NHÂN VẬT
_ Riêng gia phả của các họ. Ở đời Hậu Lê, họ nào cũng có nhiều Ngài xuất sĩ và quận công : Chánh ty quan, Ký lục quan, Cai cơ, Vệ úy ; cũng có ngài thọ tước : Hầu, Bá, Tử, Nam. Về khao mục : Hương đồ, Hương cống đều có cả.
_ Tuy nhiên, trong hương phả lúc chưa bị giặc tiêu hủy không thấy chép.
_ Vì vậy, chỉ biên lục lại các Ngài được làng ghi, hoặc giả sử trong làng có truyền tụng cũng như quốc sử lục biên, và những Ngài có danh vọng trong thời trọng đại.
Các Ngài :
_ Trần Vực : Phò Lễ thụ chức "Đặc tấn phụ quốc Thượng tướng quân". Người là một vị anh hùng tiển khỉ của làng. Theo giả sử các bậc lão trượng trong làng truyền tụng : Người cầm quân xuất trận đánh giặc Chiêm lâm nạn, nhưng vẫn ngồi trên yên ngựa phi về làng ; khi ngang qua xóm Thượng An, vừa gặp bọn mục đồng quở. Người hỏi : có sống được không ? Bọn chúng thưa : Không thể sống được. Người liền ngã xuống ngựa chết. Hiện lăng Người an trí tại đó.
_ Riêng hùng mã chạy thẳng về đến địa đầu làng, thuộc địa phận Cổ Tháp, đứng hý một hồi, tỏ ý báo cho làng biết và luyến tiếc chủ tướng rồi chết.
_ Hoàng tướng công : Trong tài liệu của làng không thấy ghi tên, phò Lê làm đến Cai cơ Thọ lập hầu. Được Nguyễn triều phong "Dực Bảo Trung Hưng Bản thổ Tôn Thần".
_ Có công đức với làng nên liệt tự tại Đình Xuân kỳ Thu tế. Vì không miếu, nên làng có đóng ruộng thưởng giao cho họ nhang khói.
_ Hoàng Văn Lang : Nguyên phò Lê, diệt Trịnh. hiện gia phả họ Hoàng còn bảo thủ đạo thủ sắc phong đằng cao trúc của vua Lê Cảnh Hưng phong cũng như gia phả họ Hoàng chép :
_ Đặc tấn phụ quốc Thượng tướng quân, Đô chỉ huy sứ Đại Chiêm, Hải môn tuần quan Lược tài hầu.
_ Người có công đức lớn với làng nên được liệt tự tại Đình Xuân kỳ Thu tế và cũng được có đóng ruộng thưởng.
_ Lăng Ngài an táng tại Cồn Bệ là chỗ trung tâm của làng.
_ Hoàng Văn Huệ : Tham khảo gia phả họ Hoàng, Người là bào đệ của Lược tài hầu Văn Lang và cũng đồng thời dưới triều Lê Cảnh Hưng phong : Tả quân Thần oai Dinh hổ lực vệ Hộ quân Đô úy Đốc chiến Tống Quang Hầu".
_ Hoàng Văn Cầu : Chiếu trong gia phả họ Hoàng, người là thúc tổ của Hình bộ lang trung Hoàng Văn Hiến. Phò chúa Nguyễn Phước Ánh đến nhất thống sơn hà. Kỷ nguyên Gia Long, thăng Phó vệ Vọng Cát và sau đó người chết tại Xiêm, được quân thứ đem di cốt về và cũng được làng vinh táng tại Cồn Bệ.
_ Nguyễn Lương Đàng (15) : theo gia phả họ Nguyễn, Người làm đến Hữu quân sung Nam Nghĩa trấn Tổng Đốc ; phụng chỉ dẹp yên loạn Lê Văn Khôi (16) Bình Thắng Nam.
