Ngành này gồm những thực vật cổ xưa nhất xuất hiện từ kỷ Silua và chết khá nhiều vào kỷ Đêvôn. Hiện nay, người ta biết được khoảng 20 chi của ngành này, được xếp vào trong 5 họ khác nhau thuộc cùng 1 bộ, 1 lớp. Tất cả các đại diện đều đã hóa đá, di tích tìm được ở một số nơi. Được biết nhiều hơn cả là các chi Rhynia, Asteroxylon, Horneophyton. Các dạng sống Rhynia được các nhà khoa học cho rằng là nguồn gốc của thực vật có mạch trừ ngành Thông đất (Lycophyta). Đó là những cây tương đối nhỏ, thường sống ở đầm lầy. Thể bào tử có dạng phân nhánh đôi, không có lá và rễ thật (trừ Asteroxylon đã có mầm mống của lá là những vảy nhỏ).
Cấu tạo giải phẫu thân còn khá thô sơ, bên ngoài có lớp biểu bì với lỗ khí, bên trong gồm các tế bào chứa diệp lục, và trong cùng là trụ dẫn kiểu nguyên sinh (libe ở ngoài bao quanh gỗ bên trong), gỗ với các quản bào vòng hoặc xoắn. Không có cấu tạo thứ cấp.Túi bào tử 1 ô, nằm đơn độc ở tận cùng của nhánh. Thể giao tử chưa rõ. Quyết trần được coi như là tổ tiên của các thực vật ở cạn. Từ chúng xuất hiện nhiều ngành Thực vật bậc cao tiến hóa theo 2 hướng: hướng lá to như ở Dương xỉ (liên hệ với sự biến đổi của chồi cành kiểu Rhynia) và hướng lá nhỏ như ở Thông đá, Cỏ tháp bút (liên hệ với sự hình thành lá từ những vảy hay những phần lồi ra của mô bì kiểu Asteroxylon).
Hiện nay một số nhà hệ thống học không chia những taxon hóa thạch trong ngành Dương xỉ trần thành một ngành riêng trong giới thực vật.
Những phát hiện về bằng chứng hóa thạch cách đây khoảng 400 triệu năm cho thấy các đại diện đã hóa thạch của ngành Thông đất có cả dạng thân gỗ (hoặc tương tự) và dạng thân thảo. Hiện nay, ngành có khoảng 10-15 chi với khoảng 1000 đang còn tồn tại đến nay. Các dự đoán cho rằng số lượng loài của ngành Thông đất sống ở kỷ Devon và bị tuyệt diệt còn nhiều hơn số lượng loài ngày nay. Các dạng thân gỗ có thể cao đến 40m và chúng chiếm ưu thế trong các vùng đầm lầy than bùn ở kỷ Các bon trước khi có sự hiện diện của thực vật có hoa khoảng 280 triệu năm. Hiện nay, chi Licopodium được phát hiện khoảng 200 loài và chi Selaginella khoảng 700 loài. Các loài trong chi Selaginella thường phát triển mạnh trong các khu vực ẩm ướt.
Cũng giống như các thực vật khác trong phân giới thực vật, các loài trong ngành có sự xen kẻ thế hệ giao tử thể và bào tử thể. Thể bào tử là cây trưởng thành đã có thân lá điển hình và có rễ thật. Lá nhỏ, xếp xít nhau trên thân. Lá nhỏ (microphyll) có nguồn gốc từ các tế bào có chứa diệp lục dưới lớp biểu bì phát triển thành. Đặc điểm này khác với lá lớn (Megaphyll – gặp ở nhóm thực vật có hóa, nhóm thực vật hạt trần, Dương xỉ) có mô phân hóa phức tạp như mô dẫn. Những lá nhỏ của chúng có mang túi bào tử được gọi là các lá bào tử. Cả lá bào tử và lá sinh dưỡng đều có khả năng quang hợp. Tuy vậy ở một số loài như Lycopodium obscurum lá bào tử không có khả năng quang hợp. Nguyên tản (thể giao tử) mang cơ quan sinh sản hữu tính. Nguyên tản chỉ là một bản mỏng nhỏ cấu tạo đơn giản. Sau khi thụ tinh, hợp tử phát triển thành phôi lúc đầu còn sống trên nguyên tản một thời gian, về sau phát triển thành 1 cây sống độc lập. Một số taxon trong ngành tạo ra một loại bào tử có hình thái và kích thước giống nhau gọi là đồng bào tử (homosporous) như Lycopodium. Trong khi đó những loài khác (thuộc chi Selaginella và Phylloglossum) lại tạo ra hai loại bào tử khác nhau còn gọi là dị bào tử (heterosporous) trên hai kiểu lá bào tử ngay trên cùng một cây.
