Kinh Thuần Dương Chơn Nhơn


Kinh Thuần Dương Chơn Nhơn


Chào chư Thiên Phong Chức Sắc


Kìa nhựt nguyệt đôi vừng luân chuyển,

Nọ Ngũ hành u hiển giao thông;

Nào là Bác Quái, Cửu Cung,

Vạn thiên tinh tú trùng trùng bủa giăng.


Đạo có Một, một căn, một cội,

Chia làm ba mà mối cũng đồng ;

Chữ rằng : Thiên Địa chí công,

Họa nhơn ác tích, phước tùng thiện duyên.


Thành chánh quả, hoặc Tiên, hoặc Thánh,

Phải trau mình qui chánh, khử tà;

Trong trần bát vạn tà ma,

Đảo điên trước mắt, nếu sa ắc lầm.


Tây phương có Lôi Âm Giáo Chủ,

Huệ nhãn xem khắp đủ năm châu ;

Xa cừ, mã não, trân châu,

Lưu ly, hổ phách, toàn cầu không hai.


Nam phương sẵn Kim Đài, Ngọc Khuyết,

Ngọc Đế quyền định quyết âm dương ;

Âm dương Trời Đất kỷ cương,

Hóa sanh vạn vật phú cường lê dân.


Đông với Bắc phân vân tâm tánh,

Tiên chẳng tiên, Phật Thánh lương khương ;

Quyền sai Đế Thích chủ trương,

Tùy theo thiện ác hai đường xử phân.


Còn một cõi hải quần muôn khóm,

Phật xem dường một xóm yêu tà ;

Để dành dày kẻ tinh ma,

Để dành đày đứa không Cha không Thầy.


Ta giải rõ công Thầy gầy dựng,

Đặng cho đời kỉnh Đấng Chí Tôn ;

Kìa sao vực hóa nên cồn,

Kìa sao biển nổi nên hòn núi cao.


Cõi nhược thủy, bồng dinh chẳng lạ,

Nào phải là vượt quá Năm châu ;

Hễ ai rõ đặng Đạo mầu,

Thiên đàng, Phật quốc đâu đâu cũng gần.


Bài thứ nhứt giải phân năm cỏi,

Bài thứ nhì sẽ nói nguồn cơn ;

Này câu Thánh kệ giác chơn,

Dạy cho hiểu rõ căn dương đầu bài.


Vậy có kệ rằng :


Hỗn độn xưa kia vốn một bầu,

Chia là nhiều khóm, kể Năm Châu,

Rộng Trời nên tách sông nhiều ngọn,

Gom mối chung về áo một bâu.

Ai sẵn kiếp tu, nghe nữa tiếng,

Người không lòng chánh, lóng ngàn thu,

Cạn xin đàn nội Nam hòa Nữ,

Trai giới nghiêm minh sẵn chực hầu.


Thuần Dương Chơn Nhơn

(1935)



Thánh Huấn của Thánh Thất Kiên Gian


Nhơn rảnh lúc bồ đoàn tu luyện,

Khóa động thần dạo viếng Kiên Giang;

Thử xem phong cảnh trần gian,

Tứ dân tứ thú, mùa màng năm nay.


Trời đã định cao dày như một,

Lục tràn bờ chẳng sót nơi nao;

Cảnh Tiên, Tiên gọi rằng cao,

Cảnh trần xem thấy ngạt ngào sanh linh.


Vậy mới biết hư, dinh, tiên, trưởng,

Đều do quyền Giáo Chưởng Sư Tôn;

Khắp trong thế giái kiền khôn,

Đố ai thoát khỏi cái khuôn của Trời.


Cám cõi thế rảo nơi cảnh Phật,

Dưng chút thành cho Đức Từ Bi;

Trông xem Thánh Thất Tam Kỳ,

Vẻ vang, tề chỉnh, còn ghi đành rành.


Cảnh thiệt cảnh thanh nhàn u nhã,

Lại nhằm nơi điền dả phì nhiêu;

Lúa vui ngày Thuấn trời Nghiêu,

Người mừng ca trổi tiêu thiều Thánh ngôn.


Xưa có chữ: “Ngọc Côn, Kiêm Lệ”,

Nay rõ ràng: “Lang Quế Thành Tâm”;

Nào Trời có kém trăng rằm,

Khuyên người gìn giữ quan âm tấc thành.


Dừng gót ngọc xem rành Ngọc Bản,

Thấy rõ ràng: Nhơn, Giảng, Đài, Nghi;

Hỏa dương Bính, Vị hềm chi,

Xui cho Kỷ tỵ đô ty chưa thành.


Mừng đặng thấy chày kinh gióng tỉnh,

Khuyên chúng sanh tu tỉnh kỳ thân;

Trắng trong, trong trắng, trong ngần,

Kim liêng, Ngọc tọa có phần dành sau.


Rày ai chắc ngọc, thau, vàng, đá,

Sau tỏ tường: Kim mã Ngọc đường;

Mới hay Thánh huấn chiêu chương,

Mới hay Thánh Thất đường đường âm dung.


Vài vận mượn thanh phong để tiếng,

Mười câu làm minh kiển thần chung;

Khuyên người: Hiếu, Để, Tín, Trung,

Khuyên người sau trước thỉ chung một lòng.


Thuần Dương Chơn Nhơn