Khi đọc các Chú giải chi tiết của Chương này cần phải kết hợp xem xét với Chú giải tổng quát của Phần XI.
Nhìn chung, và một số ngoại lệ đã được đề cập tại Chú giải chi tiết của nhóm 53.05, Chương này đề cập các nguyên liệu dệt gốc thực vật (trừ nguyên liệu bông) ở các cấp độ chế biến khác nhau, từ nguyên liệu thô cho đến khi tạo thành vải dệt thoi.
Chương này cũng bao gồm sợi giấy và vải dệt bằng sợi giấy, và các sản phẩm có pha nguyên liệu dệt tương tự như các sản phẩm của Chương này theo quy định của Chú giải 2 Phần XI.
5301.10 - Lanh, dạng nguyên liệu thô hoặc đã ngâm
- Lanh, đã tách lõi, đã đập, đã chải hoặc gia công bằng cách khác, nhưng chưa kéo thành sợi:
5301.21 - - Đã tách lõi hoặc đập
5301.29 - - Loại khác
5301.30 - Tô (tow) lanh hoặc phế liệu lanh
Lanh có nhiều loại khác nhau, quen thuộc nhất là loại Linum usitaissinum. Các xơ lanh có trong cây ở dạng chùm xơ libe rắn chắc được liên kết với nhau bằng chất pectic. Để dùng trong công nghiệp dệt, các xơ này phải được phân tách riêng biệt và tách từ phần còn lại của cây, đặc biệt là từ lớp gỗ bên trong thân cây.
Nhóm này bao gồm lanh thô, lanh đã ngâm, lanh đã đập, lanh đã chải hoặc gia công bằng cách khác nhưng chưa kéo thành sợi.
(A) Lanh dạng nguyên liệu thô (flax straw).
Là loại lanh đã thu hoạch, đã hoặc chưa chải hoặc làm sạch (lá và hạt đã được loại bỏ).
(B) Lanh đã ngâm.
Khi ngâm người ta loại ra phần lớn chất pectic bao quanh sợi lanh, bằng phương pháp làm lên men (bằng hoạt động vi sinh vật hoặc nấm mốc) hoặc bằng hoá chất. Quá trình này thường tiến hành bằng một trong các cách sau:
(1) phơi cây ngoài sương hoặc nơi ẩm ướt;
(2) ngâm cây ở nơi suối chay nhẹ hoặc sông, hoặc trong hào nước đọng hoặc trong vũng nước;
(3) ngâm cây trong thùng rộng có nước ấm; hoặc
(4) xử lý cây trong hơi nước hoặc với hoá chất, hoặc men vi sinh.
Lanh đã ngâm sau đó phơi ngoài trời hay bằng phương pháp cơ học. Các xơ sau đó rã ra từ phần gỗ trong thân cây và từ các phần khác sẽ được tách bằng cách làm mềm và đập.
(C) Lanh đã đập.
Trước tiên lanh được ép để phá vỡ phần gỗ thành các miếng. Sau đó lanh được đập, phần gỗ được đập bằng tay hoặc bằng cơ học, đến khi các xơ lanh tách ra. Một bó xơ ngắn và phế liệu được tạo thành trong quá trình này.
(D) Lanh đã bông hoá.
Trong quá trình này, đầu tiên lanh nguyên liệu dạng thô được đun trong dung dịch hydroxide natri và sau đó được ngâm với natri cácbonat; nó được tiếp tực xử lý với axit loãng, khi thân cây bị phân hủy bằng giải phóng khí đioxit cacbon, làm cho những xơ lanh được tách ra. Lanh được xử lý như trên không cần phải qua công đoạn ngâm hoặc đập. Lanh đã bông hoá được tẩy trắng thông thường.
(E) Lanh đã chải kỹ.
Công đoạn chải kỹ là tách các chùm xơ libe và đặt các xơ nằm song song, đồng thời loại bất kỳ các điểm tạp lạ còn lại và xơ ngắn hoặc xơ bị đứt bất kỳ (machine tow). Lanh thường có dạng chùm xơ tơi liên tục khi ra khỏi máy chải. Các xơ sau đó được đi qua bộ phận kéo duỗi và được nhìn thấy như là cúi chải liên tục. Các cúi chải này được đi qua công đoạn ghép và kéo dài và chuyển thành sợi thô. Cúi và sợi thô được phân loại trong nhóm này nếu chưa được kéo thành sợi. Trong giai đoạn cuối cùng, các sợi thô có thể được kéo dài và có độ dày xấp xỉ như độ dầy của sợi đơn, thông thường chúng được xoắn nhẹ nhưng vẫn chưa được phân loại ở đây và không được coi là sợi đơn thuộc nhóm 53.06.
