THỨ TỰ VÀ CÔNG ĐỨC
_ Tham khảo theo tài liệu của làng làm chay tại chùa năm Gia Long thứ 5 tức là ngày mồng tám tháng sáu năm Bính Dần, cũng như tục truyền trong làng thì thứ tự các Ngài Thỉ Tổ như sau :
1. Hoàng Khi đại lang
2. Bà Ưu Bà Di Hoàng Thị Phiếu, pháp danh đạo hiệu Huyền Chân Như Giác Linh Vân Tòa.
3. Trương Hân đại lang
4. Dương Đại lang
5. Đặc tấn Phụ Quốc thượng tướng quân bản thổ Trần Vực Quí công tôn thần
6. Bản thổ Trương Quí công tôn thần
7. Bà Hà Thị Cố Quí nương
8. Nguyễn Tượng đại lang
9. Nguyễn Phước Lễ đại lang
10. Hoàng Nhất đại lang
11. Trần Yết (Át) đại lang
12. Trương Sáng đại lang
13. Đỗ Nhất đại lang
14. Hoàng Kim Cao đại lang
15. Trịnh Bá đại lang.
_ Tiếp theo là con cháu của các Ngài Thỉ Tổ của các họ : Hoàng Khánh đại lang , Trương Huân đại lang , Dương Độ đại lang , Trần Chuyên đại lang , Nguyễn Dư đại lang , Nguyễn Phước Lung đại lang , Hoàng Nhị đại lang , Trần Luật đại lang , Trương Khắc Hòa đại lang , Hoàng Kim Tăng đại lang , Hoàng Khai đại lang , Hoàng Văn Doãn đại lang , Trương Chẩm đại lang , Dương Nghiệp đại lang , Trần Thành đại lang , Nguyễn Đức đại lang , Nguyễn Phước Xuyên đại lang , Hoàng Tam đại lang , Hoàng Dự đại lang , Đỗ Tam đại lang , Hoàng Kim Cổ đại lang , Hoàng Chữ đại lang , Hoàng Khắc đại lang , Hoàng Hùng đại lang , Huỳnh Bá Luân đại lang , Hoàng Tam đại lang , Trương Hán đại lang , Trương Chỉ đại lang , Nguyễn Thục Tín đại lang , Hoàng Lâm đại lang . Trương Công Trục đại lang , kêu danh ông Tấn Hoàng đại lang , Hoàng Phi Hùng đại lang , Hoàng Quảng đại lang , Trương Kiểm đại lang , Trương Biện đại lang , Trương Chơn đại lang , Trần Trá đại lang , Nguyễn Văn Duyên đại lang , Nguyễn Phước Mích đại lang , Hoàng Cuộc đại lang , Trần Thiểm đại lang , Trương Khắc Ninh đại lang , Đỗ Chống đại lang , Trương Bá Ngưỡng đại lang , Hoàng Lôi đại lang , Hoàng Ngọc Trợ đại lang , Hoàng Khiên đại lang , Hoàng Bá Chương đại lang , Hoàng Văn Lữ đại lang , Trương Tải đại lang , Trương Chu đại lang , Trương Công lượng kêu ông Nói , Dương Phước Lãnh đại lang , Trần Văn Khách đại lang , Nguyễn Văn Nghĩa đại lang , Trần Ngọc Tu đại lang , Trương Khắc Túc đại lang , Đỗ Bằng đại lang , Hoàng Kim Ngõ đại lang , Hoàng Tô đại lang , Hoàng Càng đại lang , Hoàng Tín đại lang , Hoàng Bá Lưu đại lang , Hoàng Lâm đại lang , Trương Tẩy kêu danh ông Cấm đại lang , Trương Công đại lang , Trương Mộc đại lang kêu danh ông Ba , Dương Tử Lư đại lang , Trần Văn Nội đại lang , Nguyễn Văn Chương đại lang , Nguyễn Đức Du đại lang , Hoàng Cội đại lang , Trương Đống đại lang , Trương Công Dụ đại lang , Đỗ Bồng đại lang , Hoàng Tường đại lang , Đỗ Trường đại lang , Hoàng Bác Đức Quí công , Hoàng Điện đại lang , Cai cơ Thọ lộc hầu Hoàng tướng công, Hoàng Văn Suốt đại lang , Trương Văn Bảo đại lang , Trương Nhân đại lang , Dương Tử Phồng , Trần Kim Quị , Nguyễn Văn Tiết nhị lang , Nguyễn Đức Tính đại lang , Hoàng Thiêm đại lang , Trần Lự , Trần Công Luận , Đỗ Sòng đại lang , Phổ cập hương trung các tộc , Cao , Tằng , Tổ , Khảo , Cao , Tằng , Tổ , Tỷ nhất thiết tiên viễn u đới đẳng chi hương hồn.
