Tâm Tình‎ > ‎

2011-07-15: Cây Vú Sữa

Hồi xưa gia đình tôi ở trong một căn nhà không rộng lớn lắm, cất bằng gỗ và theo kiểu townhouse ở bên Mỹ này.  Nhà tôi là căn nhà đầu trong dẫy nên thấy rộng rãi hơn được một chút.  Bên hông nhà hồi đó có một cây mận rất ít trái, một cây măng cầu, và một cây vú sữa.  Tôi thích nhất là cây vú sữa cao lớn, và ra rất nhiều trái.  Nó xum xuê và có bóng mát che một phần lớn của mái nhà phiá sau.  Đó là nơi chiều chiều tôi hay trèo lên nằm dưới bóng cây vừa đọc truyện vừa ăn những trái vú sữa chín ngọt.  Không biết có phải vì khi còn nhỏ, thấp bé và muốn thấy cuộc đời sớm hơn nên tôi thích trèo lên trên những chỗ cao để chơi.

Trái vú sữa vỏ dầy, có cái hình dáng căng tròn, đầy đặn và hấp dẫn như bộ ngực của người con gái đã dậy thì.  Khi người ta cắt trái vú sữa ra, nó nhỏ ra những hạt nhựa màu trắng như màu sữa.  Mùi vị của trái vú sữa rất ngọt, nhưng không biết có ngọt và béo bổ như sữa mẹ hay không.  Có lẽ vì những đặc điểm đó người ta đã đặt tên cho nó là "cây vú sữa".

Nhà tôi có tám anh chị em.   Tôi là người áp út.  Lúc tôi còn nhỏ cha tôi là thầy giáo dậy bậc tiểu học.  Hầu hết trong nhà tôi ai cũng vừa là con vừa là học trò của ông, nên chúng tôi gọi ông bằng thầy. Sau khi mấy bà chị lớn đã lập gia đình và đã có con cái, người anh lớn của tôi đã đi lính không quân, đóng xa mãi tận Đà Nẵng, trong nhà chỉ còn lại thầy mẹ tôi, môt người chị kế tôi, và người em trai út.  Khi chúng tôi lên trung học thầy tôi làm phó giám thị của một trường trung học tư Công Giáo.

Thầy tôi thường quan tâm về tình hình đất nước.   Ông hay nghe đài VOA và BBC mỗi ngày.  Lúc đó TV chưa có thịnh hành và là một món đồ "xa xỉ phẩm", trong xóm may ra có một hai nhà có TV đen trắng chứ cũng chưa có TV mầu.  Tôi nhớ hồi tết Mậu Thân thấy ông theo dõi tin tức cả ngày, tôi cũng tò mò nằm gần ông để nghe theo vì muốn biết "tình hình" ra sao.  Nghe thấy người ta chết chóc quá nhiều tôi cũng lo sợ cho gia đình tôi.   Nhưng ông trấn an tôi và bảo là những chỗ đó xa xôi chứ không có ở gần nhà tôi.  Ông bảo tôi hãy lo đi chơi với mấy đứa trẻ khác, sau này cố gắng học cho giỏi “để giúp ích cho đất nước”.  Lúc đó tôi mới 11 tuổi, đầu óc còn thiển cận và hẹp hòi. Đối với tôi, học hành cho giỏi trước hết để có tiền mua một cái TV mầu cho cả gia đình coi.  Phục vụ cho đất nước tính sau.  Sau này khi lớn lên, tôi biết được rằng thầy tôi lấy tên của một nhà cách mạng mà đặt tên cho tôi, tôi có ý định hỏi ông nhưng rồi biến cố 1975, sau đó tôi đi học đại học ở Sàigon, rồi đi vượt biên nên quên bẵng hẳn đi.

Năm 1971, thầy mẹ tôi gom góp tiền bạc trong nhà, và nhờ sự giúp đỡ của những bà chị đã lập gia đình để xây lên căn nhà hai tầng, khang trang và rộng rãi hơn.   Nạn nhân là cây vú sữa và bóng mát yêu thích nhất của tôi.  Cho tới bây giờ tôi vẫn còn tiếc cây vú sữa.  Nó không những chỉ là một trong những kỷ niệm thân thương mà dường như là một phần của đời tôi, nó đã phần nào che mát tuổi thơ của tôi.  Cây vú sữa đã cho tôi một chọn lựa để nhờ vào bóng mát của nó để nằm đọc truyện hoặc mơ mộng, thay vì đi chơi với chúng bạn dưới ánh nắng gay gắt của những ngày hè.

