Hạ Ngươn và Thượng Ngươn Phú


Hạ Ngươn và Thượng Ngươn Phú

Đông Phương Sóc


Hạ Ngươn Kỷ Niệm Phú


Mắt thấy Hạ Ngươn một việc, Lòng khen thượng trí Tam Kỳ.

Chữ phê rằng kỷ niệm tu my, Lời đồn rực cuộc Trung Ương đại hội.

Nước có nguồn, cây có cội; Trời công bình, trao gánh nặng cho bực Thiên Ân,

Tiền là quả, hậu là nhân ; người sum hiệp, mới thỏa lòng ngâm câu nhơn nguyện.

Người trí thức, thông điều u hiển; dứt phàm tâm, lo phận sự, chí ân cần cho cận diệt viễn lai.

Đạo chinh nghiên, chọn kẻ anh tài; ban Thánh Huấn, lập qui điều, lời khuyến dụ mông thượng hòa hạ lục.

Chốn phàm tục, mà quyết lòng thoát tục; lịnh ban vừa ráo tiếng, xa nhứt tâm, gần nhứt đức, lập cảnh Tiên, vầy bạn Thánh; phong quan nhìn rực rỡ vẻ y câu.

Cảnh hồng trần, lại diệt tánh mê trần; nền Định mới vừa yên, trên đồng chí, dưới đồng lòng, tưởng Đức Phật, đội Ơn Trời; thiện tín thảy xôn xao dường thủy bộ.

Cá dựa bờ, chim dựa tổ, lẽ tự nhiên, người ngay dựa với Chủ Nhơn Ông.

Giàu nhờ của, khó nhờ công, việc chánh đáng, Đạo tỏ nhờ nơi Minh Lý Hội.

Lửa thử thét, vàng thau mới nổi; xám là chì, đen là kẽm, xanh là bạc, đỏ là đồng: bạc, chì, đồng, kẽm thảy phơi màu.

Gió sàng dê, trấu lép vừa rao; trộng là cội, nhẹ là rơm, nát là bụi, vụng là tấm: bụi, cội, tấm, rơm đều trổ mặt.

Cơ Trời nháy mắt, dựng cuộc phổ thông,

Lũ quỷ đau lòng, gài mưu phá hoại.

Trời thường dạy: gìn lòng Bác Ái; Luật Công Bình, Tạo Hóa chẳng lầm cân.

Phật hằng khuyên: bỏ tánh tham sân; Thuyền tế độ, Từ Bi không đợi nước.

Mưu mưu, chước chước,

Tính tính, lo lo.

Đỏ, vàng, xanh, báu Thái Cực Đồ;

Đen, trắng, tím, ngôi Vô Vi Cảnh.

Thông được chữ: thế gian bào ảnh; cải mà chi, sửa đổi lại mà chi; sửa đổi sao qua khỏi máy kiền khôn.

Rõ được câu: Thiên Mạng Vi Tôn; tuân thì được, nghe theo thì ắt được; tuân nghe phải xuôi theo cơ vận chuyển.

Nghiệm Thánh Huấn: Tề nhứt biến, Lỗ nhứt biến; áy Mạng Trời hằng biến cải mị thường.

Thương phàm tâm: nghi thiên phương, viễn thiên phương; mà Chơn Lý cứ phương trương tự toại.

Bớt lòng ái ngại,

Dẹp dạ hồ nghi.

Một việc làm chớ gọi vô tri; xét mà coi: kìa Thiên tri, Địa tri, quỷ thần tri.

Một việc tưởng chớ cho rằng thượng kế; e phải mắc: kìa ly kế, mị kế, vọng, lượng kế.

Bốn người minh thệ.

Năm vị Thiên Sư.

Một tiếng Đại Từ.

Trăm bài Thánh Huấn.

Đuốc Chơn Lý ngày ngày đắc thắng; năm Thiên Sư lòng chớ rẻ đôi.

Cảnh Trung Ương bửa bửa vun bồi; hai Chưởng Quản chí mau hiệp một.

Lời tục ví: mía sâu có đốt, trẻ đổi đốt mới yên.

Chữ kinh rằng: Phật hóa hữu duyên, ai vô duyên thì chịu.

Chớ nghịch mạng rắn rồng mà lếu, xem qui điều đủ khoảng mười lăm.

Đừng ỷ tài gà phụng mà lầm, đợi Thiên ý chọn người hâm bốn.

Điển ma lộn, điển Trời đâu có lộn;

Kinh điển Trời, hóa lộn lấy mình.

Luật người khinh, luật Thánh dể nào kinh;

Lộn luật Thánh, làm khinh cho Đạo.


Kệ rằng:


Đạo sanh Trời Đất biết tròn vuông,

Nào dễ ai làm cái mẫu khuôn,

Tam nhứt, tam tam, tam thập lục,

Muốn thông cho trọn đến non Côn.


