Theo quy định của pháp luật lao động, TNLĐ được định nghĩa là tai nạn gây ra tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động[1].
Về các trường hợp được xem là TNLĐ [2]: NLĐ bị tai nạn tại một trong những địa điểm sau thì được xem là TNLĐ: (i) tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật Lao động và nội quy lao động của người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh; (ii) ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của NSDLĐ; và (iii) trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.
Thông thường, nơi làm việc của NLĐ là tại trụ sở chính/chi nhánh/văn phòng đại diện hoặc nhà máy của doanh nghiệp được quy định trong pháp luật lao động và doanh nghiệp phải đảm bảo an toàn vệ sinh lao động cho NLĐ tại nơi làm việc. Tuy nhiên, quy định trên không đề cập chi tiết đến địa điểm làm việc tại nhà của NLĐ. Từ đó có thể thấy rằng quy định của pháp luật chưa theo kịp xu hướng làm việc mới, từ đó đặt ra câu hỏi về việc xác định nhà của NLĐ có được xem là nơi làm việc không?
Theo Khoản 3, Điều 84 Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/12/2020, nơi làm việc là bất cứ địa điểm nào mà NLĐ thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của NSDLĐ, bao gồm cả những địa điểm hay không gian có liên quan đến công việc như hoạt động xã hội, hội thảo, tập huấn, chuyến đi công tác chính thức, bữa ăn, hội thoại trên điện thoại, các hoạt động giao tiếp qua phương tiện điện tử, phương tiện đi lại do NSDLĐ bố trí từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại, nơi ở do NSDLĐ cung cấp và địa điểm khác do NSDLĐ quy định.
Như vậy, có thể hiểu rằng nếu NSDLĐ phân công hoặc có thỏa thuận với NLĐ về làm việc tại nhà thì nhà của NLĐ cũng được xem là nơi làm việc của NLĐ. Do đó, nếu NLĐ bị TNLĐ khi đang làm việc tại nhà thì cũng sẽ được xem là TNLĐ. Giải thích này được cho là phù hợp với tình hình “bình thường mới” hiện nay khi mà hầu hết NLĐ làm việc tại nhà. Những TNLĐ phổ biến có thể kể đến như: cháy/nổ máy vi tính do doanh nghiệp cung cấp; bị tai nạn ảnh hưởng đến các bộ phận cơ thể khi sử dụng máy móc/thiết bị cho doanh nghiệp cung cấp (ví dụ như máy may tại nhà) hoặc té ngã trong quá trình sinh hoạt cá nhân trong thời gian làm việc, v.v
Tuy nhiên, không phải TNLĐ nào xảy ra khi làm việc tại nhà cũng đều được hưởng chế độ TNLĐ mà phải đảm bảo các điều kiện sau[3]: (i) NLĐ bị tai nạn mà thỏa mãn các điều kiện được xem là TNLĐ nêu trên; và (ii) bị suy giảm khả năng lao động (“KNLĐ”) từ 5% trở lên do TNLĐ gây ra sẽ được hưởng chế độ TNLĐ.
Khi đã đáp ứng đủ các điều kiện như trên thì NLĐ làm việc tại nhà sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội được Quỹ TNLĐ thuộc Qũy bảo hiểm xã hội (“BHXH”) chi trả tương tự như đang làm việc trong điều kiện làm việc bình thường: Căn cứ Thông tư 26/2017/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ngày 20/9/2017, NLĐ sẽ được hưởng các chế độ khác nhau tùy thuộc vào mức độ suy giảm KNLĐ. Cụ thể:
Căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật và theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng bảo đảm yêu cầu, NLĐ bị TNLĐ mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn, điều kiện chuyên môn, kỹ thuật như: tay giả, máng nhựa tay, chân giả, máng nhựa chân; nẹp đùi, nẹp cẳng chân, áo chỉnh hình[6].
Nếu suy giảm KNLĐ từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống, mù hai mắt, cụt, liệt hai chi hoặc bị tâm thần thì NLĐ được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương cơ sở[7].
Bên cạnh đó, nếu NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 31% trở lên khi trở lại làm việc có thể được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, được NSDLĐ sắp xếp công việc mới thuộc quyền quản lý phù hợp với sức khỏe, nguyện vọng của NLĐ.
Bên cạnh những chế độ mà NLĐ được hưởng như trên, NSDLĐ còn phải thanh toán chi phí y tế, trả đủ tiền lương ngừng việc, thực hiện việc bồi thường, trợ cấp cho NLĐ bị TNLĐ và các trách nhiệm khác theo quy định của Luật an toàn, vệ sinh Lao động 2015. Thời điểm được hưởng trợ cấp TNLĐ sẽ được tính từ tháng NLĐ điều trị xong và ra viện.