(F) Xơ lanh dạng ngắn và phế liệu lanh (kể cả phế liệu sợi và nguyên liệu sợi tái chế).
Xơ lanh dạng ngắn thường gồm các loại phế liệu lanh có chất lượng khác nhau thích hợp cho việc kéo sợi; xơ lanh dạng ngắn chủ yếu bao gồm các xơ ngắn, xơ gút nối, xơ bị đứt hoặc xơ rối thu được trong các quá trình gia công khác nhau như đập, chải kỹ và kéo sợi.
Nhóm này cũng bao gồm phế liệu sợi thu được trong quá trình kéo sợi, guồng hoặc dệt, và xơ phế liệu thu được do xé các mảnh vải phế liệu hoặc các mặt hàng hoàn thiện thành các xơ hợp phần; những xơ phế liệu này thường được dùng để kéo lại thành sợi.
Lưu ý, do độ ngắn của các xơ hợp phần, nên xơ lanh dạng ngắn và phế liệu lanh (mà được dùng để kéo sợi) thường được chải thô và không được chải kỹ. Cúi và sợi thô thu được sau khi chải thô cũng thuộc nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm các phế liệu lanh không thích hợp cho việc kéo sợi, chủ yếu thu được trong quá trình chải thô hoặc đập, và được dùng để nhồi hoặc để đệm, như chất liên kết trong xây dựng hoặc sử dụng như các nguyên liệu dạng thô trong sản xuất giấy các loại.
Những sản phẩm đề cập trên đây dù đã được hoặc chưa được tẩy hoặc nhuộm thì vẫn thuộc nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các mẩu gỗ tạo thành trong quá trình đập (nhóm 44.01).
(b) Các nguyên liệu xơ lanh gốc thực vật đôi khi được biết như là lanh Ấn Độ (Abroma augusta) (nhóm 53.03) và gai hoặc lanh New Zealand (Formium tenax) (nhóm 53.05).
o
o o
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 5301.21
Phân nhóm này gồm cả lanh đã đập thu được từ sợi lanh thô.
5302.10 - Gai dầu, dạng nguyên liệu thô hoặc đã ngâm
5302.90 - Loại khác
Nhóm này chỉ bao gồm gai dầu (Cannabis sativa L.), loại cây sống ở nhiều vùng có chất đất khác nhau và khí hậu đa dạng. Các xơ có trong lớp vỏ cây và được tách bởi các quá trình tương tự như đối với lanh (xem Chú giải chi tiết nhóm 53.01).
Nhóm này bao gồm:
(1) Gai thô đã được thu hoạch, đã hoặc chưa ngắt lá và tách hạt.
(2) Gai đã ngâm trong đó các xơ vẫn gắn với phần thân gỗ của cây, nhưng đã được nới lỏng bằng cách ngâm.
(3) Gai đã đập, bao gồm các xơ đã được tách, đôi khi có chiều dài 2m hoặc trên 2 m, được tách ra từ cây bằng cách đập.
(4) Gai đã chải kỹ hoặc các dạng xơ gai khác đã chuẩn bị cho kéo sợi, thông thường ở dạng cúi (sliver) hoặc sợi thô (roving).
(5) Xơ gai thô và phế liệu gai. Loại này bao gồm các phế liệu thu được trong quá trình đập hoặc chải kỹ, sợi phế liệu thu được trong quá trình kéo sợi, dệt vải, v.v ... và nguyên liệu tái chế thu được từ đầu mẩu, đoạn đứt của dây thừng hoặc chão bện, v.v... Xơ gai và gai phế liệu được phân loại ở nhóm này hoặc thích hợp dùng để kéo thành sợi (có dạng hoặc không có dạng cúi sợi (sliver) hoặc dạng sợi thô (roving)), hoặc thích hợp chỉ dùng như nguyên liệu lót, độn, nhồi nhét, làm giấy...
Việc tinh chế (đôi khi, tương tự như áp dụng với lanh), việc tẩy hoặc nhuộm không làm ảnh hưởng tới việc phân loại trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các nguyên liệu sợi thực vật khác đôi khi được biết như các loại gai, ví dụ:
(1) Gai Tampico (nhóm 14.04 hoặc 53.05)
(2) Gai Gambo hoặc gai Ambari (Hibiscus cannabinus), gai Rosella (Hibiscus sabdariffa), gai abutilon hoặc đay Trung quốc (Abutilon avicennae), Ấn Độ, Sunn, Madaras, Calcutta, Bombay hoặc gai Benares (Crotalaria juncea) và gai Queensland (Sida) (nhóm 53.03).
