Thời Việt Nam Cộng Hòa, có một bài Việt Sử tiểu học nói về nhà Mạc như sau: “Mạc Đăng Dung giết vua Lê tự lập làm vua, các quan có người mắng chửi Mạc Đăng Dung rồi tự sát, có người bỏ về quê không phục vụ nhà Mạc. Khi người Tàu đem quân qua đánh, Mạc Đăng Dung sợ quá tự trói mình ra hàng, cắt đất dâng người Tàu để xin tha...”. Lúc học bài này tôi rất khinh ghét Mạc Đăng Dung.Hồi nhỏ tôi chỉ biết tin vào sách và không biết người viết sách đã dựa theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Triều Nguyễn và Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, phê phán nhà Mạc quá nặng nề. Tới năm 1960, Phạm Văn Sơn xuất bản cuốn Việt Sử Tân Biên, trong đó ông bênh vực nhà Mạc và bác bỏ những lời kết tội của Trần Trọng Kim và các sử thần thời Trịnh Nguyễn.
Theo Việt Sử Tân Biên, các vua Lê như Lê Uy Mục, Lê Tương Dực đều là hôn quân vô đạo làm nhà Lê suy tàn, chuyện nhà Mạc nối ngôi nhà Lê là bình thường như bao triều đại khác ở Việt Nam và Trung Quốc.Trần Trọng Kim phê phán nhà Mạc xây dựng sự nghiệp một cách tàn ác nên không bền, đây là sự phê phán không đúng. Việc Mạc Đăng Dung giết Chiêu Tông không có gì là quá đáng nếu so sánh với việc Trần Thủ Độ diệt tộc nhà Lý, vậy mà nhà Trần kéo dài được 175 năm. Còn vấn đề cắt đất cho người Tàu, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép là hai châu Quy Thuận, điều này không đúng vì hai châu này đã được Nùng Trí Cao dâng nhà Tống từ thời nhà Lý. Theo Wikipedia, học giả Nguyễn Văn Siêu (Thế Kỷ thứ 19) nhận định rằng nhà Mạc cắt cho nhà Tống 5 hay 6 động thuộc châu Vĩnh An, nhưng đây chỉ là nhà Mạc trả lại đất cũ của Trung Hoa, điều này được nhiều học giả thời nay đồng ý. Dù sao đó chỉ là vài vùng nhỏ ở biên giới không quan trọng, để cho người Tàu có sĩ diện khi rút quân về. Đây là sự nhượng bộ ngoại giao để tránh một cuộc chiến hậu quả khó lường, không biết ai sẽ chiến thắng.
Chuyện Mạc Đăng Dung tự trói mình ra hàng, theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thì Phạm Văn Sơn không thấy tài liệu lịch sử nào khác đề cập chuyện này. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì Mạc ĐăngDung “quỳ gối cúi đầu”và theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thì Mạc Đăng Dung “buộc dây vào cổ đi chân không”,nhưng đó chỉ là những tường thuật có ác ý bêu xấu nhà Mạc. Theo ông Sơn nhận xét trong Việt Sử Tân Biên, có lẽ Trần Trọng Kim đã căn cứ vào cuốn An Nam Truyện của người Tàu (quyển 231) nói về quyết định của Minh Thế Tông "Nếu cha con nhà Mạc chịu trói và qui hàng thì sẽ tha tội chết." Đây chỉ là lối nói hống hách của người Hoa tự cho mình là “Thiên Triều”, ý thực của câu này là "Nếu cha con nhà Mạc qui thuận thì chấp nhận cho nhà Mạc xưng thần và thôi không đánh nữa.” Chắc Trần Trọng Kim đã hiểu câu này theo nghĩa đen nên ông tưởng rằng Mạc đăng Dung đã thực sự tự trói mình ra hàng để xin tha.
