Chú giải.
1. Chương này không bao gồm:
(a) Malt đã rang dùng như chất thay thế cà phê (nhóm 09.01 hoặc nhóm 21.01);
(b) Bột mịn, tấm, bột thô hoặc tinh bột đã chế biến thuộc nhóm 19.01;
(c) Mảnh ngô chế biến từ bột ngô (corn flakes) hoặc các sản phẩm khác thuộc nhóm 19.04;
(d) Các loại rau, đã chế biến hay bảo quản, thuộc nhóm 20.01, 20.04 hoặc 20.05;
(e) Dược phẩm (Chương 30); hoặc
(f) Tinh bột có đặc tính của nước hoa, mỹ phẩm hay chế phẩm vệ sinh (Chương 33).
2. (A) Các sản phẩm thu được từ quá trình xay xát ngũ cốc liệt kê trong bảng dưới đây được xếp vào Chương này, nếu tính theo trọng lượng trên sản phẩm khô các sản phẩm này có:
(a) hàm lượng tinh bột (được xác định theo phương pháp phân cực Ewer cải tiến) vượt quá chỉ dẫn ghi trong Cột (2); và
(b) hàm lượng tro (sau khi loại trừ các khoáng chất bổ sung) không vượt quá chỉ dẫn ghi trong Cột (3).
Các sản phẩm không giống như vậy sẽ được xếp vào nhóm 23.02. Tuy nhiên, mầm ngũ cốc nguyên dạng, đã được xay, vỡ mảnh hoặc nghiền, luôn luôn được phân loại vào nhóm 11.04.
(B) Các sản phẩm thuộc Chương này theo những quy định trên đây sẽ được xếp vào nhóm 11.01 hoặc 11.02 nếu có tỷ lệ phần trăm lọt qua sàng bằng lưới kim loại với kích thước mắt sàng ghi trong Cột (4) hoặc (5) không thấp hơn tỷ lệ ghi cho từng loại ngũ cốc, tính theo trọng lượng.
Các trường hợp khác sẽ được xếp vào nhóm 11.03 hoặc 11.04.
3. Theo mục đích của nhóm 11.03 khái niệm "tấm" và "bột thô" được hiểu là các sản phẩm thu được từ quá trình xay vỡ hạt ngũ cốc, trong đó:
(a) đối với sản phẩm ngô, tối thiểu 95% tính theo trọng lượng lọt qua sàng bằng lưới kim loại với kích thước mắt sàng là 2 mm;
(b) đối với sản phẩm ngũ cốc khác, tối thiểu 95% tính theo trọng lượng lọt qua sàng có lưới bằng kim loại với kích thước mắt sàng là 1,25 mm.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm:
(1) Những sản phẩm thu được từ quá trình xay xát các loại ngũ cốc thuộc Chương 10 và ngô ngọt thuộc Chương 7, trừ những phế liệu xay xát thuộc nhóm 23.02. Trong phạm vi này, các sản phẩm thu được từ quá trình xay xát bột mì, lúa mạch đen, lúa đại mạch, yến mạch, ngô (kể cả loại ngô còn nguyên bắp, vẫn còn hay không còn vỏ ngô), lúa miến, gạo và kiều mạch thuộc Chương này được phân biệt với những phế liệu thuộc nhóm 23.02 dựa trên những tiêu chí về mặt hàm lượng tinh bột và hàm lượng tro nêu tại Chú giải 2 (A) của Chương này.
Trong phạm vi Chương này, đối với những loại ngũ cốc được kể tên trên, các loại bột thuộc nhóm 11.01 hoặc 11.02 phải được phân biệt với các sản phẩm thuộc nhóm 11.03 hoặc 11.04 dựa trên các tiêu chí về tỉ lệ lọt qua sàng được nêu trong phần Chú giải 2 (B) của Chương này. Đồng thời, tất cả ngũ cốc ở dạng tấm và bột thô thuộc nhóm 11.03 cũng phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí về tỉ lệ lọt qua sàng được nêu trong Chú giải 3 của Chương này.
(2) Những sản phẩm cũng được thu từ các sản phẩm ngũ cốc của Chương 10 đã qua công đoạn chế biến được nêu trong các nhóm khác nhau của Chương này, như ủ malt hoặc chiết xuất tinh bột hoặc gluten lúa mì.
(3) Những sản phẩm thu được từ nguyên liệu thô thuộc các Chương khác (rau đậu khô, khoai tây, quả...) được chế biến theo các công đoạn giống như được nêu trong đoạn (1) và đoạn (2) ở trên.