Lúc xây nhà tôi mới biết là thầy tôi là người đã vẽ kiểu nhà, khi ông chỉ cho tôi coi hai ba cái họa đồ với khuôn mặt rất đắc chí.   Có lẽ đó là giấc mơ của cả đời ông.  Một căn nhà mới xây theo kiểu của mình đã vẽ ra là chứng cớ cho những gì ông đã đạt được - về cả vật chất lẫn tinh thần.  Chú tôi là người thầu xây cất nên ông đứng ra xây.  Mặc dù hoạ đồ căn nhà chỉ theo cái nhìn từ bên ngoài và sơ sơ về bên trong, chứ không chi tiết, tỉ mỉ từ trong ra ngoài như những hoạ đồ xây nhà (blueprint) chúng ta thấy bây giờ.  Nhưng điều đó cho tôi biết là thầy tôi có đầu óc rất sáng tạo, nhưng ông không bao giờ để lộ ra cho ai thấy.  Tôi có hỏi thầy tôi liệu có cánh nào để giữ lại cây vú sữa, nhưng vì vị trí và cái thân cao lớn của nó, chú tôi và thầy tôi nói không có sự chọn lựa nào khác.  Thế là lần đầu tiên tôi cảm thấy mất mát đi cái gì mình yêu quý rất nhiều trong cuộc đời.

Năm đó tôi đang học lớp chín, cũng đã cao lớn được một chút và đã bắt đầu tuổi mông mơ.   Tôi không cần phải trèo lên trên mái nhà để nhìn đời nữa, mà muốn nhìn mọi người, mọi vật, bằng tầm mắt “người lớn” của mình.  Nhất là muốn nhìn sâu vào cặp mắt của mấy cô con gái xem có cô nào thích mình không.  Nhưng đôi mắt của cô nào trông cũng “mơ huyền mờ” vì sau này tôi mới biết rằng tôi đã bị cận thị ngay từ lúc còn học tiểu học nhưng không biết mà đi cắt kiếng cận.  Lúc đó vào tuổi thanh niên, tôi trở thành cánh tay phải của thầy tôi trong những việc bảo quản nhà cửa và cũng là cánh tay trái của mẹ tôi, là tài xế chở mẹ tôi đi chỗ này chỗ kia.  Thầy tôi đã chỉ cho tôi cách sửa những chuyện lặt vặt trong nhà như thay con chuột/bóng điện, hoặc cưa cả một xe gỗ mua từ nhà máy cưa dùng để nấu bếp.  Ông thường nhắc nhở tôi, “Sĩ kiêm bách nghệ” để khuyến khích tôi học hỏi và làm những điều mới lạ.

Những năm đó bệnh suyễn của ông càng ngày càng nặng.  Mỗi lần ông lên cơn thấy rất là tội nghiệp và tôi phải chạy cuống quít lên đi gọi ông y tá.  Lúc đó phương tiện y tế ở miền tỉnh còn rất eo hẹp, thuốc suyễn cũng không có hiệu lực.  Cách nhanh nhất là nhờ y tá chích cho một mũi thì chỉ một hai phút sau là có thể thở lại bình thường.  Nhưng sau đó thì ông lại đau nhức mình mẩy, cần phải đấm bóp cho nhẹ đi.  Tới khi tôi đi học đại học ở Saigon thì người em trai út thay thế tôi lo chăm sóc cho ông mỗi khi bị cơn suyễn hoành hành.  Cơn bệnh cứ kéo dài như thế thêm hơn hai mươi năm cuối của cuộc đời ông.  Mẹ tôi chạy đầu này đầu kia để lo tiền thuốc vì thầy tôi không còn đi làm nữa sau 1975.  Mấy người chị lớn mỗi người phụ thêm một tay, kể cả số vàng tôi phải trả cho chủ tàu để vượt biên.  Sau này khi tôi đi vượt biên và có tiền phụ giúp một chút ít thì mẹ tôi mới đỡ vất vả được phần nào.