Đông Phương Sóc



Thượng Ngươn Phú


Xuyên châu liên hương điệu

Dỉ, bương bước lần bực, may lối vô được, Ham, chỉ chừng thiệt hơn, dắc đường dạo chơn, cổ cầm sánh dương, vi vận.

Trích từ phước tầm Ngô Giáng Tiên, phú. Ngũ hồ cô nhứt tiếu, điệu.


Nhập đề:

Hội Thượng Ngươn nhứt phẩm, người mừng ca Thánh thọ vô cương; (bương)

Lệ trung giái tứ phương, lễ ứng chực Thiên quan tứ phước. (bước)

Gái dầu đèn, trai sáp đuốc, ngược xuôi lo trả nợ quỷ thần; (lần)

Già ngọ cúng, trẻ hương dưng, tở mở tính kể ơn Trời Phật. (bực)

Tôm, vịt, thịt, tam xê lễ chất, dưới xê lên, trên xích xuống, đua dường quỷ chực dàn chay; (may)

Chuối, bánh, xôi, dục cúng cổ bày, kẻ lấn tới, người xô lui, chúc tợ trẻ dòm rạp bội. (lối)

Phiên tào kê, phiên chủ hội, lên thì nhan đèn, xuống thì cứ việc tụng nam mô; (vô)

Lớp tín chủ, lớp tăng đồ, trước hể quỳ lạy, sau hể thấy mòi coi bắt chước. (được)

Vái van càn lấy được, hước xin hùa, hùa xin niệt, cầu ngài yết, liếc ông sư, bột hiền từ, màu đỉnh đạt, phát phái đỏ, xỏ quai xanh, khoanh giấy vàng, tràng son thấm, cấm lằng nhằng giái ngũ qui tam; (Ham)

Vay trả chả tham lam, ham số vốn, bộn số lời, của Phật Trời, nơi bổn phố, tiếng mượn mỏ, thể chung càng, dùng pháo hồng, bông giấy bạc, khoát sổ trắng, rặn chữ đen, biên ắt chất giáp năm bội nhị. (chỉ)

Cho vay chưa mấy quỉ;

Đoán xâm mới thiệt thần. (chừng)

Một năm có một lần, coi xâm một thử coi cho biết; (thiệt)

Trăm quẻ đều trăm quyết, cá tiền trăm cũng cá chẳng sờn. (hơn)

Bụng cầu Trời tai lóng như đờn;

Lòng dối thế miệng ngon tợ mật. (dắc)

Bề ăn ngay ở thật, sao không lo tích đức tu nhơn; (đường)

Thế so thiệt tính hơn, sao chẳng sợ luân hồi quả báo. (dạo)

Lời trên đà dặn bảo; Khuyên dưới chớ khinh lờn. (chơn)

Chớ tu vào kiếm thọ đao sơn; Phải tu đến Liên Đài tịnh thổ. (cổ)

Ớ ai ham mộ; Muốn thiện Tu Tâm. (cầm)

Mau đọc lấy bài ngâm; Ta cho đây cho chánh. (sánh)

Trời phú gương minh cảnh; Phước của Hội Thượng Ngươn. (dươn)


Ngâm rằng:


Tu sao chân bước cõi Di Đà,

Tu muốn ngày ngày thấy Thích Ca.

Tu dóc trau mình yên cội nước,

Tu cho rạng đức mới dân nhà.

Tu mong trọn vẹn lòng ngay thảo,

Tu lánh tà tây thói quỷ ma.

Tu quyết một niềm noi Tánh Mạng,

Tu theo đường thẳng thể Thầy ta.


Đông Phương Sóc



Sưu tầm lịch sử về ông Đông Phương Sóc


Wikipedia :

Ông Đông Phương Sóc (khoảng 154 TCN - 93 TCN) là một học giả nổi tiếng ở tỉnh Sơn Đông, cùng thời với Tư Mã Thiên và dưới thời Hán Vũ Đế Lưu Triệt. Ông là một người kì trí đa mưu, tinh thông văn sử, đã giúp cho Hán Vũ Đế diệt trừ các thế lực đen tối ở hậu cung; đồng thời đánh bại các chư hầu âm mưu chia rẽ đất nước. Bên cạnh đó, Đông Phương Sóc còn đưa ra nhiều kế sách được người đời xem như là Y Quốc Mật Phương.Với tài năng thiên phú, Đông Phương Sóc luôn được Hán Vũ Đế trọng dụng nhưng tuyệt nhiên không được phong chức đề bạt. Bản tính hiên ngang, không sợ chết, ông thường dùng những câu chuyện hài hước để châm biếm, đã kích bọn quan tham ô lại. Cũng chính vì thế mà Đông Phương Sóc luôn trở thành cái gai trong mắt bọn quan tham, và chúng đã âm mưu hãm hại ông bằng cách xàm tấu với vua để liệt ông vào dạng lộng thần.