Các tổ tiên của ngành Thông đất đã được tìm thấy nhiều vào kỷ Silua cùng với nhiều đại diện khác của ngành Quyết trần là những dẫn liệu cho phép nói rằng ngành Thông đá có thể xuất phát trực tiếp từ ngành Quyết trần, kiểu Asteroxylon, từ đó phát triển theo hướng lá nhỏ. Tuy vậy, nhiều nhà khoa học ngày nay cho rằng ngành Thông đất không xuất phát từ Dương xỉ trần. John L. Bowman và cộng sự (2007), Margulis (2009) với những bằng chứng về di truyền cho rằng ngành Thông đất không tiến hóa lên từ Dương xỉ trần.
Theo K.R.Sporne (1966), ngành Thông đá gồm 5 họ, nhưng trong đó hầu hết các đại diện đã hóa đá. Đó là những đại diện có thân gỗ lớn và có vai trò trong việc hình thành các mỏ than đá. Chỉ có 2 bộ Thông đất và Quyển bá là còn các đại diện đang sống.
Lớp Thông đất (Lycopodiopsida)
Bộ Thông đất (Lycopodiales)
Bộ này đặc trưng ở chỗ có bào tử giống nhau (đồng bào tử) phát triển thành nguyên tản lưỡng tính, tinh trùng 2 roi. Lá mọc xoắn trên thân. Bộ chỉ có 1 họ: họ Thông đá (Lycopodiaceae). Một vài loài phổ biến trong họ như:
- Thông đất (Lycopodiella cernua (L.) Franco et Vasc. hay Lycopodium cernuum L.): Cây nhỏ, cao khoảng 30 cm. Thường mọc ở các đồi cây bụi và đồi cọ. Cây có dáng đẹp, giữ được bền màu khi khô, nên được dùng làm vật trang trí hoặc làm cây giả trong các mô hình. Đông y dùng làm thuốc chữa ho.
- Thông đá (Lycopodium clavatum L.): Cây thường gặp ở miền núi (như Sapa). Y học dân tộc dùng cây sắc lên uống chữa bệnh phù, hen suyễn và bệnh thần kinh. Bào tử chứa nhiều dầu nêm được dùng để tráng khuôn bao viên thuốc, làm pháo,…
- Thông đá dẹp hay rêu thềm nhà (Lycopodium complanatum L.): Thân chính nằm bò, cành tỏa ra hình quạt, lá hình giùi xếp thành 2 dãy. Có ở Tam Đảo, Sapa.
Lớp Thủy Cửu (Isoetopsida)
Bộ Quyển bá (Selaginellales)
Đặc điểm phân biệt với bộ Thông đá là ở Quyển bá có các bào tử khác nhau (dị bào tử) nằm trong các túi bào tử và lá bào tử riêng biệt. Nguyên tản phân tính. Lá thường mọc đối, có khi có 2 loại lá với kích thước và cách mọc khác nhau : lá to mọc đối ở 2 bên, còn lá nhỏ thường mọc hơi chéo nhau làm thành đường sống ở giữa.
Bộ Quyển bá chỉ có họ Quyển bá (Selaginellaceae) với 1 chi Selaginella gồm khoảng 700 loài và họ Thủy cửu Isoetaceae (lá xếp ở gốc, lá sinh dưỡng mang túi bào tử).
Các di tích hóa thạch của bộ Quyển đá được tìm thấy ở đầu kỷ Than đá và con cháu của chúng sau này chính là các đại diện quyển bá hiện nay.
Một số đại diện thường gặp :
- Quyển bá quấn (Selaginella involvens Spring): thân mọc đứng, lá ở bên khía răng và có ánh bạc ở mặt dưới. Thường gặp ở khe đá, lòng suối.
- Quyển bá yến (S. Delicatula (Desv.) Alston.): lá mỏng.
- Quyển bá râu (S. peteloti Alston): lá bên ở thân chính xếp thưa hơn ở cành.