_ Một sự kiện làm chúng ta lưu ý : " Không thấy danh các Ngài Thỉ tổ bốn họ : Phan , Lê , Nguyễn , Võ ". Đến triều Duy Tân lúc đầu, Võ hiển điện đại học sĩ , Hiền Lương Bá Trương Như Cương thiết lập đại đàn cuộc làm chay tại Chùa cảm tạ thần linh và báo đáp công đức của Tiền hiền Thỉ Tổ, lúc đó Người mới thiết thêm một ngoại án phối các ngài Phan , Lê , Nguyễn , Võ .
_ Phương danh quý tánh các Ngài trên đây sao y nguyên văn trong bản văn điệp lưu tại Chùa năm Bính Dần, Gia Long ngũ niên ( Bản văn điệp ấy bằng chữ Hán có in đính kèm theo sau). (4)
(4) : Do điều kiện in ấn chữ Hán hiện nay quá khó khăn, chúng tôi xin phép được cắt phần này.
VỀ PHẦN CÔNG ĐỨC
_ Trước khi có ghi chú phân minh trong hương phổ, nhưng bị thất lạc vì giặc đốt phá không còn tài liệu tham khảo. Tuy nhiên hiện còn sót lại một tập châu bộ của làng từ năm Gia Long thứ 14, song trong châu bộ ấy chỉ ghi những phần canh của các nghiệp chủ điền thổ mà thôi.
_ Căn cứ trong các đạo sắc phong của các Ngài Thỉ Tổ khai canh, khai khẩn qua các triều : Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại mà nhận xét thì thấy ngay là việc khai sáng làng xóm đều là công đức lớn của các vị Thỉ Tổ của 12 họ (5) . Những lời phong sắc của các ngài, năm Duy Tân thứ 7 đều có câu : "bản thổ Thỉ Tổ Dực Bảo Trung Hưng linh phò chi thần ". Tiếp tục con cháu các ngài có công khai khẩn thêm các phường, cũng năm Duy Tân thứ 7 được sắc phong khai khẩn :
Khai khẩn phường Khánh Mỹ , Ngài Trần Ngọc Lãng.
Khai khẩn phường Công thành , Ngài Hoàng Ngọc Tích.
_ Năm Khải Định thứ 9, sắc phong khai khẩn phường Đất Thắm gồm các ngài : Hoàng Ngọc Tuấn , Trần Văn Công , Hoàng Thanh Vật.
Khai khẩn phường Hưng Long các Ngài : Dương Phước Lộc, Dương Phước Dã.
Khai khẩn phường Triều Dương các Ngài : Nguyễn Đức Thọ, Trương Công Cổ và Hoàng Quý Công ( Các ngài này không có sắc phong, nhưng có miếu thờ ).
(5) Người xưa dựa vào các yếu tố "nhị thập tôn phái" để thành lập làng : Sĩ - Nông - Công - Thương. Ngư - Tiều - Canh - Mục. Cầm - Kỳ - Thi - Họa.
_ Tiền khởi Hiền Lương chỉ có 6 họ, hậu tập thêm 4 họ. Hiện nay qua 15, 16 đời ở Hiền Lương có 16 họ ( Đúng hơn là từ một ông Tổ họ chia ra nhiều nhánh, phái để tiện thờ cúng cũng như tình cảm họ hàng).
_ Nếu Ngài nào không có miếu, đều được dân làng đóng ruộng "thưởng". Trong Hương ước có câu "Hữu miếu vô điền, hữu điền vô miếu". Ruộng thưởng ấy khác với ruộng hương của các vị Thỉ Tổ.
_ Đến triều Khải Định, một hương ước khác ra đời dưới sự chiếu hội cỉa Á chỉ Bô chánh trí sự Trương Quang Toản, bãi bỏ điều khoản đóng ruộng thưởng cho bốn Ngài không có miếu.
_ Trong hàng con cháu các Ngài Thỉ Tổ, có hai Ngài xuất tịch đứng khai canh hai làng. Cứ trong gia phả họ Hoàng tức là cháu ba đời ngài Hoàng Khi đại lang : Hoàng Khắc, hiện khai canh và Thỉ tổ họ Hoàng làng Kế Môn.
_ Ngài Hoàng Hùng, hiện khai canh và Thỉ Tổ họ Hoàng làng Cao Bang.