Lập luận của sử gia Phạm Văn Sơn hợp lý. Ông nguyên là Đại Tá Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa, giỏi tiếng Pháp nhưng không biết tiếng Hoa, thư mục cuốn Việt Sử Tân Biên của ông chỉ liệt kê các sách Lịch Sử Việt Pháp mà thôi. Trên nguyên tắc, muốn hiểu rõ một sự kiện lịch sử liên quan đến hai nước thì nên tham khảo sách của cả hai quốc gia vì không bao giờ có tài liệu lịch sử hoàn toàn khách quan. Tuy nhiên khi khảo sát bang giao Việt Hoa thì không cần tham khảo tài liệu tiếng Hoa vì người Hoa là chúa tể xuyên tạc lịch sử, nhất là trong quan hệ với lân bang. Trung Hoa là nước duy nhất trên thế giới hay tôn vinh và che giấu tôi ác những bạo chúa có thủ đoạn tàn độc như Tần Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên và Mao Trạch Đông. Gần đây, Tập Cận Bình tuyên bố "Trong máu người Trung quốc không có gene xâm lược," thực ra người Hán luôn luôn thôn tính và đồng hóa những dân tộc khác để tạo thành nước Trung Hoa với năm sắc dân chính: Mông, Hồi, Hán, Mãn, Tạng. Chỉ có hai dân tộc mạnh nhất là Việt Nam và Đại Hàn mới có khả năng chống lại sự xâm lược từ Trung Quốc, nhưng luôn luôn phải chịu áp lực nặng nề của Hán tộc. Qua Thế Kỷ thứ 21, Trung Hoa đã ngưng xâm lược theo đường bộ nhưng vẫn lấn chiếm lãnh hải của nhiều nước Đông Nam Á. Tập cận Bình đã nói dối một cách vô liêm sỉ, có lẽ vì "Trong máu người Trung quốc không có gene trung thực với lịch sừ."
Có lần tôi đọc một tuyển tập về East Asia, có bài của một nghiên cứu sinh Việt Nam theo học tại Đại Học Harvard. Tác giả kể chuyện Tôn Sĩ Nghị đem mấy ngàn quân qua Việt Nam định can thiệp chuyện nhà Tây Sơn cướp ngôi nhà Lê, nhưng bị phục kích đánh gẫy cầu phải quay về. Bài này được một Giáo Sư Harvard khen là “interesting”. Tôi thì ngạc nhiên không hiểu sao tác giả không nói gì về vua Quang Trung và cũng không hiểu sao Tôn Sĩ Nghị lại đem ít quân như vậy, tới khi check lại thư mục thì thấy tác giả không tham khảo sách Việt Nam và chỉ tham khảo sử liệu Trung Hoa. Thì ra người Hoa đã giấu nhẹm việc Tôn Sĩ Nghị huy động quân Lưỡng Quảng qua Việt Nam mà bị Nguyễn Huệ đánh tan tành, chỉ nói họ Tôn đem ít quân qua nhưng không thành công phải rút về. Sử Việt thì nói Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân, con số này có lẽ phóng đại nhưng sự thực chắc cũng vào khoảng 10 vạn quân. Còn việc tác giả Việt Nam mà không dám trích dẫn lịch sử Việt Nam, có lẽ vì anh biết tâm lý các ông thầy Mỹ - nếu kể chiến công oanh liệt của vua Quang Trung thì người Mỹ không tin hoặc không vui vì họ vốn tự cao tự đại và coi thường người Việt. Ngoài ra người Mỹ thường nể Trung Hoa là nước lớn cho nên trích dẫn tài liệu Trung Hoa thì họ sẽ tin tưởng hơn. Muốn đươc lòng thầy Mỹ thì phải chiều theo thành kiến của người Mỹ, không thể nói những sự thực khách quan.
Trở lại chuyện Mạc Đăng Dung - vì tài liệu lịch sử Trung Hoa về bang giao Hoa Việt thường không đáng tin cho nên chỉ tham khảo các tài liệu Việt Pháp như cuốn Việt Sử Tân Biên cũng tương đối đủ. Mạc Đăng Dung lên ngôi năm 1527, tới năm 1929 thì bắt chước nhà Trần nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh để làm Thái Thượng Hoàng. Một số cựu thần nhà Lê đem chuyện nhà Mạc cướp ngôi tố cáo với Trung Hoa. Sau một thời gian bàn bạc, Minh Thế Tông phong Hàm Ninh Hầu Cừu Loan làm Đô Đốc và Binh Bộ Thượng Thư Mao Bá Ôn làm Tán Lý (đây là hai danh thần được vua Minh tin yêu) để xuất chinh hỏi tội nhà Mạc. Thời đó triều Minh đa số ngán nước Việt vì chiến công oanh liệt của Lê Lợi - hai đại tướng Liễu Thăng và Lương Minh tử trận, Binh Bộ Thượng Thư Lý Khánh tự sát, Công Bộ Thượng Thư Hoàng Phúc bị bắt, Chinh Nam Tướng Quân Mộc Thạnh bỏ chạy, Chinh Di Tướng Quân Vương Thông bị vây khốn phải xin hòa và khi kéo tàn binh về nước bị Minh Đế bắt tội tước bỏ quan tịch. Bài học này còn sờ sờ trước mắt nên cả Cừu Loan và Mao Bá Ôn đều rất thận trọng. Năm 1534 khi nhận lệnh vua Minh hỏi tội nhà Mạc, họ lần lữa không đánh ngay, cố tình kéo dài thời gian vừa để chuẩn bị quân lương vũ khí vừa theo dõi tình hình Đại Việt.