Tôi nhớ lần đầu tiên về Việt Nam thăm gia đình vào cuối năm 1996, sau hơn 16 năm xa cách, thầy tôi đem ra một xấp hình cũ của tôi đã chụp trong những năm còn ở VN.   Trên một số tấm hình có những dòng chữ (caption) bay bướm của chính ông viết ngắn ngủi về ý nghĩa, nội dung cuả mỗi tấm hình.  Đó là những kỷ niệm của thầy tôi đã dành cho tôi trong những năm xa cách để bày tỏ nỗi nhớ thương.  Những gì thuộc về tôi được ông bao bọc kỹ lưỡng, sợ sẽ bị phai nhòa hay mất mát đi.   Trong những phút nói chuyện với tôi, ông kể về cuộc đời cuả ông và những ngày thơ ấu ở ngoài bắc.  Nhưng rất tiếc là cuộc tâm sự giữa hai cha con tôi thường bị gián đoạn bởi khách khứa tới nhà thăm hỏi tôi.  Những hoài niệm về dĩ vãng của một ông già 84 tuổi lúc đó vừa như là những truyền đạt về kinh nghiệm sống, vừa như những lời trăn trối cho một thằng con trai yêu quý mà nó không nhận ra.  Đứa con ông đã từng đặt nhiều kỳ vọng vào, tưởng đã mất đi vĩnh viễn nhưng trước ngày ông nhắm mắt lià đời nay đã trở về.  Ông trao lại cho tôi những tấm hình đó.  Biết thầy tôi thích đồng hồ đeo tay, tôi cởi cái đồng hồ đeo tay rẻ tiền của mình trao cho ông nhưng ông không muốn nhận, nói là tôi cần để xem giờ trên đường về.  Nhưng tôi nhất quyết đeo vào tay ông.  Ông cảm động rơi lệ.  Đó là sự trao đỗi kỷ vật cuối cùng giữa hai cha con tôi.  Có lẽ thầy tôi biết rằng cuộc đời ông từ lúc đó chỉ còn đếm bằng từng giây, từng phút, từng ngày như chiếc đồng hồ đeo tay, chứ không còn được tính bằng năm, bằng thập niên nữa.  Lúc đó tôi đã có khả năng để mua hàng trăm chiếc đồng hồ như thế, nhưng không bao giờ tôi có thể mua lại những giây phút ở gần bên cha mẹ tôi.  Hình ảnh cuối cùng của ba người chúng tôi là hai ông bà đứng nắm tay nhau tiễn tôi lên xe ra phi trường để về Mỹ.  Thầy tôi rưng rưng nhỏ lệ, mẹ tôi bám víu lấy ông sợ ông bị té qụy.  Tôi không dám nhìn lâu mà vội quay mặt đi chỗ khác.

Nếu nói đó là lần tiễn đưa cuối cùng thì quả là thằng con vô lễ vì nó không có tiếng khóc hay nhỏ một giọt lệ nào cho người cha của nó.  Ngược lại, người cha đứng nhỏ lệ tiễn đưa thằng con về với thế giới riêng tư, giàu sang và đầy tiện nghi của nó.  Niềm vui cuối cùng của đời ông là hy vọng được thấy mặt thằng con thêm một lần nữa bắt đầu vượt xa khỏi tầm với của ông, về không gian lẫn cả thời gian.  Nghìn trùng xa cách!

Sáu tháng sau đó, ngày 17 tháng năm, năm 1997, thầy tôi qua đời.  Giòng nước vẫn trôi, cuộc đời tiếp nối.  Trôi đi mãi mãi là những mẩu chuyện về cuộc đời niên thiếu của thầy tôi. Tôi vẫn tự trách mình tại sao không đủ khôn ngoan lúc đó để ghi chép lại những gì ông đã nói.  Tôi trở lại tiếp tục cuộc sống riêng tư nhưng mang nặng một nỗi mất mát về cả tinh thần lẫn vật chất mà không bao giờ có thể lấy lại được. 

Sau khi thầy tôi mất tôi mới nhận ra một trong những điều ông đã tâm sự với tôi có hàm chứa môt ước mơ rất đơn giản.  Đó là “giấc mơ hồi hương”.  Thấy tôi trở về gơi lại cho thầy tôi sống lại những ngày tháng còn trai trẻ khi bỏ quê cha đất tổ từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, nhưng vẫn ấp ủ có ngày trở về.  Hai muơi sáu năm sau đó, năm 1980, tôi theo bước chân ông rời bỏ quê hương để tìm kiếm một cuộc sống tự do nơi xứ người và đã có cơ hội trở về.  Đối với những người còn sức khoẻ thì cuộc hành trình từ Nam ra Bắc không còn là giấc mơ nữa nhưng là việc đi lại bình thuờng.  Nhưng thầy tôi chỉ còn biết ôm ấp trong giấc mơ vì sức khỏe của ông không cho phép ông thực hiện được điều ông mong muốn.  Mỗi khi nghĩ tới điều này tôi thường thấy thất vọng với chính mình và có mặc cảm tội lỗi là đã không có cơ hội và điều kiện để giúp thầy tôi thực hiện được giấc mơ của ông.  Tôi đã có hơn một cơ hội để trở về, nhưng ước mơ đơn giản của thầy tôi, dù chỉ một lần thôi, đã bị cuộc đời từ chối.