(3) Gai Haiti (Agave foetida), gai Manila (chuối abaca), gai Mauritus (Fucraea gigantea) và gai New Zealand hoặc lanh (Phormium tenax) (nhóm 53.05).
(b) Phần gỗ cứng của cây đã bị tách trong quá trình đập (nhóm 44.01).
(c) Sợi gai dầu (nhóm 53.08).
(d) Các đầu mẩu, đoạn đứt của đây xe hoặc chão bện (Chương 63).
5303.10 - Đay và các loại xơ libe dệt khác, dạng nguyên liệu thô hoặc đã ngâm
5303.90 - Loại khác
Nhóm này, bao gồm tất cả các loại sợi dệt lấy từ thân các loại cây có mầm 2 lá, trừ các loại lanh (nhóm 53.01), gai dầu (nhóm 53.02) và gai ramie (nhóm 53.05).
Các loại xơ libe dệt được phân loại ở đây mềm mại hơn so với hầu hết các loại xơ thực vật của nhóm 53.05 và cũng mịn hơn.
Xơ của nhóm này bao gồm:
(1) Đay thiên nhiên, gồm hai chủng loại chính là đay Corchorus capsularis hay đay trắng và đay Corchorus clitorius hay đay đỏ, cũng được biết như Tossa.
(2) Hibiscus cannabinus, được biết trong thương mại như gai Hibiscus, gai Gambo, đay Siam, Kenaf, Bimlipatam hay đay Bimli, gai Ambari, Papoula de sao Francisco, Dah, Meshta, v.v.
(3) Hibiscus sabsariffa, được biết trong thương mại như gai Roslle hay Rosella, đay Siam, đay Kenaf, Java, v.v...
(4) Abutilon avicennae, được biết như gai abutilon, đay China, Tien-Tsin, Ching-ma, King - ma, v.v...
(5) Xơ của cây đậu chổi (Broom), từ vỏ cây đậu chổi Tây Ban Nha Spanish broom (Spartium junceum) hoặc cây đậu chổi thông thường common broom (Cytisus scoparius).
(6) Urena lobata và Urena sinuata, là loại được biết với nhiều tên khác nhau, tùy theo có nguồn gốc từ nước nào: đay Côngô, đay Madagascar hoặc Paka, Malva blanca hoặc Cadillo (Cuba), Guaxima, Armina hoặc Malva roxa (Brazin), Caesarweed (Florida).
(7) Crotalaria juncea, được biết như gai Ấn Độ, Sunn, Madras, Calcutta, Bombay hay Benares hoặc đay Julburpur.
(8) Sida, chủ yếu được biết như gai Escobilla, Malvaisco, Queensland hoặc đay Cuba.
(9) Thespesia, được biết như Polompon (Việt Nam).
(10) Abroma augusta, được biết như bông Devil hoặc lanh Ấn Độ.
(11) Clappertonia ficifolia, được biết như đay Punga (Côngô) hoặc Guaxima (Bra-xin).
(12) Triumfetta, được biết như đay Punga (Côngô) hoặc Carapicho (Bra-xin).
(13) Nettles.
Nhóm này bao gồm :
(I) Các xơ nguyên liệu dạng thô (trong những thân cây, chưa được ngâm hoặc được bóc); xơ đã ngâm; xơ đã bóc (được bóc bằng máy), như là các xơ dài từ 2m trở lên, lấy từ thân cây bằng cách ngâm và bóc; “các phần mẩu” (phần cuối của các xơ được cắt bỏ và được mua bán riêng lẻ). Tuy nhiên, các nguyên liệu gốc thực vật, khi ở dạng nguyên liệu thô hoặc ở dạng nằm trong Chương 14 (ví dụ, thân của cây đậu chổi), được phân loại ở đây chỉ khi chúng đã qua xử lý theo yêu cầu việc sử dụng để chỉ ra rằng chúng được dùng như là như các nguyên liệu dệt (ví dụ: khi chúng được ép, được chải thô hoặc được chải kỹ để chuẩn bị kéo sợi) .
(II) Xơ đã được chải thô hoặc chải kỹ hoặc được gia công cách khác để kéo sợi, thường ở dạng cúi.