- Quyển bá tai liềm (S. pseudo – paleifera Hand. Mazz): Dễ nhận biết vì cành có lông và có tai nhỏ hình lưỡi liềm. Cây mọc trong rừng ẩm.
- Quyển bá trường sinh (S. tamariscina Spring.): Thân mọc thành cụm, làm thành một gốc cao tới 10cm, khi khô sẽ cuộn cong lên. Cây mọc ở những nơi khô trên đá hoặc đất sỏi sạn ở rừng gần biển. Dùng làm thuốc cầm máu và chữa đại tiện ra huyết.
Ngành Lá thông hiện nay cũng chỉ còn 2 chi là Psilotum (2 loài)và Tmesopteris(10 loài). Chúng là thực vật có mạch, tuy nhiên lại mang một số đặc điểm nguyên thủy như chưa có lá và rễ thật. Đó là những cây nhỏ, phụ sinh hay sống trên đất mùn ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm. Chưa có rễ thật, thể bào tử đầu tiên có dạng thân rễ nằm ngang trên mặt đất, từ đó mọc ra những cành khí sinh phân nhánh đôi với những lá nhỏ hình vảy. Trụ dẫn kiểu nguyên sinh. Túi bào tử tập hợp thành nhóm gồm 2 - 3 cái, nằm ở các nách lá. Các lá nhỏ hình vảy ở chi Psilotum và có dạng gần giống lá ở Tmesopteris được xem như là cành chứ không phải là lá nhỏ hay lá lớn, trong những vảy này chúng thiếu các mô dẫn. Rễ giả mọc ra giúp neo thể bào tử vào đất và trao đổi chất.
Ở Psilotum, trong giai đoạn phát triển đầu tiên thể bào tử rất giống với thể giao tử. Thể giao tử (tức nguyên tản) hình trụ cũng phân nhánh đôi, nằm ngang trên mặt đất và có rễ giả, bên trong có trụ dẫn với các bó mạch. Trên nguyên tản mang nhiều túi tinh và túi noãn. Tinh trùng có nhiều roi.
Ngành Cỏ tháp bút đặc trưng bởi có thân phân chia thành từng lóng (gióng) rõ rệt, cành mọc vòng quanh các mấu của thân. Lá nhỏ, có khi tiêu giảm dưới dạng những vảy nhỏ, mọc vòng.
Cũng như Thông đá, Cỏ tháp bút là 1 ngành khá cổ, các đại diện xuất hiện vào kỷ Đêvon và phát triển nhiều ở kỷ Than đá khoảng 354–290 triệu năm, có nhiều cây gỗ lớn, cao tới 30m với đường kính khoảng 0,5m, nhưng sau đó chúng chết dần. Hiện nay ngành này chỉ còn lại 1 bộ, 1 họ với 1 chi Cỏ tháp bút (Equisetum) gồm 15 loài thân cỏ.
Ngành Cỏ tháp bút cũng giống các thực vật sinh sản bằng bào tử khác, trong vòng đời có sự xen kẻ giữa hai dạng sống là thế hệ giao tử thể và bào tử thể .
Cỏ tháp bút gồm những cây ở cạn, có thân rễ chia đốt, mọc bò ở dưới đất. Từ thân rễ mọc ra các cành khí sinh cũng phân đốt. Có 2 loại cành: cành sinh dưỡng (có thân rễ phân nhánh) và cành sinh sản (thường không phân nhánh). Các gióng của cành đều rỗng, chỉ ở chỗ ngang mấu đặc; phía ngoài có nhiều rãnh dọc, mỗi rãnh ứng với 1 lỗ khuyết ở trong phần vỏ. Phần vỏ này chứa nhiều diệp lục và làm nhiệm vụ quang hợp thay cho các lá kém phát triển. Biểu bì thấm silic nên khá cứng rắn.