Ngoài các loại khác, Chương này không bao gồm:
(a) Malt đã rang và được dùng làm sản phẩm thay thế cà phê (nhóm 09.01 hoặc 21.01).
(b) Vỏ ngũ cốc (nhóm 12.13).
(c) Bột, bột mịn, bột thô hoặc tinh bột, đã chế biến thuộc nhóm 19.01.
(d) Tinh bột sắn (nhóm 19.03).
(e) Bỏng gạo, bỏng ngô dạng mảnh và các sản phẩm tương tự, thu được từ quá trình rang sấy hoặc rang và lúa mì sấy khô đóng bánh (nhóm 19.04).
(f) Rau đã được chế biến hoặc bảo quản thuộc các nhóm 20.01, 20.04 và 20.05.
(g) Phế liệu thu được từ quá trình sàng sẩy, xay xát hoặc sau những công đoạn chế biến ngũ cốc hay rau đậu khác (nhóm 23.02).
(h) Dược phẩm (Chương 30).
(ij) Các sản phẩm của Chương 33 (xem Chú giải 3 và 4 của Chương 33).
Nhóm này bao gồm bột mì hoặc bột meslin (nghĩa là những sản phẩm dạng bột thu được từ quá trình xay xát các loại ngũ cốc thuộc nhóm 10.01) đáp ứng đầy đủ các tiêu chí hàm lượng tinh bột và hàm lượng tro được quy định trong đoạn (A) của Chú giải 2 (xem Chú giải Tổng quát) và phù hợp với tỷ lệ lọt qua sàng như quy định tại đoạn (B) của Chú giải 2 của Chương.
Các loại bột thuộc nhóm này có thể được nâng cao chất lượng tốt hơn khi được thêm một lượng rất nhỏ khoáng phốt phát, chất chống oxy hoá, chất tạo nhũ, vitamin hoặc bột nở đã chế biến (bột ủ men). Bột mì có thể được làm giàu hơn bằng cách cho thêm chất gluten, với hàm lượng không quá 10%.
Nhóm này cũng bao gồm các "loại bột nở", bột được xử lý nhiệt để nấu thành keo. Loại bột này được sử dụng để sản xuất các chế phẩm thuộc nhóm 19.01, chất phụ gia vào bánh hoặc thức ăn chăn nuôi hoặc trong một số ngành công nghiệp như công nghiệp dệt may, giấy hoặc luyện kim (dùng làm nguyên liệu để sản xuất các chất gắn lõi đúc).
Các loại bột qua những công đoạn chế biến thêm hoặc có pha thêm một số chất dùng để làm chế phẩm thực phẩm bị loại trừ (thường thuộc nhóm 19.01).
Nhóm này cũng loại trừ bột trộn với cacao (nhóm 18.06 nếu chứa hàm lượng cacao từ 40% trọng lượng đã khử chất béo trở lên, hoặc nếu dưới 40% thì thuộc nhóm 19.01).
1102.20 - Bột ngô
1102.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm bột (nghĩa là bột có được từ quá trình xay xát các loại ngũ cốc thuộc Chương 10) trừ bột mì hoặc bột meslin.
Các sản phẩm thu được từ quá trình xay xát của lúa mạch đen, lúa đại mạch, yến mạch, ngô (kể cả ngô còn nguyên bắp, vẫn còn hoặc không còn vỏ), lúa miến, gạo hoặc kiều mạch được phân loại vào nhóm này như các loại bột nếu chúng đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về hàm lượng tinh bột và hàm lượng tro được quy định trong đoạn (A) của Chú giải 2 (xem Chú giải tổng quát) và phù hợp với tỷ lệ lọt qua sàng như quy định tại đoạn (B) của Chú giải 2 của Chương.
Các loại bột thuộc nhóm này có thể được cải thiện tốt hơn khi được thêm một lượng rất nhỏ khoáng phosphate, chất chống oxy hoá, chất tạo nhũ, vitamin hoặc bột nở đã chế biến (bột ủ men).
Nhóm này cũng bao gồm các loại bột "trương nở" (đã được hồ hóa sơ bộ) đã được xử lý nhiệt để hồ hóa sơ bộ tinh bột. Loại bột này được sử dụng để sản xuất các chế phẩm thuộc nhóm 19.01, chất phụ gia vào bánh hoặc thức ăn cho gia súc hoặc trong một số ngành công nghiệp như công nghiệp dệt may, giấy hoặc luyện kim (dùng làm nguyên liệu để sản xuất các chất gắn lõi đúc).
