Năm 1979, vườn Tao Đàn tổ chức lễ hội như mọi năm (chắc chủ đề mừng xuân, không nhớ lắm). Dĩ nhiên là do bọn nắm quyền, tức cộng sản tổ chức, như tạo hoạt động vui chơi cho dân chúng mừng chiến thắng, đồng thời độc quyền kinh doanh và làm tuyên truyền, trưng bày chống Mỹ.
Nhà chúng tôi ở gần đó. Do mọi hoạt động kinh doanh tư nhân trước đây, tức từ thời VNCH, bị cấm toàn bộ. Tà quyền Cộng Sản đánh "tư sản mại bản", danh từ chúng dùng lúc đó, 2 đợt. Đợt đầu chủ yếu là khu Chợ Lớn, các quận 5, 10, nhiều nhà người Hoa, trốn chạy Cộng sản Mao đến sinh sống và làm ăn tại vùng SG-GĐ này. Người miền nam luôn gọi với từ dân gian là người Tàu. Đợt sau là Cộng sản nhắm vào các nhà cao cửa rộng, dù họ chẳng có buôn bán gì. Đợt này rất nhiều gia đình bị đánh oan, như giáo sư, bác sĩ.. chỉ vì nhà họ to, đẹp, là nhà lầu, là villas. Nhà cửa, tài sản gợi lòng tham lam, háo cướp của bọn thổ phỉ phương bắc. Chúng xông vào nhà lục lọi, hốt đồ, chẳng có giấy tờ hợp lệ gì cả, xã hội thật bất ổn, gieo dắt đầy hoang mang, sợ hãi.. Rồi chúng nhân danh cs chụp mũ dân 1 cách tào lao, như nhà nào có xe hơi là chúng kết tội có xe hơi Mỹ, làm tay sai cho Mỹ, nhà nhiều phòng cho con cái thì bị chúng kết tội nhà có phòng cho Mỹ mướn, vv.. thật ngu xuẩn, lãng xẹt ! Nhưng Cộng sản đầy dã tâm thâm ác, chủ đích là để cướp của, giết người miền nam, nhất là người dân Sài Gòn. Chúng đẩy họ đi "kinh tế mới", cũng là danh từ của Cộng sản dùng, để đẩy họ đến vùng đèo heo hút gió, hoang dã, độc hại, không có ruộng đất, cây cỏ; mà họ đến đó là coi như bị đi đày vào chỗ chết; để chúng tha hồ chiếm nhà cửa, đất đai của dân miền nam 1 cách trắng trợn. Nhiều thương gia uất ức, không chịu được, tự tử tại nhà hoặc trong tù. Chết trong tù thì còn đáng nghi nữa, vì có người bị Cộng sản hành hạ để kiếm nơi cất dấu tiền vàng nữ trang cho đến chết.
Đường phố buồn hiu, mọi nhà, mọi cửa hàng đều đóng cửa. Chỉ còn chợ, người buôn bán nhỏ, thì còn hoạt động. Các "cửa hàng quốc doanh bách hóa tổng hợp" mọc lên, từ những cửa tiệm tư nhân mà chúng chiếm đoạt, để làm nơi bán lẻ, phân phối đồ tiêu dùng cần thiết cho dân, theo tiêu chuẩn, theo sổ "hộ khẩu", là số miệng ăn, theo kiểu độc quyền kinh tế của Việt cộng, học từ Tàu cộng và từ Nga Xô. Dân tự xoay sở với những nghề lặt vặt, sống tạm bợ qua ngày. Ba má chúng tôi cũng vậy. Lúc bấy giờ, chúng tôi chỉ có ba ở bên cạnh, má đã bị ở tù do CS bắt do bị chụp mũ là tư bản. Ba có cho 1 chị buôn gì không rõ, được ngồi trước nhà với 1 cái ghế nhỏ. Tối chị ta dọn chiếc ghế của chị vào nhà. Sáng bưng ra, ngồi chắn cửa. Có vậy thôi. Tên chỉ là gì chúng tôi cũng không hề được nghe. Mọi việc sau ngày 30/4/1975 trở nên kín đáo, người dân nghi kỵ nhau, ít nói chuyện.. do đấu tố, và không biết ai là người tốt, ai là người xấu, ai là Việt cộng núp lùm.. Ai cũng đa nghi. Con nít chúng tôi sống và lớn lên trong môi trường như vậy nên cũng đa nghi, ít nói, chẳng để ý, chẳng buồn hỏi, nếu người ta không muốn nói hay không muốn kễ cho mình biết.
Bác P, họ hàng bên má. Ổng bày cho ba mở cửa nhà để làm nơi giữ xe đạp cho vài ngày lễ này ở vườn Tao Đàn. Ba đồng ý.
Thế là chúng tôi cũng phụ 1 tay, ngoắc khách, xỏ số, đưa xe đạp vô, đem xe đạp ra. Cũng vui, không biết ai thu và giữ tiền. Chắc bác P. lo hết.
Mấy nhà hàng xóm cùng trên con đường, cũng làm y chang. Tôi nhớ nhà Vĩnh Nam, nhà bên cạnh, cũng mở giữ xe đạp. Nên cạnh tranh ngoắc khách dữ lắm !
Kỷ niệm "giữ xe đạp" trong không khí ảm đạm buồn lúc đó !
Ty,
Saigon, 1979.