Cành sinh sản xuất hiện trước cành sinh dưỡng, vào khoảng đầu mùa xuân. Chúng thường có màu nâu nhạt, không làm nhiệm vụ quang hợp. Đầu cành sinh sản mang bông hình trứng, gồm nhiều lá bào tử xếp xít nhau thành từng vòng. Lá bào tử là 1 phiến hình 6 cạnh. Mặt dưới lá bào tử mang 6-8 túi bào tử. Sự phân tính của nguyên tản phụ thuộc và yếu tố dinh dưỡng trong môi trường. Với điều kiện dinh dưỡng cao nguyên tản phân tính cái, dinh dưỡng thấp nguyên tản phân tính đực. Nguyên tản là một bản nhỏ màu lục, phân chia thành những thùy ngắn, có rễ giả. Nguyên tản đực nhỏ hơn nguyên tản cái, ở tận cùng các thùy là những túi tinh mang nhiều tinh trùng có 1 chùm roi. Nguyên tản cái lớn hơn, có thể dài tới 1-2cm, và túi noãn nằm ở các khe giữa các thùy của nguyên tản. Phôi lúc đầu còn sống nhờ vào nguyên tản cái, sau đó mọc ra cây mới, tức là thể bào tử.
Các loài gặp phổ biến ở Việt Nam:
- Cỏ tháp bút (Equisetum arvense L.): thường mọc ở vùng Sapa.
- Cỏ đốt (E. debile Roxb.): thường mọc ở nơi ẩm, ven bờ sông suối và ở độ cao 700 – 900m (Đà Lạt), trước đây cũng gặp ở Hà Nội. Bông bào tử nhọn đầu.
- Mộc tặc (E. diffusum Don.): Bông bào tử tù đầu. Gặp ở Sapa.
Ngoài ra còn có loài E. hyemale L. var. japonicum Willd. (cũng gọi là mộc tặc) được dùng làm thuốc trong y học dân tộc để chữa bệnh đau bụng, đau mắt, trĩ. Các loài Equisetum đều có thân ráp vì thấm chất silic nên được dùng để đánh bóng đồ gỗ, sừng, ngà.
Dương xỉ là thực vật chưa có hạt đã có thân, lá và rễ thật. Điểm khác biệt là ngành Dương xỉ đã có lá lớn, trên lá hệ thống mô dẫn tạo thành hệ thống gân lá hình mạng khác biệt với lá nhỏ chỉ có 1 gân đơn lẻ dọc lá. Lá của Dương xỉ là dạng lá kép gồm nhiều lá chét – được gọi là kiểu lá dạng răng lược. Hầu hết các loài dương xỉ đều sản sinh một loại bào tử, một số hình thành dị bào tử. Các túi bào tử thường tập trung thành từng cụm (ổ túi bào tử) phía dưới mặt lá hoặc ở mép lá. Túi bào tử thường có vòng cơ, gồm các tế bào thấm lignin, giúp mở túi bào tử để giải phóng bào tử khi bào tử chín. Thành bào tử có bao bọc bởi lớp sáp giúp bào tử chống mất nước. Thể giao tử non được hình thành từ bào tử ban đầu có dạng sợi nhỏ có khả năng quang hợp và mọc về phía ánh sáng. Giao tử đực có roi, quá trình thụ tinh phụ thuộc vào nước. Trong giai đoạn đầu, phôi vẫn gắn với thể giao tử và lấy chất dinh dưỡng cho quá trình phát triển. Khi lá non và rễ được hình thành, giai đoạn đầu thể bàoo tử vẫn liên kết với thể giao tử của nó. Khi thể bào tử có khả năng sống độc lập thì thể giao tử chết, thể giao tử đóng vai trò như là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho thể bào tử.
Bào tử và lá hóa thạch được phát hiện ở kỷ Cacbon (408–360 triệu năm trước). Hiện nay ngành gồm khoảng 300 chi và hơn 12.000 loài, hai phần ba trong số chúng phân bố ở vùng nhiệt đới. Chi Polypodium có thể lên đến 1200 loài, chủ yếu ở vùng nhiệt đới.
Hiện nay, hệ thống phân loại của ngành đến nay vẫn chưa thống nhất. Theo Takhtajan (1986), ngành Dương xỉ được chia làm 5 lớp trong đó có 3 lớp là các Dương xỉ hiện đang sống ngày nay là: - Lớp Lưỡi rắn (Ophioglossopsida), - Lớp Tòa sen (Marattiopsida), - Lớp Dương xỉ (Polypodiopsida). Hai lớp còn lại là những Dương xỉ cổ, xuất hiện từ kỉ Đêvôn và đã bị tuyệt diệt, các Dương xỉ này gần gũi với Quyết trần và là tổ tiên của các Dương xỉ ngày nay.