Các loại bột đã qua các công đoạn chế biến thêm hoặc có pha thêm một số chất dùng làm chế phẩm thực phẩm bị loại trừ (thường được phân loại vào nhóm 19.01).
Nhóm này cũng loại trừ bột trộn với cacao (nhóm 18.06 nếu chứa hàm lượng cacao từ 40% trọng lượng đã khử chất béo trở lên, hoặc nếu dưới 40% thì thuộc nhóm 19.01).
- Dạng tấm và bột thô:
1103.11 - - Của lúa mì
1103.13 - - Của ngô
1103.19 - - Của ngũ cốc khác
1103.20 - Dạng viên
Ngũ cốc dạng tấm và bột thô thuộc nhóm này là các sản phẩm, thu được từ các mảnh vỡ của các hạt ngũ cốc (bao gồm cả ngô nguyên bắp vẫn còn hoặc không có lá bao), mà, trong trường hợp thích hợp, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về hàm lượng tinh bột và hàm lượng tro theo quy định trong Chú giải 2 (A) và trong tất cả các trường hợp đáp ứng những tiêu chí liên quan về tỉ lệ lọt qua sàng theo quy định trong Chú giải 3 của Chương này.
Về việc phân biệt với các loại bột của các nhóm 11.01 hoặc 11.02, ngũ cốc dạng tấm và bột thô thuộc nhóm này và các sản phẩm của nhóm 11.04, xem phần Chú giải tổng quát của Chương này (Mục (1), đoạn thứ hai).
Ngũ cốc dạng tấm là những mảnh vỡ nhỏ hoặc lõi chứa bột của hạt ngũ cốc từ quá trình xay thô ngũ cốc.
Bột thô là sản phẩm có hình hạt hơn so với bột mịn và được tạo ra từ quá trình sàng đầu tiên sau xay xát, hoặc nghiền lại và sàng lại tấm từ quá trình xay xát đầu tiên.
Bột lúa mì thô Durum, hoặc semolina, là nguyên liệu thô chính trong việc sản xuất mỳ macaroni, mỳ spaghetti hoặc các sản phẩm tương tự. Semolina cũng được sử dụng trực tiếp làm thực phẩm (ví dụ, làm bánh puddingsemolina).
Nhóm này cũng bao gồm các loại bột thô (ví dụ, bột ngô) được hồ hóa sơ bộ bằng cách xử lý nhiệt, được sử dụng, ví dụ, làm chất phụ gia trong sản xuất bia.
Viên là những sản phẩm thu được từ quá trình xay xát các loại ngũ cốc thuộc Chương này được tích tụ bằng cách nén trực tiếp bằng áp lực hay bổ sung chất kết dính với tỉ lệ không quá 3% trọng lượng (xem Chú giải 1 của Phần II). Nhóm này không bao gồm những phế liệu được viên lại từ quá trình xay xát ngũ cốc (Chương 23).
- Ngũ cốc xay hoặc vỡ mảnh:
1104.12 - - Của yến mạch
1104.19 - - Của ngũ cốc khác
- Ngũ cốc đã chế biến cách khác (ví dụ, xát vỏ, nghiền vụn, cắt lát hoặc nghiền thô):
1104.22 - - Của yến mạch
1104.23 - - Của ngô
1104.29 - - Của ngũ cốc khác
1104.30 - Mầm ngũ cốc, nguyên dạng, xay, vỡ mảnh hoặc nghiền
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm ngũ cốc đã quá trình xay xát nhưng chưa xác định mục đích sử dụng, trừ bột (nhóm 11.01 và 11.02), ngũ cốc dạng tấm, bột thô và viên (nhóm 11.03) và phế liệu (nhóm 23.02). Về việc phân biệt các sản phẩm của nhóm này với các sản phẩm được phân loại trong các nhóm vừa loại trừ nêu trên, xem Mục (1) Chú giải tổng quát của Chương này.
Nhóm này bao gồm:
(1) Ngũ cốc xay hoặc vỡ mảnh (thí dụ, lúa đại mạch hoặc yến mạch), thu được từ quá trình nghiền hoặc cán hạt ngũ cốc nguyên dạng (đã hoặc chưa xay bỏ vỏ) hoặc các loại hạt ngũ cốc đã qua nghiền thô hoặc các sản phẩm được nêu trong Mục (2) và (3) dưới đây và nêu trong Mục (2) đến (5) của Chú giải nhóm 10.06. Trong quá trình chế biến này, hạt ngũ cốc thông thường được hấp hoặc được nghiền trong các máy cán nóng. Các loại thực phẩm ăn sáng chế biến từ “Mảnh ngô” (conrn flakes) đã được nấu chín sẵn sàng cho sử dụng và vì vậy, cũng như các sản phẩm ngũ cốc được nấu chín tương tự, thuộc nhóm 19.04.