Một số lưu ý về giải quyết chế độ TNLĐ
Bên cạnh đó, nếu NLĐ thuộc các trường hợp như đã về hưu, NLĐ giao kết hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) với nhiều NSDLĐ hoặc NLĐ không tham gia đóng bảo hiểm TNLĐ thì không được hưởng/giải quyết chế độ TNLĐ[10].
NSDLĐ có quyền phân công hoặc thỏa thuận với NLĐ về địa điểm làm việc và được quy định trong HĐLĐ, khi có bất cứ thay đổi nào về địa điểm làm việc thì HĐLĐ phải được sửa đổi bằng phụ lục HĐLĐ. Tuy nhiên, hiện nay do giãn cách xã hội nên việc sửa đổi địa điểm làm việc tại nhà bằng phụ lục HĐLĐ là khó áp dụng. Tùy vào tình hình thực tế mà NSDLĐ có thể thông báo bằng lời nói, văn bản, e-mail hoặc hình thức khác chứng minh được sự đồng ý của NLĐ thì được xem là nơi làm việc hợp lệ.
Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ thì NLĐ cần lưu ý địa điểm làm việc tại nhà phải là nơi NLĐ đã đăng ký với NSDLĐ. Theo ý kiến của chuyên viên các cơ quan BHXH, nơi làm việc tại nhà thường được hiểu là nơi đăng ký thường trú/tạm trú của NLĐ đã cung cấp cho NSDLĐ khi giao kết HĐLĐ, và được quản lý trong sổ lao động của doanh nghiệp. Nếu NLĐ bị TNLĐ tại nơi khác hoặc trong quá trình di chuyển đến nơi khác sẽ khó có thể chứng minh tính hợp lý là TNLĐ. Nếu trường hợp đó xảy ra, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ là chủ thể quyết định NLĐ có được hưởng chế độ TNLĐ hay không.
Việc NLĐ thông báo cho NSDLĐ về TNLĐ là cần thiết và quan trọng. Tùy thuộc vào tính chất nặng/nhẹ của TNLĐ mà NSDLĐ tự tổ chức hoặc báo cáo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức điều tra TNLĐ. Điều tra TNLĐ là hoạt động bắt buộc nhằm thu thập chứng cứ, tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến vụ TNLĐ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, từ đó có biện pháp phòng ngừa, kiến nghị hoặc trực tiếp giải quyết, xử lý theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần ban hành một hệ thống báo cáo về các tai nạn hoặc thương tật đã xảy ra cho NLĐ trong khi làm việc tại nhà để NLĐ thực hiện được việc báo cáo của mình.
Tóm lại, dù pháp luật lao động hiện hành chưa rõ ràng nhưng nhìn chung NLĐ làm việc tại nhà dường như có thể được hưởng các chế độ trợ cấp được áp dụng đối với TNLĐ tại nơi làm việc với điều kiện NSDLĐ phải có thỏa thuận bằng văn bản với NLĐ hay có quy định, thông báo về nơi làm việc mới của NLĐ và được NLĐ đồng ý trong thời gian dịch bệnh Covid-19. Trên đây là khái quát về chế độ bảo hiểm TNLĐ cho NLĐ bị TNLĐ khi làm việc tại nhà. Dựa vào đó, dù làm việc ở bất cứ nơi đâu thì NLĐ cũng có thể an tâm làm việc để NSDLĐ có thể duy trì, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần giảm thiểu gánh nặng cho xã hội trong thời gian đại dịch Covid-19 đang diễn ra hiện nay.
[1] Khoản 8 Điều 3 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015
[2] Khoản 1 Điều 45 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015; Khoản 1 Điều 43 Luật bảo hiểm xã hội 2014
[3] Điều 45 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015; Điều 43 Luật bảo hiểm xã hội 2014
[4] Điều 48 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015; Điều 46 Luật bảo hiểm xã hội 2014
[5] Điều 49 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015; Điều 47 Luật bảo hiểm xã hội 2014
[6] Điều 51 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015; Điều 49 Luật bảo hiểm xã hội 2014
[7] Điều 52 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015; Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2014
[8] Điều 54 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015; Điều 52 Luật bảo hiểm xã hội 2014
[9] Điều 53 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015; Điều 51 Luật bảo hiểm xã hội 2014
[10] Điều 11 Thông tư 26/2017/TT-BLĐTBXH được Bộ lao động – Thương binh và xã hội ban hành ngày 20/09/2017; Khoản 3 Điều 45 và Điều 40 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015
[11] Điều 57 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015