(III) Sợi thô dạng ngắn hoặc phế liệu sợi thu được chủ yếu trong quá trình chải thô hoặc chải kỹ các sợi libe; các phế liệu sợi libe được tách trong khi kéo hoặc dệt, v.v... và nguyên liệu sợi tái sinh thu được từ các đầu mẩu, đoạn đứt của dây thừng hoặc chão bện. Xơ dạng ngắn và phế liệu được phân loại ở đây có thể dùng kéo thành sợi (có dạng cúi sợi (sliver) hoặc không) hoặc thích hợp dùng như các nguyên liệu để bít hoặc nhồi hoặc đệm lót, làm nỉ, hoặc làm giấy, v.v...
Việc tẩy trắng hoặc nhuộm không ảnh hưởng đến việc phân loại sản phẩm thuộc nhóm này.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Thân của các loại cây đậu chổi (nhóm 14.04).
(b) Xơ dạng ngắn, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ dùng trong y tế, giải phẫu (nhóm 30.05).
(c) Sợi đay hoặc sợi từ các sợi xơ libe dệt khác thuộc nhóm này (nhóm 53.07).
(d) Các đầu mẩu, các đoạn đứt của thừng, cáp, chão bên (Chương 63).
Nhóm này bao gồm các sợi dệt gốc thực vật thu được từ lá hoặc quả của một số loại cây có một lá mầm (ví dụ như: cây dừa, cây chuối (abaca) hoặc cây xi-dan) hoặc, đối với xơ gai ramie, lấy từ thân của các loại cây 2 lá mầm thuộc họ urticaceae, chưa được nêu hay chi tiết ở bất kỳ nhóm nào khác.
Những sợi này đa số thô và dày hơn các sợi dệt libe thuộc nhóm 53.03.
Thông thường, chúng được phân loại ở đây cho dù ở dạng thô, chuẩn bị kéo sợi (ví dụ: đã chải thô hoặc chải kỹ thành cúi sợi) hay ở dạng bó xơ dạng ngắn hay phế liệu sợi (thu được chủ yếu trong lúc chải kỹ), phế liệu sợi (thu được chủ yếu trong lúc kéo sợi hoặc dệt) hay nguyên liệu tái chế (thu được từ các đầu mẩu, đoạn đứt của thừng hoặc chão bện...).
Tuy nhiên, các sợi thu được từ nguyên liệu gốc thực vật (là nguyên liệu thô hoặc ở các dạng khác) thuộc Chương 14 (cụ thể là kapok), được phân loại ở đây chỉ khi chúng đã qua xử lý theo yêu cầu việc sử dụng như nguyên liệu dệt... khi chúng đã được ép, chải thô hoặc chải kỹ để chuẩn bị cho kéo sợi.
Các sợi dệt từ gốc thực vật đã phân loại ở đây bao gồm:
Xơ dừa. Xơ dừa thu được từ vỏ ngoài của quả dừa, chúng thô, cứng và màu nâu. Các xơ dừa được phân loại ở đây dù ở dạng nắm hoặc bó.
Xơ chuối Abaca: Các xơ chuối Abaca (hoặc xơ gai Malina) thu được từ lớp vỏ phần cuống của lá một loại cây chuối (gai Musa textilis Nee) được trồng chủ yếu ở quần đảo Philippins. Các xơ thu được bằng cách dùng dao hoặc máy bóc tách bỏ các chất không phải xơ và được phân loại ở đây dù đã hoặc chưa chải kỹ hoặc chuẩn bị cách khác kéo sợi (tức là, ở dạng cúi sợi hoặc sợi thô).
Các xơ gai Manila chịu đựng rất tốt đối với ảnh hưởng của thời tiết và nước biển và do đó được sử dụng chủ yếu để làm cáp tàu hoặc lưới đánh cá. Chúng cũng được kéo thành sợi để dệt những vải thô hoặc làm viền mũ.
Xơ gai Ramie. Các xơ gai ramie thu được từ sợi libe các loại cây khác nhau, chủ yếu từ chủng Boehmeria tenacissima (Rhea, xơ gai ramie xanh) và Boehmeria nivea (cỏ Trung Quốc, gai ramie trắng). Xơ gai ramie thu được chủ yếu từ vùng Viễn Đông.
Các thân cây được cắt sát gốc. Sau khi được sấy qua, chúng cũng được tách bằng tay hoặc máy móc để loại phần vỏ cây và phần gỗ bên trong, xơ gai ramie khi đó thu được có dạng dải dài. Việc tách được thực hiện bởi một quá trình chế biến (thông thường bằng việc đun trong dung dịch kiềm) để loại chất dính pectic mà bao quanh liên kết các xơ gai với nhau. Các xơ cuối cùng được vắt sạch và sấy, và có màu trắng ngọc.