(2) Yến mạch, kiều mạch và kê đã được xay bỏ vỏ ngoài nhưng còn vỏ lụa.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm loại hạt yến mạch trong tình trạng tự nhiên không có vỏ trấu, miễn là chúng chưa qua bất kỳ quá trình chế biến nào trừ đập hoặc sàng sẩy (nhóm 10.04).
(3) Các hạt đã được xay xát hoặc chế biến cách khác để loại bỏ một phần hoặc toàn bộ vỏ ngoài và phần vỏ lụa (lớp vỏ mỏng nằm dưới vỏ). Phần lõi bột khi đó có thể nhìn thấy được. Hạt thuộc các giống lúa đại mạch cũng được phân loại vào nhóm này nếu đã được xát hết phần vỏ bao. (Phần vỏ ngoài chỉ có thể bị loại bỏ bằng việc nghiền vì phần vỏ bao dính quá chặt vào phần lõi mà đập và sàng sẩy không tách ra được - xem Chú giải nhóm 10.03).
(4) Hạt xát tròn (chủ yếu là của lúa đại mạch), tức là, loại hạt đã được xay và xát gần như hết vỏ lụa; hai đầu được làm khá tròn.
(5) Hạt nghiền thô, tức là, loại hạt (xay hoặc chưa xay bỏ vỏ) được cắt hoặc nghiền thành mảnh vụn nhưng khác dạng tấm ở chỗ các mảnh vụn này thô hơn và kém đều hơn.
(6) Mầm ngũ cốc, được tách khỏi hạt từ bước đầu tiên của quá trình xay xát, mầm có thể được tách nguyên hay hơi dát mỏng (bị cán). Để nâng cao chất lượng bảo quản, mầm có thể được rút bớt dầu hoặc qua xử lý nhiệt. Dựa vào những mục đích sử dụng khác nhau, mầm có thể được làm vỡ mảnh hoặc nghiền (nghiền thô hoặc nghiền vụn) và được thêm vitamin, ví dụ, để bù vào lượng đã mất trong quá trình sơ chế.
Những mầm nguyên dạng hoặc bị cán thường được sử dụng để chiết xuất dầu. Loại mầm nghiền hoặc vỡ mảnh thường được sử dụng chế biến món ăn (bánh bích quy hoặc các loại bánh khác, sản phẩm ăn kiêng), thức ăn chăn nuôi (làm thức ăn bổ sung) hoặc trong sản xuất dược phẩm.
Phần cặn còn lại sau khi chiết xuất dầu từ mầm ngũ cốc được phân loại vào nhóm 23.06.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Gạo lứt, gạo đã xát toàn bộ hay xát sơ bộ, đã bóc vỏ, đã hoặc chưa được đánh bóng, hồ (glazed), hoặc gạo đồ, và gạo tấm (nhóm 10.06).
(b) Hạt diêm mạch (quinoa) đã được loại bỏ toàn bộ hoặc một phần vỏ lụa để tách saponin, nhưng không trải qua bất kỳ quá trình chế biến nào khác (nhóm 10.08).
(c) Lúa mì sấy khô đóng bánh ở dạng hạt đã được chế biến (nhóm 19.04).
1105.10 - Bột, bột thô và bột mịn
1105.20 - Dạng mảnh lát, hạt và viên
Nhóm này bao gồm khoai tây khô dưới dạng bột, bột thô, bột mịn, dạng mảnh lát, hạt hoặc viên. Bột thô, bột mịn, dạng mảnh lát và hạt của nhóm này thu được từ khoai tây tươi hấp chín và được nghiền nhừ rồi sau đó làm khô phần nghiền nhừ đó thành bột, bột thô, bột mịn hoặc hạt hoặc thành tấm mỏng được cắt thành các mảnh lát nhỏ. Viên thuộc nhóm này thường thu được từ quá trình ép nén bột, bột thô, bột mịn hoặc các mẩu vụn của khoai tây.
