Chuột ta, chuột tây
Asiatische Maus, westliche Maus
Hôm nọ con tôi đòi vào tiệm bán thú vật xem cá. Nó thích nuôi cá nhưng tôi không cho phép vì biết rằng mình sẽ không có thì giờ chăm sóc, thay hồ, rửa hồ v.v. Chưa kể những kỳ nghỉ phải đi xa thăm bà con họ hàng bỏ cá chết đói sao ? Thơ thẩn trong tiệm tôi thấy có bán cả chuột. Mấy con chuột rao bán này trông không có vẻ gì là thuộc họ hàng nhà chuột cả, tức là trông chúng không có vẻ gì bẩn thỉu, đầy hung họa truyền bịnh dịch như hình ảnh con chuột trong trí nhớ của tôi. Tôi sinh ra và lớn lên ở Việt nam, nơi mà chuột bị liệt vào loại thú vật "cần phải tiêu diệt" vì chúng toàn làm ổ ở những nơi bẩn thỉu nên trên mình mang đầy vi trùng của đủ các loại bệnh tật dễ lây lan như dịch tả, dịch hạch chẳng hạn. Tôi tạm gọi chúng là "chuột ta" để phân biệt với "chuột tây" mà tôi đang quan sát trong tiệm bán thú vật.
"Chuột tây" thì đa số bé tẻo tèo teo, có khi còn nhỏ hơn con chuột nhắt bên mình. Chúng có bộ lông thật mượt mà khác hẳn với những con chuột chù, chuột cống lúc nào lông lá cũng xù xì và bết lại do chui luồn ở các cống rãnh. Tôi không biết các chú "chuột tây" có thơm tho hay không (chắc là có, vì tôi thấy có mấy đứa bé ôm con "chuột tây" đưa lên mũi hít hà như hôn các chú gấu bông vậy), nhưng các chú "chuột ta" thì khỏi kể chúng ta cũng biết chúng hôi như … chuột. Một ngoại lệ có lẽ là chuột đồng. Chúng là một loài chuột đáng được ... đem lên chảo. Trước kia thì chuột đồng được xem là một đặc sản "đồng quê" nhưng bây giờ ở Việt nam mọc lên nhan nhản những quán bán các món ăn làm từ chuột đồng như lẩu chuột, chuột cà ri, chuột giả cầy, chuột nướng lá lốt, chuột xé phay ... v.v. Trông những chú "chuột tây" xinh xắn kia, tôi nghĩ bụng nếu mình mở một quán bán thịt chuột ở bên này chắc sẽ bị án tù chung thân không tại ngoại.
Càng quan sát tôi càng thấy nghi ngờ xuất xứ của các chú "chuột tây" này. Chỉ cần nhử một miếng đồ ăn gì đó là chúng đã nhanh chân chui ra khỏi chỗ trốn để đớp mồi. Tôi còn nhớ lúc ở Việt nam nhà tôi ngoài việc nuôi mèo bắt chuột còn sắm thêm vài cái bẫy chuột to cỡ bằng hộp đựng giày, nhưng chả mấy khi tôi thấy có con chuột nào sa bẫy cả. Tôi cũng tự hỏi không biết các chú "chuột tây" có sợ mèo không nhỉ hoặc cả đời đã từng thấy con mèo ra sao chưa ? Có lẽ là không mà đôi khi chúng còn có thể là bạn thân thiết với nhau nữa nếu có một cô bé nào đó nảy ra ý định nuôi cả mèo lẫn chuột trong nhà cho vui vì cô bé là con một (như đa số các trẻ em bên này) nên buồn bởi không có anh em để chọc ghẹo lẫn nhau. Tôi còn nhớ một bài đồng dao Việt nam nói về quan hệ mèo chuột:
Con mèo mày trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà ?
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo
Mèo bên này không ăn mắm mà ăn KiteKat nên "chuột tây" cũng không phải cực khổ lặn lội đường xa như "chuột ta".