_ Tham khảo Đại Nam Nhất Tống Chí : Người đầu nhập quân sự năm Tân Dậu tức là ngày trước ngày Vua Gia Long chưa nhất thống một năm. Đến năm Gia Long thứ mười được bổ thọ Tiểu Sai Đội trưởng. Niên hiệu Minh Mệnh năm đầu, thăng chức Cai đội. Năm Minh Mạng thứ 16 có công đánh ở Thành Phiên An (17) thành được khen và thăng thọ Vệ úy ; Tiếp bổ vụ ra Thanh Hóa lập được nhiều công, thăng thọ Lãnh binh hai tỉnh Quảng Bình, Thanh Hóa.
_ Niên hiệu Thiệu Trị năm đầu, thăng thọ Chưởng vệ, bổ ra lãnh binh An Giang đề đốc ; tiếp bổ Tiền Phong, Vũ Lâm Nhị Dinh thống chế. Năm Thiệu Trị thứ 7 thụ Tiền phong Dinh Đô thống, cải Hữu quan Đô thống phủ Đô Thống Lãnh Nam Nghĩa Tổng đốc. Đến năm Tự Đức thứ 2, thọ bệnh chết.
_ Người được vua Thiệu Trị trọng dụng và kết làm thông gia, con trai Người được chọn làm phò mã.
_ Năm Tự Đức thứ 11 dụ chuẩn thọ liệt tự tại Hiền Lương Từ.
----------------------
(15) Đại Nam Nhất Thống Chí chép : Nguyễn Lương Nhàn.
(16) Lê Văn Khôi là Nguyễn Hữu Khôi, người Cao Bằng, nhân khởi binh làm loạn bị quan quân truy đuổi bỏ chạy vào Thanh Hóa gặp lúc Lê Văn Duyệt đang kinh lý Miền ngoài. Duyệt thu nhận, tin dùng làm con nuôi, đổi họ thành Lê Văn Khôi, đem về Gia Định cho giữ chức Phó vệ úy. Sau ngày Tổng trấn Lê Văn Duyệt chết (25-8-1833), Vua Minh Mạng bãi chức Tổng trấn Gia Định, đặt chức Tổng đốc, Tuần phủ, Án sát, Bố chánh, lãnh binh.
_ Lúc này Tổng trấn Gia Định Nguyễn Văn Quế, cùng quan Bố chánh Bạch Xuân Nguyên, vốn kẻ hèn kém, tham lam, nói rằng : Phụng mật chỉ Nhà Vua để tra xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, nên đã ra lệnh bắt bớ, giam cầm, trừng trị một số thuộc hạ của Lê Văn Duyệt ngày trước, trong đó có Lê Văn Khôi.
_ Phần vì tức giận, phần nghĩ mình vô tội nay bị vạ lây, đã trốn tù, tập họp quân sĩ dấy binh làm loạn...
_ Cuộc loạn chiến kéo dài từ đêm 18-5 Quí Tị (1833) năm Minh Mạng thứ 14, đến tháng 7 năm Ất Mùi (1835) mới chấm dứt...
(17) Ngày nay là thành Gia Định
----------------------
_ Hoàng Văn Gia : Tham chiếu tài liệu của làng làm chay trong lễ khánh thành Chùa nói trên, người cũng đứng vào hàng Hương quan đồng thời với Hữu quan Nguyễn Tướng quân.
_ Tham khảo gia phả của gia tộc họ Hoàng, thời người làm đến "Đặc Tấn Hùng Liệt Tướng quân, Quan quân sứ, Chưởng cơ Quản Thị nội sung Tượng, Dạ Tượng, Nội ngoại chư phủ Đẳng cuộc Trang Đức Hầu".
_ Hoàng Văn Lịch :Tham khảo trong bức văn điệp của làng khánh thành chùa Giác Lương Năm Gia Long Bính Dần thì Người cũng đồng thời với Hữu quan Nguyễn Tướng quân.
_ Tham khảo gia phả họ Hoàng chép : Người công nghệ tinh xảo, đã từng phát minh, chế tàu thủy, đúc súng. Được Vua Minh Mạng ưu đãi, thọ phong "Lương Sơn Hầu".