Lớp này chỉ có 1 bộ Lưỡi rắn (Ophioglossales) với 1 họ Lưỡi rắn (Ophioglossaceae). Đây là lớp nguyên thủy nhất trong ngành Dương xỉ.Chúng những cây nhỏ có thân rễ ngắn bò trên mặt đất. Lá gồm 2 phần: phần không sinh sản hình phiến, có màu lục và phần mang túi bào tử. Túi bào tử phát triển từ mô đa bào, hợp lại thành bông trên cuống dài (cuống có nguồn gốc từ lá). Bào tử giống nhau. Thể giao tử có thể phân nhánh. Hiện chỉ còn 3 chi: Lưỡi rắn (Ophioglossum), Quản trọng (Helminthostachys) và Âm địa (Botrychium). Chi Ophioglossum, các túi bào tử tập trung hai dãy trên trục dọc của phần mang túi bào tử (không phân nhánh); Chi Botrychium, có phần mang túi bào tử phân nhánh, túi bào tử nằm trên cuống ngắn. Chi Helminthostachys, cụm túi bào tử tập trung dày đặc bào quanh trên một trục dọc của phần mang túi, trên túi bào tử có các thùy nhỏ.
Lớp này cũng mang tính chất nguyên thủy trong ngành Dương xỉ. Lớp gồm 1 bộ Tòa sen (Marattiales), 1 họ Tòa sen (Marattiaceae). Gồm những cây có kích thước rất khác nhau. Lá phát triển mạnh, nhiều khi rất lớn, kép lông chim 1-2 lần, gốc lá thường phồng lên. Lá non cuộn tròn. Túi bào tử tập trung thành ổ túi bào tử ở mặt dưới lá. Vách túi bào tử dày, vách gồm nhiều lớp tế bào, có vòng cơ thô sơ thường tập trung ở đỉnh túi, bào tử giống nhau. Bào tử nảy mầm cho nguyên tản lưỡng tính. Họ có 6 chi, trong đó 2 chi hay gặp ở nước ta là Angiopteris và Marattia.
- Móng ngựa (chi Angiopteris): thân rễ đứng, nửa hình cầu. Lá rất to, dài tới 1,5m, kép lông chim gốc cuống lá phồng nạc dạng củ trông như móng con trâu hay con ngựa, do đó toàn bộ củ nổi lên mặt đất giống như tòa sen của Đức Phật. Cây mọc phổ biến ở các khe suối trong rừng núi Sa Pa, Ba Vì, Cúc Phương, Tam Đảo... Cây có dáng đẹp, được trồng làm cảnh; thân rễ có thể ăn được, hay dùng để chăn nuôi.
Lớp Dương xỉ có trên 10.000 loài, là lớp lớn nhất của ngành Dương xỉ, gồm các Dương xỉ hiện đang sống. Cây thân thảo chiếm đa số, một số ít thân gỗ hoặc dây leo. Cây sống trên đất, ở nước hay bì sinh trên các cây gỗ khác. Chúng có thân rễ nằm ngang hay thẳng đứng mang lá lớn, có hình dạng rất khác nhau: xẻ lông chim nhiều lần, rất ít có lá nguyên. Lá non luôn cuộn tròn ở đầu. Túi bào tử có vách mỏng gồm 1 lớp tế bào và thường có vòng cơ. Bào tử giống hay khác nhau.
Theo Takhtajan (1986), lớp Dương xỉ được chia thành 10 bộ, trong đó: - Dương xỉ ở cạn là chủ yếu gồm có 8 bộ: Rau vi (Osmundales), Bòng bong (Schizaeales), Cỏ xeo gà (Pteridales), Guột (gọi làeicheniales), Dương xỉ (Polypodiales), Lá màng (Hymenophyllales), Cẩu tích (Dicksoniales), Áo khiên (Aspidiales). - Dương xỉ ở nước có 2 bộ: Rau bợ (Marsileales), Bèo tai chuột (Salviniales).
