc bằng cách tẩy trắng). Loại này cũng bao gồm bọt biển phế liệu.
Xơ mướp, còn được gọi là bọt biển thực vật, được phân loại vào nhóm 14.04.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Nhựa cánh kiến đỏ dạng phiến mỏng, nhựa cánh kiến đỏ dạng hạt, nhựa cánh kiến đỏ dạng thỏi và các loại nhựa cánh kiến đỏ khác (nhóm 13.01).
(b) Mỡ động vật thuộc Chương 15.
(c) Bộ sưu tập và các vật phẩm sưu tập về động vật học, bao gồm cả động vật được nhồi hoặc bảo quản cách khác, các loài bướm và côn trùng, trứng khác, v.v… (nhóm 97.05).