Khi nhà Mạc trị vì được mười năm thì Cừu Loan và Mao Bá Ôn mới tiến hành Nam chinh (1537). Hay tin Triều Đình Mạc cử phái đoàn Nguyễn Văn Thái lên Ải Nam Quan điều đình. Theo Việt Sử Tân Biên thì cuộc điều đình này thành công và quân Minh không tấn công Đại Việt, nhưng theo một tài liệu khác trên Internet thì các tướng Minh biết trong nước Việt có nội loạn Nguyễn Kim nên án binh bất động chờ hai bên đánh nhau để làm “ngư ông đắc lợi”. Nguyễn Kim đã tìm được một con út của Lê Chiêu Tông và lập làm vua Trang Tông để có chính nghĩa đánh nhà Mạc nhưng lực lượng còn yếu phải trốn bên Lào, trong khi đó Mạc Đăng Doanh là một minh quân làm nước Việt thái bình thịnh trị. Thấy vậy các tướng Minh lại phải chờ thêm - điều này đủ thấy họ tôn trọng Đai Việt như thế nào. Tới năm 1540 thì Mạc Đăng Doanh mất, Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung đã già và lập con Mạc Đăng Doanh lên ngôi là Mạc Phúc Hải. Lợi dụng nhà Mạc tang gia bối rối, Nguyễn Kim về đánh Nghệ An còn Cừu Loan và Mao Bá Ôn cũng không bỏ lỡ cơ hội tiến binh về Nam Quan. Tuy nhiên họ vẫn chưa dám đánh, quân Minh tới biên giới thì ngừng lại và Mao Bá Ôn làm một bài thơ gởi sang nhà Mạc để dò ý đối thủ. Bài thơ của Mao Bá Ôn như sau:
BÌNH VỊNH
Tùy điền trục thủy mạo ương châm,
Đáo xứ khan lai thực bất thâm.
Không hữu bản căn không hữu cán,
Cảm sinh chi tiết cảm sinh tâm.
Đồ tri tụ xứ ninh tri tán,
Đãn thức phù thời bất thức trầm.
Đại để thiên trung sinh khí ác,
Tảo quy hồ hải cánh nan tầm.
VỊNH CÁNH BÈO
Theo ruộng nước mọc, nhỏ mọn như kim.
Đến xem thì thấy mọc không sâu
Không có căn bản gốc rễ, không có cành
Mà dám sinh mầm và dám sinh tâm
Chỉ biết nơi tụ mà không biết nơi tan,
Chỉ biết lúc nổi mà không biết lúc chìm.
Giữa trời giông tố thình lình nổi,
Quét ra hồ biển lại càng khó tìm.
Chữ “TÂM” trong câu 4 có nghĩa là phần giữa cánh bèo, nhưng hai chữ “SINH TÂM” có ngụ ý là "sinh lòng phản phúc." Bài thơ diễn tả ý miệt thị nhà Mạc: “Các ngươi không gốc không rễ mà dám sinh lòng phản phúc, ta sẽ đem quân đến quét sạch xem các ngươi còn chỗ nào dung thân?” Khi bài thơ này gởi đến triều Mạc, các quan đều tức giận nhưng thấy khó trả lời vì chủ đề bài thơ là cánh bèo. Năm vần CHÂM, THÂM, TÂM, TRẦM, TẦM không khó họa, nhưng làm sao dùng cánh bèo để diễn tả tình thần quật cường chống xâm lăng của người Việt? Chỉ có một người khi nghe xong thì mỉm cười và nhận trách nhiệm họa bài thơ của Mao Bá Ôn, đó là Trạng Nguyên Giáp Hải. Bài thơ họa của Giáp Hải như sau:
Cẩm lân mật mật bất dung châm.
Đối diệp liên căn khởi kế thâm?
Thường dữ bạch vân tranh thủy diện,
Khẳng dung hồng nhật trụy ba tâm.
Thiên trùng lãng đả thành nan phá,
Vạn trận phong xuy vĩnh bất trầm.
Đa thiểu ngư long tàng giá lý,
Thái Công vô kế hạ câu tầm.