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể được cải thiện bằng cách cho thêm một lượng rất nhỏ chất chống oxy hoá, chất nhũ hoá hay vitamin.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các sản phẩm được cho thêm một số chất thay đổi đặc tính của chế phẩm khoai tây.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Khoai tây mới chỉ được làm khô đơn giản, được phơi khô hoặc tách nước, mà không được chế biến thêm (nhóm 07.12).
(b) Tinh bột khoai tây (nhóm 11.08).
(c) Những sản phẩm thay thế tinh bột sắn được làm từ tinh bột khoai tây (nhóm 19.03).
1106.10 - Từ các loại rau đậu khô thuộc nhóm 07.13
1106.20 - Từ cọ sago hoặc từ rễ hoặc thân củ thuộc nhóm 07.14
1106.30 - Từ các sản phẩm thuộc Chương 8
(A) Bột, bột thô và bột mịn của các loại rau đậu khô thuộc nhóm 07.13.
Nhóm này gồm bột, bột thô và bột mịn được làm từ đậu Hà lan, đậu hạt hoặc đậu lăng; chủ yếu được dùng vào việc nấu súp hoặc quấy bột.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bột đậu tương chưa được tách dầu (nhóm 12.08).
(b) Bột quả minh quyết (nhóm 12.12).
(c) Súp và nước xuýt (ngay cả ở dạng lỏng, rắn hoặc bột), có thành phần cơ bản là bột hoặc bột thô của rau (nhóm 21.04).
(B) Bột, bột thô và bột mịn của cọ sago hoặc từ rễ, củ hoặc thân củ thuộc nhóm 07.14.
Các sản phẩm này thu được từ việc nạo hoặc xay lõi cọ sago hoặc rễ của củ sắn khô... Một số trong những sản phẩm này thường được xử lý bằng nhiệt trong quá trình chế biến để loại bỏ các độc tố; quá trình này có thể làm hồ hoá sơ bộ tinh bột.
Nhóm này không bao gồm loại tinh bột thu được từ các nguồn này (cần lưu ý rằng tinh bột từ cọ sago đôi khi được gọi là “tinh bột sago”). Những loại tinh bột này được phân loại vào nhóm 11.08 và có thể phân biệt với loại bột thuộc nhóm này, vì bột, khác tinh bột, không bị vụn khi ta lấy 2 ngón tay bóp. Các loại bột, bột thô, bột mịn của cọ sago hoặc của các loại rễ, củ hoặc thân củ thuộc nhóm 07.14 được ép dưới dạng viên cũng không được phân loại vào nhóm này (nhóm 07.14).
(C) Bột, bột thô và bột mịn của các sản phẩm thuộc Chương 8.
Các loại quả hoặc quả hạch (nut) chủ yếu thuộc Chương 8 thường được làm thành bột, bột thô hoặc bột mịn là hạt dẻ, hạnh nhân, chà là, chuối, dừa và me.
Nhóm này cũng bao gồm bột, bột thô và bột mịn của các loại vỏ quả.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm loại bột me được đóng gói để bán lẻ dùng để phòng hoặc chữa bệnh (nhóm 30.04).
Những sản phẩm thuộc nhóm này có thể được cải thiện nếu được thêm một lượng rất nhỏ chất chống oxy hoá hoặc chất nhũ hoá.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Lõi cây cọ sago (nhóm 07.14).
(b) Thực phẩm chế biến sẵn được biết đến như bột sắn (nhóm 19.03).
1107.10 - Chưa rang
1107.20 - Đã rang
Malt là hạt nảy mầm (chủ yếu từ lúa đại mạch), sau đó thường được làm khô trong các lò khí nóng (lò sấy malt).
Malt có những vệt nhăn mờ chạy từ đầu này đến đầu kia hạt và có màu trắng bên trong và vàng nâu bên ngoài. Malt để lại các vạch dấu hiệu như phấn và, không giống hạt chưa là malt, malt thường nổi trên bề mặt nước và cũng bở. Malt có mùi đặc trưng của hạt được nấu chín và có vị ngọt nhẹ.
Nhóm này bao gồm malt nguyên dạng, nghiền vụn và bột. Nhóm cũng bao gồm loại malt đã rang (ví dụ, được sử dụng tạo màu cho bia), tuy nhiên nhóm này không bao gồm những sản phẩm đã qua những công đoạn chế biến thêm, như chiết xuất malt và chế phẩm thực phẩm của chiết xuất malt thuộc nhóm 19.01 và cả các loại malt đã rang được dùng làm chất thay thế cà phê (nhóm 21.01).