Mẹ tôi để lại cho tôi rất nhiều ảnh hưỏng, từ cách xử sự với mọi người đến lối sống đạo đức của bà.   Thầy tôi là người ít nói, nhưng mẹ tôi lại rất bặt thiệp và nhanh nhẹn.  Hồi đó tôi hay gọi bà là bộ trưởng ngoại giao.  Mặc dù là đàn bà trong xã hội Việt Nam, nhất là ở miền quê, ít có dịp ăn nói trước công chúng, nhưng mỗi lần có cơ hội bà ăn nói một cách rất tự nhiên và hoạt bát.  Tôi cũng rất phục mẹ tôi vì cái tài tháo vát và lòng quảng đại của bà.  Bà không chỉ nói mà làm những gì bà đã dậy anh chị em chúng tôi.  Bà dậy chúng tôi là trong cuộc sống phải biết kính trọng người khác, bất kể giầu nghèo, và phải có lòng thương người. Trong áo bà lúc nào cũng để sẵn một số tiền trong một cái túi riêng để cho những người "ăn mày".  Đương nhiên ở đời không có ai hoàn toàn và thánh thiện một trăm phần trăm.  Có những lúc mẹ tôi buồn, lo lắng, hoặc bực mình, nhưng ít khi tôi thấy bà biểu lộ ra trên khuôn mặt.  Lúc nào trông bà cũng vui vẻ, miệng cười tươi và hay ca hát, những bài thánh ca hoặc những lời kinh được bà tự ghép nhạc vào.  Như rất nhiều phụ nữ khác, mẹ tôi cũng “điệu” lắm. Cứ nhìn vào những tấm hình bà đã chụp thì biết. Nhưng bà không sa hoa, không phù phiếm. Bà chỉ là một bà nhà quê với hàm răng nhuộm đen như rất nhiều người đàn bà “bắc kỳ” khác. Bà dậy tôi phải uốn lưỡi bảy lần trước khi mở miệng ra nói điều gì khi nóng giận vì khi đã nói ra rồi thì mình không thể rút lại được.  Có lẽ vì thế những lúc gặp chuyện bực mình bà hay lẩm bẩm đọc kinh.  Rất tiếc đó là điều mà tôi không bao giờ học được của bà, vì tính tôi đôi lúc nóng như lửa và cộc cằn.

Lần đầu tiên tôi về VN, khi tôi ra đi thầy mẹ tôi ra cửa đứng tiễn tôi.   Thầy tôi rướm mắt rơi lệ.  Mẹ tôi thì buồn nhưng giấu kín niềm đau, chỉ luôn miệng đọc kinh. “Cám ơn Chúa và Đức Mẹ đã đưa con của con về đây thăm con.  Xin Chúa và Đức Mẹ đưa nó đi về tới nhà được bằng an.  Trả nó lại cho vợ con nó.”  Đấy, lòng mẹ bao la, hy sinh và cao cả như thế!  Mẹ tôi không miệng lưỡi, chẳng giả giối.  Bề ngoài trông bà thản nhiên khi thốt lên những lời cầu nguyện đó nhưng tôi biết trong lòng bà đau đứt ruột.  Tôi về VN thêm hai lần nữa trong khi mẹ tôi nằm trong bênh viện cấp cứu.  Mỗi lần chỉ vỏn vẹn một tuần lễ, chỉ vừa lâu đủ để gặp mặt bà nhưng không lâu đủ để ngồi ăn với mẹ một bữa cơm sau khi bà bình phục.  Ba mươi năm xa cách mà cộng lại chỉ ở với mẹ được vỏn vẹn không đầy ba mươi ngày!

Theo như người em nói lại, năm cuối cùng của cuộc đời bà, mẹ tôi sống có vẻ đơn côi, ít ăn, ít nói chứ không cởi mở và vui vẻ như xưa.   Cuộc đời đôi lúc thật oái oăm.  Khi cuộc sống vật chất không còn quan trong và ý nghĩa nhiều với mẹ tôi nữa thì bà có đầy đủ, sung túc.   Nhưng cuộc sống về tình cảm, sự gần gũi với con cái là những gì bà muốn bám víu lại trong những ngày cuối đời thì bà lại bị mất mát đi rất nhiều vì chị em chúng tôi lần lượt rời xa người mẹ già, xa quê huơng.  Nhưng tôi biết bà không bao giờ trách móc chúng tôi, vì hơn ai hết bà hiểu rằng mỗi người chúng tôi có cuộc sống, bổn phận, và trách nhiệm riêng cho gia đình nhỏ bé của chúng tôi.