*Dương xỉ ở cạn có những đặc điểm chung như có bào tử giống nhau nảy mầm cho ra nguyên tản lưỡng tính. Túi bào tử thường tập hợp thành ổ túi nằm ở mặt dưới lá. Hình dạng và vị trí ổ túi rất khác nhau, bên ngoài ổ túi đôi khi có vảy che đậy (do biểu bì dưới lá tách ra). Tính chất vòng cơ ở túi bào tử thay đổi trong các họ, các chi: vòng cơ đầy đủ (khép kín) hay không khép kín (1 số tế bào không có vách thấm lignin), nằm dọc, nằm chéo qua chân hay nằm ngang ở đỉnh hoặc ở vùng giữa túi bào tử. Nguyên tản (thể giao tử) là 1 bản mỏng màu lục, hình tim, mặt dưới có rễ giả nên có thể tự dưỡng được. Túi tinh và túi noãn đều nằm ở mặt dưới nguyên tản. Tinh trùng hình xoắn có 1 chùm roi.Thụ tinh nhờ nước. Phôi hình thành từ hợp tử phát triển trên nguyên tản thành cây con một thời gian ngắn, khi nguyên tản chết thì cây con mới sống độc lập. Một số đại diện thường gặp như:
- Tổ chim (Asplenium nidus L.): lá đơn nguyên, dài, xếp hình hoa thị trên thân rễ ngắn, mang nhiều ổ túi hình vạch xếp song song với các gân phụ. Sống bì sinh trên các cây gỗ to trong rừng, trồng làm cảnh.
- Dương xỉ thường (Cyclosorus parasiticus (L.) Fawell): Thân rể ngắn, mọc bò, cuốn lá dài, màu vàng rơm, có vảy ở gốc, toàn bộ phía trên có nhiều lông trắng; phiến lá kép lông chim 2 lần. Ổ túi hình tròn. Cây mọc phổ biến ở khắp nước ta.
- Bòng bong (Lygodium flexuosum (L.) Sw.): Th lá có cuống dài, xe lông chim 2-3 lần, ổ túi nằm ở mép lá. Cây mọc dại khắp nơi.
- Cu li (Cibotium barometz (L.) Sm.): Thân rể có nhiều lông màu vàng bao phủ, trông giống hình con chó con màu vàng ( nên có tên là kim mao hoặc cẩu tích), người ta dùng những lông này để rịt vết thương cầm máu. Thân rể dùng làm thuốc. Loài quý hiếm.
- Guột (Dicranopteris linearis (Burm.) Undrew.)
- Ráng gạc nai (Ceratopteris thalictroides (L.) Brong.)
- Rau dớn (Diplazium esculentum (Retz.) SW.)
- Cốt rắn / Củ khát nước (Nephrolepis cordifolia (L.) Presl.)
- Cốt toái bổ / Tắc kè đá (Drynaria fortunei (G. Ktze) J.Sm.)
- Ráng (Acrostichum aureum L.)
- Dương xỉ mộc (Cyatheapo podophylla)
* Dương xỉ ở nước khác dương xỉ cạn ở chỗ có bào tử khác nhau (bào tử lớn và bào tử nhỏ). Các túi bào tử nằm trong 1 khoang kín gọi làà quả bào tử, vách của quả bào tử tương đương với vảy (áo) ổ túi. Nguyên tản rất tiêu giảm, đặc biệt là nguyên tản đực. Một số đại diện của dương xỉ ở nước như:
- Rau bợ (Marsilea quadrifolia L.) Trong y học, dùng rau bợ để chữa sỏi thận, thông tiểu,… Cây mọc phổ biến nơi đất ẩm hoặc các ao mương nước nông, ruộng lúa…
- Bèo vảy ốc (Salvinia natans Hoff.): Cây nổi trên mặt nước lá sinh dương phẳng, giống hình vảy ốc.
- Bèo hoa dâu (Azolla caroliana Willd.): Trong khoang lá có loài vi khuẩn lam Anabaena azollae cộng sinh có khả năng cố định nitơ tự do. Bèo hoa dâu được dùng làm phân xanh bón ruộng và làm thức ăn cho gia súc, gia cầm. Người ta còn thả bèo hoa dâu ở ruộng lúa vì nó có tác dụng chống bốc hơi nước, chống cỏ dại, chống rét cho lúa. Bèo hoa dâu là nguồn phân bón tốt và dễ trồng.
- Bèo ong/ bèo tai chuột (Salvinia cucullata Roxb.): Có dạng thân nhỏ, sống lâu năm, không có rễ, thân rễ phân nhánh trong nước. Lá sinh dưỡng cong, cuộn xoắn lại giống như tổ ong.