Xơ Alfa hoặc esparto. Các xơ Alfa hoặc esparto thu được từ lá cây. Tuy nhiên, chúng được phân loại ở đây chỉ khi chúng đã được cuốn, ép, chải kỹ hoặc chế biến cách khác theo phương thức để sử dụng cho việc dệt. Các lá chưa được xử lý không nằm trong chương này (Chương 14).
Xơ cây lô hội.
Xơ gai Haiti (Agave foetida).
Xơ cây thùa sợi (Agave fuorcroydes).
Xơ thùa hoặc Ixtle (xơ gai Tampico hoặc xơ gai Mexico). Những loại xơ này, được tách từ cây thùa funkiana hoặc cây thùa Iechugilla, được sử dụng chủ yếu để làm bàn chải và thường phân loại vào nhóm 14.04, nhưng chúng được phân loại vào nhóm này khi chúng đã được chế biến theo phương thức để sử dụng cho việc dệt.
Xơ Maguey hoặc Cantala. Những loại xơ này có nguồn gốc từ cây thùa cantala (Philippin hoặc Indonesia) hoặc cây thùa tequilana (Mexico).
Xơ gai Mauritius (Furcraea gigantea), cũng được biết đến dưới tên gọi piteira (Brazil).
Xơ gai New Zealand hoặc lanh (Phormium tenax)
Xơ than bùn (đôi khi gọi là than bùn Berandine hoặc Beraudine). Các loại xơ này thu được từ than gỗ. Chúng chỉ thuộc nhóm này khi chúng đã qua quá trình xử lý để sử dụng cho ngành dệt; nếu không thì chúng bị loại trừ (nhóm 27.03).
Xơ dứa. Các loại xơ này cũng được biết đến dưới tên gọi như Curana (Amazonas), Pina (Mexico) hoặc Silkgrass, thu được từ lá của các cây dứa thuộc họ Bromeliaceae, chúng cũng bao gồm các loại xơ của Pita floja hoặc Colombia pita hoặc Arghan, Caroa (Brazil), Karates,v.v...
Xơ Pita (Cây thùa Châu Mỹ).
Xơ cây đuôi hổ, cũng được biết đến dưới tên gọi như xơ gai Bowstring hoặc xơ gai Ife.
Xơ cây Xidan (Cây thùa sisalana).
Xơ Typha. Xơ thu được từ lá cây Typha hoặc cây cattail. Không nên lẫn lộn các xơ này với các lông tơ ngắn phủ lên hạt của cây. Loại tơ ngắn phủ lên hạt của cây này thường được sử dụng như vật liệu để nhồi vào các loại áo jacket, đồ chơi, v.v..., và bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 14.04).
Xơ Yucca
Việc tẩy trắng hoặc nhuộm không ảnh hưởng đến việc phân loại của các sản phẩm nhóm này.
5306.10 - Sợi đơn
5306.20 - Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
Nhóm này bao gồm các sợi đơn thu được bằng cách kéo các sợi thô (roving) từ xơ lanh thuộc nhóm 53.01 và sợi xe (folded) hoặc sợi cáp được sản xuất bằng cách kết hợp các sợi đơn đó.
Tuy nhiên, chúng bị loại khỏi nhóm này nếu các sợi trên thuộc phạm vi định nghĩa về dây xe, chão bện, v.v... (nhóm 56.07) (xem Phần (I) (B) (2) của Chú giải tổng quát Phần XI).
Sợi được phân loại trong nhóm này dù được hoặc không được đóng gói để bán lẻ hoặc chế biến cách khác như được nêu tại Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
Sợi trộn kim loại, bao gồm sợi lanh kết hợp với sợi kim loại theo tỷ lệ bất kỳ thì bị loại trừ (nhóm 56.05).
5307.10 - Sợi đơn
5307.20 - Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
Nhóm này bao gồm các sợi, dù là sợi đơn hay sợi xe (folded) thu được bằng cách kéo các cúi sợi từ đay hoặc từ xơ libe dệt khác thuộc nhóm 53.03.
Tuy nhiên, nếu các sợi trên thuộc phạm vi định nghĩa về dây xe, chão bện, dây thừng hoặc sợi cáp (xem Phần (I) (B) (2) của Chú giải tổng quát Phần XI) thì bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 56.07).