Vảy gấm dầy dặc, không để lọt cây kim,
Lá đối diện, rễ liền nhau, cần gì phải dùng kế thâm sâu?
Thường cùng mây trắng tranh nhau mặt nước,
Quyết không để mặt trời hồng rơi vào lòng sóng.
Ngàn trùng sóng đánh khó phá được,
Vạn trận gió thổi vĩnh viễn không chìm,
Rồng cá ít nhiều nương dưới đó,
Thái Công không có cách gì câu bắt.
Khi Mao Bá Ôn đọc bài họa đã phải khen "An Nam có nhiều nhân tài, không dễ đánh." Quả thực bài họa của Giáp Hải hay hơn bài xướng của Mao Bá Ôn nhiều. Dùng cánh bèo để tả vật hèn mọn là việc dễ, mượn cánh bèo để diễn tả những ý tưởng hào hùng mới khó. Trong hai câu đầu, những cánh bèo đọng hạt sương long lanh được gọi là "vảy gấm" và sự liên kết của những cánh bèo ám chỉ tình đoàn kết chống xâm lăng. Hai câu 3, 4 là tuyệt bút, đối rất chỉnh và lời hay ý đẹp - dùng hình ảnh cánh bèo nhỏ mọn chen chúc trên mặt nước cùng với mấy chữ tầm thường "bạch vân hồng nhật" mà diễn tả được ý "Dân tôi tuy nhỏ mọn nhưng cũng biết đua tranh với những điều cao thượng (bạch vân) và chúng tôi sẽ đoàn kết không để cho vua chúng tôi (hồng nhật) phải rớt xuống!" Hai câu 5, 6 có khí độ hào hùng, cũng hay nhưng không đặc biệt, còn hai câu kết là tuyệt bút ngụ ý "Trong nước tôi còn nhiều nhân tài hào kiệt, giỏi như Thái Công (Lã Vọng) của các anh cũng không thắng được đâu!"
Mao Bá Ôn đã biết Đại Việt là miếng xương khó nuốt, nay nhận được bài thơ tuyệt tác của Giáp Hải lại càng kiêng nể. Khi nhận lệnh vua Minh hỏi tội An Nam, Mao Bá Ôn và Cừu Loan bị lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, họ là đại thần được vua yêu, danh vọng như vậy đã tột đỉnh, đánh An Nam mà thua thì thân bại danh liệt, thắng thì cũng có thể gây tai họa. Làm tướng mà có công trạng quá lẫy lừng thì dễ bị vua nghi kị và tiểu nhân gièm pha - nhiều danh tướng như Hàn Tín và Nhạc Phi đã bị giết. Bởi vậy họ phải tìm một giải pháp dung hòa để thoát khỏi thế kẹt thua cũng khổ mà thắng cũng khổ. Nếu Minh Đế buộc họ phải đánh thì họ không có quyền lựa chọn, nhưng nếu họ được quyền quyết định thì họ muốn có một chiến thắng ngoại giao hơn là gây chiến với An Nam.
Theo Việt Sử Tân Biên, Minh Đế lúc đầu quả thực muốn đánh Đại Việt nên đã tặng Mao Bá Ôn một bài thơ khuyến khích, câu cuối là "Trẫm dữ tiên sinh giải chiến bào" - sau khi thắng trận trở về thì vua Minh hứa sẽ thân hành giúp cởi chiến bào cho Mao Bá Ôn. Theo An Nam Truyện và một số tài liệu khác, vua Minh lại dặn họ Mao chỉ cốt gây áp lực cho nhà Mạc quy thuận chứ không cần gây chiến. Không biết sự thực ra sao - người Hoa vốn thâm hiểm và thường "nói vậy chứ không phải vậy" cho nên không thể căn cứ những gì họ nói để biết ý thực của họ. Có lẽ Minh Đế đã giao cho Mao Bá Ôn và Cừu Loan quyền quyết định, thấy đánh được thì cứ đánh còn nếu không chắc ăn thì tạo áp lực cho nhà Mạc quy thuận cũng được. Người Hoa rất thực dụng, họ ngán nước Việt nhưng nếu thấy nước Việt quá hỗn loạn thì họ cũng không bỏ lỡ thời cơ để xâm lăng.