An einem Nachmittag wollte meine Tochter zum Zoogeschäft, um Fische zu besuchen, die dort in Aquarien ausgestellt sind. Sie möchte gern ein Aquarium haben, auch wenn in ihm Fische gehalten werden, damit sie nicht wegschwimmen, aber ich habe es ihr nicht erlaubt. Warum? Naja, es ist viel Arbeit einen Fisch zu pflegen, d.h. es ist schwer ihn zu streicheln und mit auf die Couch zu nehmen, ist doch nach kurzer Zeit einwenig unbequem. Somit ist die Gegenleistung für die Reinigung des Aquariums und der Organisationsarbeit, wenn ein spannender Familienbesuch ansteht oder der nahende Urlaub vor der Tür lauert, nur ein optischer Genuss. Wer schaut sich denn in diesen Zeiträumen die sprach- und lautlosen Fische an oder füttert sie mit trockenen Fischmüsli? Nicht von Seitenbacher, sondern von Vitapower (Schleichwerbung ist mehr oder wenig untersagt und nicht unterschrieben).
Ich schlenderte unter dem argwöhnischen Blick des Zoobesitzers, der schon längst erkannt hatte, dass ich kein Aquarium und schon gar nicht einen oder mehrere ruhige schuppige Wasserureinwohner erwerben werde, durch das Zoogeschäft und blieb bei den Mäusen stehen. Nein, keine Sammelschachtel für einen guten Zweck, sondern vor einem Käfig, der zu meiner Überraschung wie ein Aquarium aussah, nur dass kein Glas vorhanden war, sondern Gitterstäbe. Die Mäuse in diesem Luxusknast sahen nicht so aus, als ob sie zur Gattung der käsefressenden Nageltiere gehören, denn sie hatten ein gepflegtes, weißes Fell.
Ich bin in Vietnam geboren und aufgewachsen, und die Mäuse, die ich in meiner Erinnerung hatte, und nur dort, besitzen ein schützendes Fell, voller Krankheitserreger und wurden dort mit einem Schild versehen, auf dem „zum Aussterben verurteilte Tiergattung“ deutlich geschrieben stand. Im Folgenden nenne ich sie die „asiatische“ Maus, um sie von den „westlichen“ Mäusen zu unterscheiden, die ich gerade unter dem genauen Blick des Zoogeschäftsinhabers, beobachtete. Die „westliche Maus“ ist kleiner als die „asiatische Maus“. Ich weiß nicht, ob sie wohlriechend ist und ihr weißes Fell über eine Heilkraft verfügt, aber ich vermute es, denn ein kleines Mädchen rieb mit einer „westlichen“ Maus an ihrer Wange als wäre sie ein zu klein geratenes Kuscheltier. Die „asiatische“ Maus stinkt wie eine … Maus, weil sie meist in Abflusskanälen lebt. Es sei denn, es gibt keine, dann mutiert die „asiatische“ Maus zur „nicht nach Abwasser riechende Maus“ oder kurz ausgedrückt, zur „asiatischen“ Feldmaus. Die Feldmaus ist auch gefährdet, denn unter ihrem ungepflegtem Fell verbirgt sich eine Leckerei nicht nur für Bauer und Feldarbeiter, sondern auch für übrigen Mitmenschen heutzutage eine Delikatesse: Feldmaus mit Curry, Feldmaus-Fondue usw. Wenn ich in Deutschland ein Restaurant eröffnen und Feldmaus-Spezialitäten anbieten würde, würde ich bestimmt ohne Bewährung von Bernhards und Biancas Kollegen in den Knast (und nicht in einem Aquarium) gesteckt oder muss mein restliches Leben in einem Hamburger-Restaurant arbeiten.
Je länger ich die „westliche“ Maus beobachtete, desto mehr zweifelte ich an ihrer Herkunft. Man(n) oder Frau oder kleines Mädchen brauchte nur etwas hinzuhalten und schon rannte sie aus ihrem Versteck zu diesen Etwas. Ich kann mich noch gut an die Mäusefallen in Vietnam erinnern, die so groß wie ein Schuhkarton waren. Wir hatten sie gekauft, obwohl wir schon Öko-Mäuse-Terminatoren als freundliche Mäusefänger hatten, nämlich Katzen. Ich hatte aber selten eine drin gesehen. Ich bin mir nicht sicher, ob die „westliche“ Maus überhaupt ihre natürlichen Feinde, die Feinschmecker auf zwei oder vier Beinen kennt. Es könnten sogar alle drei gute Freunde sein, wenn ein Kind die Idee hätte, Katze und Maus als weitere Hausinsassen zu halten, abgesehen von ihren zweibeinigen Eltern. Es ist nicht auszuschließen, denn die Kinder hier sind meistens Einzelkinder und haben viele Tiere als Spielkameraden. ´
Auch die Katzen kennen nicht ihre natürliche Nahrung, in Aquarien festgehaltenen Fische und delikate Mäuse, denn schließlich gibt es ja Kitekat.