Môt điều tôi không bao giờ ngạc nhiên nhưng rất khâm phục mẹ tôi – theo như chị em trong nhà kể lại - là bà luôn nhắc đến thầy tôi, thương xót cho ông vì đã bị cơn bệnh hành hạ suốt nhiều năm cuối đời ông, và tiếc thay đã không đươc chia sẻ với ông những gì chị em chúng tôi đã giúp lại cho bà.  Đó chính là tình yêu chân thật và sâu đậm.  Mất đi là những cơ hội tôi có thể gọi điện thoại về để chỉ nói được có một câu bà còn có thể nghe được lúc bà mới bỏ điên thoại vào tai, “Mẹ ơi, mẹ có khỏe không?”  Sau đó chỉ để nghe giọng nói của bà vì cụ đã lãng tai quá nặng, không nghe được những gì tôi nói. Mẹ tôi mất lúc quá nửa đêm ngày mồng 8 tháng 11 năm 2010 giờ Việt Nam (quá 12 giờ trưa ngày 7 tháng 11 giờ đông bắc Mỹ.) 

Thế là tôi đã vĩnh viễn mất đi cả hai bậc sinh thành, những người đã nuôi nấng, dậy dỗ, và quan trọng hơn hết đã chuẩn bị cho tôi sống cuộc đời tha phương. Mặc dù vẫn nuối tiếc những năm tháng phải sống xa thầy mẹ tôi từ khi tôi chưa đầy 23 tuổi, những ngày tháng đơn độc ở trại tị nạn, nỗi nhớ nhà da diết trong những ngày đầu tiên khi mới tới Mỹ, tôi vẫn cám ơn và may mắn được sống gần thầy mẹ tôi trong những năm đang trưởng thành để học được cái đạo làm người từ chính những người đã sinh ra và dưỡng dục tôi.  Người ta thường nói, “Cha mẹ hiền lành để đức cho con.”  Đối với tôi quả đúng như thế!  Có thể nói những gì tôi đang có ngày hôm nay một phần lớn là nhờ vào cái “đức” thầy mẹ tôi đã để lại cho tôi.  Như tôi đã viết trong một bài ký sự gửi riêng cho nhóm bạn học hồi ở chủng viện mới đây, mẹ tôi vẫn thường khuyên răn khi tôi còn nhỏ là phải có tính tự lập, không nên nhờ vả đến người khác - kể cả cha mẹ hoặc anh chị em ruột thịt trong nhà.  Có lẽ một phần nào đó bà cụ cảm nhận được rằng tôi sẽ sống xa nhà sau này.  Tôi thường nghĩ tới hai câu thơ của Trần Trung Đạo (Võ Tá Hân phổ nhạc) mỗi khi nhớ tới thầy mẹ tôi:

Ví mà con đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.


Tôi mượn cây vú sữa để nói lên những kỷ niệm của tôi với cha mẹ tôi, từ nhỏ cho tới khi lớn.    Từ lúc có trí khôn cho tới bây giờ đã ngoài năm mươi, với những vết thẹo thời gian ẩn hiện trên khuôn mặt.  Đó là những nếp nhăn trên trán và những sơi tóc đã bạc mầu.  Cây vú sữa của tôi như người cha đã che chở cho tôi khỏi nhũng ngày nóng bức của mùa hè.  Nó cũng như là một người mẹ hiền đã cho tôi bóng mát để dựa vào, cho tôi nếm mùi vị ngọt ngào mà người ta đã so sánh với giòng sữa mẹ.  Nó cũng như một người bạn, cùng nằm đọc sách, cùng mơ mộng với tôi trên mái nhà, đã lắng nghe tôi than thở, hoặc chia sẻ với tôi những nỗi vui buồn.  Tôi cảm thấy cây vú sữa cũng mang lại cho tôi rất nhiều may mắn (lucky charm) trong cuộc đời của tôi.  Bây giờ nhiều khi nghĩ lại, tôi vẫn còn nhớ và tiếc cây vú sữa bên hông nhà.  Tôi coi nó như là một phần của cuộc đời ấu thơ, là một thành phần trong gia đình tôi.


2011-03-11