Bài thơ họa của Giáp Hải cũng góp phần quan trọng làm Mao Bá Ôn mong tìm chiến thắng ngoại giao hơn là gây chiến tranh. Để giữ thể diện khi về nước và tránh bị tiểu nhân gièm pha, Mao Bá Ôn phải tạo áp lực tối đa để cho họ Mạc nhượng bộ càng nhiều càng tốt. Về phần nhà Mạc thì cũng đang rối bời - Mạc Đăng Dung đã già sắp chết, có lẽ đã mất hùng tâm tráng khí thời trai trẻ, Mạc Đăng Doanh mới mất và cháu là Mạc Phúc Hải mới lên ngôi, chưa đủ uy tín và kinh nghiệm lãnh đạo các tướng. Phía Bắc bị hai danh tướng Trung Hoa với hàng chục vạn quân sẵn sàng kéo qua, phía Nam bị cái họa Nguyễn Kim phò Lê chưa giải quyết. Bởi vậy nhà Mạc chỉ mong hòa và sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Mao Bá Ôn.
Theo truyền thống Đại Việt, một triểu đại muốn trở thành chính thống thì phải thắng được Bắc xâm. Lê Hoàn là tình nhân của Thái Hậu Dương Vân Nga và cướp ngôi nhà Đinh, nhưng ông vẫn được đời sau trọng vọng vì là anh hùng dân tộc đánh Tống bình Chiêm. Nhà Lý có chiến công hiển hách đánh Trung Hoa và ngăn chặn sự xâm lăng của Bắc quân. Nhà Trần cướp ngôi nhà Lý và diệt tộc nhà Lý rất tàn độc, vậy mà vẫn được coi là một triều đại chính thống nhờ chiến công ba lần thắng Mông Cổ. Lê Lợi giết Trần Cao lên ngôi và các vua Lê sau Lê Thánh Tông thường hoang dâm vô độ, nhưng lòng người vẫn luôn luôn hướng đến nhà Lê vì chiến công oanh liệt đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi. Vì vậy nhà Mạc nếu muốn thành chính thống thì phải chấp nhận liều đánh Mao Bá Ôn, “được ăn cả ngã về không”. Nhưng cái thế lưỡng diện thụ địch của nhà Mạc lúc đó quá kẹt không liều được, phải cố gắng điều đình là hợp lý. Đáng tiếc nhà Mạc không biết Mao Bá Ôn cũng chỉ làm áp lực chứ không muốn đánh, cho nên họ đã không dám "tháu cáy" và đã chấp nhận nhượng bộ nhiều hơn cần thiết.
Việc Mạc Đăng Dung tự trói mình ra hàng có lẽ không có, nhưng ông là Thái Thượng Hoàng và là người khai sáng một triều đại mà phải thân hành lên gặp Mao Bá Ôn xin hòa thì cũng là nhục quốc thể. Có tài liệu nói ông vì phải chịu nhục với người Tàu nên buồn bã và chết một năm sau (1541). Họ Mạc phải chấp nhận tước phong thấp của người Tàu là An Nam Đô Thống Sứ chứ không được phong làm An Nam Quốc Vương, nghĩa là về hình thức thì Đại Việt không còn là một nước có chủ quyền. Về vấn đề triều cống, theo lệ từ đời Lê thì nước Việt phải cống hai hình nhân bằng vàng để đền mạng cho Liễu Thăng và Lương Minh, nay Mao Bá Ôn đòi nhà Mạc phải làm hai người vàng cúi mặt xuống tỏ ý chịu tội, vậy mà nhà Mạc cũng chấp nhận. Sau này Phùng Khắc Khoan đi sứ xin phong cho vua Lê (lúc đó Trịnh Kiểm nắm quyền) đã cho đúc hai tượng vàng ngửa mặt bình thường - với lý do là nhà Mạc cướp ngôi nên phải đúc tượng vàng cúi mặt còn con cháu nhà Lê thì phải theo lệ cũ nhà Lê. Triều Minh lúc đầu không chịu nhưng sau phải chấp nhận.