Tổng kết lại thì các bạn chắc sẽ nghĩ rằng làm "chuột tây" sướng hơn "chuột ta" nhiều. Cũng có thể. Nhưng nếu so về tuổi thọ thì tôi không chắc lắm. Chả là kỳ nghỉ hè vừa rồi tôi đi thăm một người bạn. Con gái bạn ấy có nuôi một con "chuột tây" xinh xắn đặt tên là Chewy. Tôi được tận mắt chứng kiến cảnh chú Chewy đấy bị con bé nựng nịu, vần lên vần xuống, rượt bắt quanh nhà, lục tung cả các tủ quần áo, xây chuồng bằng Lego rồi giam lỏng chú Chewy trong đó, và nhiều trò chơi quái đản khác mà tôi không thể diễn tả hết được. Một tuần sau hôm tôi về thì nhận được "i meo" của bạn tôi "báo tử" chú Chewy, chuyện mà tôi đã đoán trước rồi khi nhìn thấy con bé con chơi chuột. Không cần phải là bác sĩ thú y tôi cũng chẩn được bịnh án tử vong của chú "chuột tây" này: chết vì đứt tim mạch.
Als Kind hörte ich eine vietnamesische Ode:
Die Katze klettert auf den Baum und miaut:
„Bist nicht zu Haus? Liebe Maus ?“
Die Maus ist unterwegs auf vier Bein’
Kauft Leckereien für den hungrigen Feind
Nach allen Betrachtungen würdet ihr wahrscheinlich zu der Meinung kommen, dass der Lebensstandard der „westlichen Maus“ höher als das der „asiatischen Maus“ sei. Es mag wohl stimmen. Jedoch die durchschnittliche Lebenserwartung ist eventuell für die „westliche Maus“ niedriger als für die „Asiatische“:
In den letzten Sommerferien waren wir bei meiner Freundin in Los Angeles zu Besuch. Ihre Tochter hatte eine niedliche „westliche Maus“ namens Chewy. Ich habe mit eigenen Augen mit ansehen müssen, wie Chewy auf liebevoller Art malträtiert wurde, wie z.B. am weißgrauen Fell gekrault oder gerieben werden; am Schwanz hinaufgehoben werden oder auch, als Herstellung einer natürlichen Lebensumgebung, gejagt (weil Chewy vor lauter Angst sich hinter Schränken, unter Sofa versteckt hat) zu werden. Ein Mäusekäfig war zu einfach. Aus diesem Grunde wurde ein Kolosseum aus Legosteinen gebaut und Chewy drin gefangen halten. Mit der hilflosen Maus wurden dann diverse Mit-Worten-Nicht-Beschreibare-Spiele veranstaltet.
Eine Woche nach dem ich wieder daheim war, erhielte ich eine traurige Email von meiner Freundin: Chewy ist von uns gegangen oder viel mehr geflüchtet! Das überraschte mich gar nicht. Ich brauchte kein Tierarzt zu sein, um die Todesursache von Chewy festzustellen: Myokardinfarkt, ein Absterben oder Gewebsuntergang von Teilen des Herzmuskels.
Quanh đi quẩn lại thì chuột nào cũng là... chuột. Đã là chuột là thuộc về loài thú yểu mạng rồi. Vì vậy khi con tôi xem chán chê chỗ hồ cá quay sang hỏi:
"Mẹ ơi, cho con nuôi chuột nhé ?"
thì tôi đã có đầy một bụng những lý do để gạt đi cái ý tưởng điên rồ ấy.
Rau má (01/2008)
Lange Rede, kurzer Sinn: Maus bleibt … Maus. Als „westliche Maus“ gehört man (bzw. Chewy) zu der Tiergattung mit einer sehr niedrigen, eher unberechenbaren Lebenserwartung.
Nach dem meine Tochter sich von den Fischen verabschiedet hat und mich fragte:
„Mama, darf ich eine Maus halten?“ war ich bereits mit Argumentationsketten bewaffnet, um diese törichte Idee im Keim zu ersticken.
Von Gerhard frei übersetzt