Sợi vẫn được phân loại trong nhóm này dù được hoặc không được đóng gói để bán lẻ hoặc được xử lý như nêu tại Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
5308.10 - Sợi dừa
5308.20 - Sợi gai dầu
5308.90 - Loại khác
(A) Sợi từ các loại xơ dệt gốc thực vật khác.
Nhóm này bao gồm các sợi, dù là sợi đơn hay sợi xe, thu được bằng cách kéo các sợi gai dầu thuộc nhóm 53.02, các sợi xe từ gốc thực vật thuộc nhóm 53.05 hoặc các sợi gốc thực vật chưa được phân loại trong Phần XI (cụ thể là Chương 14,..., kapok hoặc istle).
Tuy nhiên, nếu các sợi trên thuộc phạm vi định nghĩa về dây xe, chão bện, dây thừng hoặc sợi cáp (xem Phần (I) (B) (2) của Chú giải tổng quát Phần XI) thì được phân loại trong nhóm 56.07.
Các sợi gai dầu xe được dùng làm chỉ khâu (trong sản xuất sản phẩm giày hoặc da), hoặc dùng để dệt.
Sợi vẫn được phân loại trong nhóm này dù đã hoặc chưa đóng gói để bán lẻ hoặc được xử lý như đã nêu tại Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
Sợi trộn kim loại, bao gồm sợi thuộc nhóm này kết hợp chỉ kim loại theo tỷ lệ bất kỳ bị loại trừ (nhóm 56.05).
(B) Sợi giấy.
Nhóm này bao gồm các sợi, dù là sợi đơn hay sợi xe (folded), được làm từ giấy. Chúng được phân loại ở đây dù đã hoặc chưa đóng gói để bán lẻ, và dù ở dạng hoặc không ở dạng dây xe, chão bện, dây thừng hoặc cáp, nhưng loại trừ thừng, chão và cáp đã được tết bện.
Sợi vẫn được phân loại trong nhóm này dù chúng đã qua hoặc chưa qua xử lý như nêu tại Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
Các sợi đơn thu được bằng cách xoắn hoặc cuộn theo chiều dọc của dải giấy ẩm (đôi khi được thấm tẩm); các sợi xe thu được bằng cách ghép đôi hai hay nhiều sợi đơn.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Giấy (sợi giấy) được gấp đơn giản một hay nhiều lần theo chiều dọc (dài) của giấy (sợi giấy) (Chương 48).
(b) Các sợi giấy được kéo với chỉ kim loại hoặc được bọc sợi kim loại bằng mọi quy trình chế biến (sợi trộn kim loại) (nhóm 56.05) bằng bất kỳ phương pháp nào.
(c) Sợi giấy xe thông thường gia cố đơn giản bằng kim loại và chão bện, thừng và cáp đã được tết bện làm từ sợi giấy (nhóm 56.07).
- Có hàm lượng lanh chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng:
5309.11 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5309.19 - - Loại khác
- Có hàm lượng lanh chiếm dưới 85% tính theo khối lượng:
5309.21 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5309.29 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các vải dệt thoi (như đã định nghĩa tại Phần (I) (c) của Chú giải tổng quát Phần XI) được làm từ sợi lanh.
Những loại vải này bao gồm những nguyên liệu tốt làm quần áo lót phụ nữ và váy áo, các nguyên liệu dùng làm ga trải giường, khăn trải bàn,... Vải lanh cũng dùng làm bọc đệm, bao tải, vải bạt, buồm,...
Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05) bị loại trừ khỏi nhóm này.
5310.10 - Chưa tẩy trắng
5310.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các vải dệt thoi (như đã xác định tại Phần (I) (C) của Chú giải tổng quát Phần XI) làm bằng sợi đay hoặc từ các loại xơ libe dệt khác thuộc nhóm 53.03
Vải đay được dùng làm bao tải hoặc vỏ bao bì, như là vải nền để sản xuất vải sơn/đầu (linoleum), làm đồ dùng nội thất bằng sợi lanh...
Nhóm này bao gồm các vải dệt thoi (như đã định nghĩa tại Phần (I) (C) của Chú giải tổng quát Phần XI) làm từ các sợi thuộc nhóm 53.08
Những loại vải này được dùng chủ yếu để làm bao bì, vải căng buồm, để sản xuất vải bạt, bao tải, vải lót bàn, chiếu thảm, như là vải nền để làm vải sơn/dầu,...
Nhóm này không bao gồm vải dệt làm bằng cách đan bện các dải giấy (nhóm 46.01).