Dù sao thì Mạc Đăng Dung đã sai lầm khi đích thân lên Ải Nam Quan, như vậy ông tự đặt mình vào thế yếu. Đúng ra ông phải "lên gân" một chút cho hợp với câu trả lời hùng tráng của Giáp Hải, cho quân mai phục chỗ hiểm yếu và cắm cờ nghi binh để cho Mao Bá Ôn thấy mình cũng dám đánh nếu bị dồn ép quá, sau đó cử đại diện sang đưa lễ vật để điều đình với tướng Minh. Cần kiên trì mặc cả, xin nhận tước An Nam Đô Thống Sứ cho Mạc Đăng Dung, còn vua trị vì là Mạc Phúc Hải thì xin phong An Nam Quốc Vương, nếu chưa phong ngay được thì xin chờ mấy năm nữa khi đã chứng tỏ năng lực cai trị An Nam thì sẽ cho phái đoàn sang cầu phong. Về phần đúc hai tượng vàng cúi mặt chịu tội thì phải kiên quyết không chịu. Cần giải thích cho Mao Bá Ôn biết là làm như vậy dân Việt không phục nhà Mạc và chúng tôi mất uy tín trị quốc, nếu “Thiên Triều” ép quá thì chúng tôi thà liều chết chứ không dám tuân mệnh. Mao Bá Ôn là người khôn ngoan biết phải trái, lại không ham đánh nên chắc là chấp nhận những đòi hỏi hợp lý. Vì nhà Mạc không dám tháu cáy nên đã nhượng bộ quá nhiều, vô tình tạo chính nghĩa cho Nguyễn Kim - Trịnh Kiểm tôn phò nhà Lê.
Sau khi nhà Mạc mất nước thì quyền bính về tay Chúa Trịnh, sau đó Chúa Nguyễn khởi nghiệp ở phương Nam. Nhà Tây Sơn quật khởi một thời gian ngắn rồi tới triều Nguyễn, triều đại cuối cùng ở Việt Nam. Trong suốt thời gian này, các sử gia Việt Nam thường bôi bác nhà Mạc vì những ông Tổ của Trịnh Nguyễn đều mượn danh nhà Lê xây dựng quyền lực. Đa số sách lịch sử Việt Nam, từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, cho tới Việt Nam Sử Lược đều không tường thuật khách quan sự đối phó của nhà Mạc với quân Minh và không đề cập tới bài thơ tuyệt tác của Giáp Hải. Cuốn sách Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề thì lại kể một câu chuyện khác: Khi Mao Bá Ôn định đánh Việt Nam, nhà Mạc gởi một bài biểu trần tình trong đó có nhiều câu cảm đông như: “ Vị tiểu quốc thiểu học vũ nhân, lễ nghĩa hà túc thâm trách, mẫn An Nam vô cô xích tử, nhẫn sử phong nhận hoành la” (Vì nưóc nhỏ chúng tôi là vũ nhân ít học, lễ nghĩa làm sao đủ để trách cứ thâm sâu, thương cho những đứa trẻ An Nam vô tội, sao nỡ để chúng phải chịu cảnh lưới sắt gươm đao). Mao Bá Ôn đọc bài biểu này cảm động đến rơi lệ, họp các tướng lại thương nghị và sau đó chấp nhận cho nhà Mạc xin hòa. Bài biểu này cũng hay và có thể được gởi cho Mao Bá Ôn cùng với bài thơ họa của Giáp Hải, nhưng không thể là lý do chính để Mao Bá Ôn ngưng việc chiến tranh. Họ Mao là danh tướng khôn ngoan thận trọng, không đánh Đại Việt vì những cân nhắc lợi hại về chính trị và quân sự. Thật khó tin chuyện Mao Bá Ôn rơi lệ thương xót những đứa trẻ An Nam vô tội rồi quyết định bãi binh.
Tôi không phải là một chuyên gia lịch sử và cũng không có thì giờ tham khảo để biết tại sao bài thơ của Giáp Hải tồn tại đến ngày nay mặc dù đa số sử gia thời Trịnh Nguyễn tránh không đề cập đến những cái hay của triều Mạc. Có thể nào cuộc bút chiến của Mao Bá Ôn và Trạng Giáp Hải là do người đời sau đặt ra không? Tôi vẫn tin cuộc bút chiến này có thực vì bài thơ họa quá hay, phải là người có tài Trạng Nguyên mới làm được. Một bài thơ tuyệt tác như vậy nhân gian sẽ truyền tụng, không cần đến những người ghi chép sử. Theo thiển ý, có thể nói đây là cuộc bút chiến bằng thơ hay nhất trong lịch sử Việt Nam khi so với những cuộc bút chiến khác như Tụng Tây Hồ Phú của Nguyễn Huy Lượng và Chiến Tụng Tây Hồ Phú của Phạm Thái, hoặc là những bài thơ xướng họa của Tôn thọ Tường và Phan văn Trị. Người Tây phương chỉ có bút chiến bằng văn xuôi, còn bút chiến bằng thơ phú (polemic by poetry) là một nét đặc thù của văn hóa Á Đông.
PHẠM NGỌC KHÔI