- Tinh bột:
1108.11 - - Tinh bột mì
1108.12 - - Tinh bột ngô
1108.13 - - Tinh bột khoai tây
1108.14 - - Tinh bột sắn
1108.19 - - Tinh bột khác:
1108.20 - Inulin
Tinh bột, về tính chất hóa học là các carbohydrate, có trong các tế bào của các sản phẩm rau. Nguồn quan trọng chủ yếu của tinh bột là các loại hạt ngũ cốc (ví dụ như ngô, lúa mỳ và gạo), một số loại địa y nhất định, một số loại thân rễ củ và rễ củ (khoai tây, sắn, dong...) và lõi cọ sago.
Tinh bột là bột trắng không mùi gồm các hạt nguyên chất dễ vỡ vụn khi lấy ngón tay bóp. Cùng với iốt tinh bột thường có màu xanh da trời sẫm (trừ các loại tinh bột amylopectin, có màu nâu đỏ). Quan sát dưới kính hiển vi dưới ánh sáng phân cực, các hạt li ti hiện ra dưới dạng dấu thập đen rất đặc trưng. Không tan trong nước lạnh, nhưng, nếu nước nóng trên nhiệt độ hồ hoá (60°C với hầu hết các loại tinh bột), tinh bột bị phá vỡ và trở thành bột nhão. Tinh bột thương phẩm gồm nhiều loại được phân loại ở các nhóm khác, như tinh bột biến tính, tinh bột sấy hoà tan, dextrin, malto-dextrin, dextrose và glucoza. Tinh bột cũng được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp thực phẩm, giấy, chuyển đổi giấy và dệt.
Nhóm này cũng bao gồm cả inulin; nó có thành phần hoá học tương tự với tinh bột tuy nhiên khi cho vào iốt không đổi màu thành xanhmà có màu nâu vàng nhạt. Inulin được chiết xuất từ a-ti-sô Jerusalem, củ thược dược và rễ rau diếp xoăn. Khi thuỷ phân lâu trong nước sôi sẽ tạo thành fructose (laevulose).
Ngoài các loại khác, nhóm này không bao gồm:
(a) Chế phẩm tinh bột thuộc nhóm 19.01.
(b) Tinh bột sắn và các sản phẩm thay thế chế biến từ tinh bột (xem Chú giải nhóm 19.03).
(c) Tinh bột sử dụng trong sản xuất nước hoa và các chế phẩm vệ sinh (toilet preparation) (Chương 33).
(d) Các loại dextrin và tinh bột biến tính khác thuộc nhóm 35.05.
(e) Keo sản xuất từ tinh bột (nhóm 35.05 hoặc 35.06)
(f) Nước bóng hoặc chất xử lý hoàn tất đã điều chế làm từ tinh bột (nhóm 38.09).
(g) Amylopectine và Amylo tách riêng thu được sau quá trình phân đoạn tinh bột (nhóm 39.13).
Gluten được chiết xuất từ bột mỳ bởi quá trình phân tách đơn giản trong nước từ các thành phần khác nhau (tinh bột...). Chất này hoặc ở dạng lỏng hoặc sệt màu hơi trắng (gluten "ẩm") hoặc có dạng bột màu kem (gluten khô).
Về cơ bản, chất này bao gồm một hỗn hợp các loại protein, mà những protein chính là gliadin và glutenin (chiếm từ 85 đến 95% của hỗn hợp). Sự hiện diện của hai loại protein này là đặc trưng của gluten lúa mì, khi trộn gluten với nước theo một tỷ lệ nhất định, nhờ có hai loại protein này mà gluten có tính đàn hồi và mềm dẻo.
Gluten chủ yếu được sử dụng để làm giàu protein cho các loại bột dùng trong chế biến bánh mì hoặc bánh bích quy, macaroni hoặc các sản phẩm tương tự hoặc chế phẩm ăn kiêng. Chất này cũng được sử dụng như một chất kết dính trong một số chế phẩm thịt, trong sản xuất hồ dán hoặc các sản phẩm như gluten sulphate hoặc gluten phosphate, các protein thực vật thuỷ phân hoặc mỳ chính.
Ngoài các loại khác, nhóm này không bao gồm:
(a) Bột lúa mì được làm giàu bằng cách cho thêm gluten (nhóm 11.01).
(b) Các protein chiết xuất từ gluten lúa mì (nhóm 35.04).
(c) Gluten lúa mì chế biến dùng làm hồ dán hoặc nước bóng hoặc chất xử lý hoàn tất trong công nghiệp dệt (nhóm 35.06 hoặc 38.09).