_ Tham khảo "Chánh biên liệt truyện" (Quốc sử) thấy chép: Ngày ... tháng tư năm Kỷ Hợi (1839), Vua Minh Mạng ngự ra cầu Bến Ngự để coi chiếc tàu thủy của Võ khố mới chế tạo. Bất đồ nồi hơi bể, tàu không chạy được. Vua cách chức quan Bộ công.
_ Chánh Giám đốc Hoàng Văn Lịch đứng ra đốc suất chế tạo lại được chạy tốt. Vua rất sung sướng, bèn thưởng : Một trự tiền vàng Long phi đại hạng, một chiếc nhẫn bằng pha lê khảm vàng và thưởng chung cho đốc công, binh tượng một ngàn quan tiền. Vua truyền : Tàu này mua bên Tây cũng được, nhưng ý trẩm muốn cho binh tượng nước nhà được tinh xảo máy móc, nên không kể phí tổn.
_ Tháng mười năm ấy, Vua truyền Bộ Hộ chuẩn chi một vạn một ngàn quan tiền đóng thêm tàu thủy để cho binh tượng am tường cơ khí, tổn phí không kể.
_ Năm Canh Tý (1840), tháng bảy đã làm xong ba chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước. Được Vua đặt tên :
Chiếc tàu lớn, YÊN PHI
Chiếc tàu vừa, VÂN PHI
Chiếc tàu nhỏ, VỤ PHI
_ Tiếng của Người được lưu truyền trong Quốc sử, cũng như trong làng xóm còn truyền tụng.
_ Hoàng Văn Văn : Thứ nam của Trang Đức hầu Hoàng Văn Gia Tông, bổ thọ Đặng Sĩ lang. Dười triều Thiệu Trị dâng sớ lên Vua xin đào hói Lợi Nông.
_ Tham khảo trong gia phả họ Hoàng thấy chép : Đước Vua nhìn thấy hai chữ "Văn Văn", liền châu phê cải "Hữu hoán" và bị chú "Hoán hồ kỳ hữu văn chương". Gia đình họ Hoàng từ đó đều lấy chữ "Hữu" thay chữ "Văn" lót.
_ Hoàng Văn Kim : Theo gia phả họ Hoàng, người thi đỗ Hương cống (cử nhân) đời Hậu Lê. Triều Gia Long xấut sĩ làm quân đến Tri phủ vừa mệnh chung.
_ Trong làng truyền tụng Người đã khai khoa cho làng.
_ Hoàng Văn Hiến : Bào điệt của Phó vệ Hoàng Văn Cấn, xuất thn làm thơ lại dưới triều Thiệu Trị làm đến Hình bộ viên ngoại lang (Lang trung).
_ Dương Phước Vịnh (18) : Thi đỗ đại khoa (phó bảng), giữa triều Thiệu Trị. Đồng thời là bạn với ông Đặng Huy Trứ (19), hiện mộ Người tại La Vừng, có bia chí của Đặng Tiên Sinh dựng và khắc lời Minh.
_ Người tính tình trung hậu, văn chương lỗi lạc, đã sáng tác nhiều bài văn tế lễ đám tang, có chế tác hương ước. Làm đến Tuần vũ, lâm bệnh mất sớm. Người cũng là thi đỗ đại khoa khai khoa cho làng.
_ Hoàng Văn Bửu : Xuất thân võ cử giữa triều Thiệu Trị, bào điệt của Lang trung Hoàng Văn Hiến. Làm đến Quản vệ ; từng chinh phạt bọn thổ phỉ các tỉnh : Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng và Yên Bái cũng như giao chiến với bọn giặc Cờ Đen (Lưu Vĩnh Phúc), cộng tác với Tổng đốc Hoàng Diệu, thủ thành Hà Nội kháng Pháp. Bị thất thủ, tổng đốc Hoàng tử tiết đền nợ quân vương. Người còn sống sót, triều đình bắt tội, cách chức hồi quán.
----------------
(18) Theo Gia phả họ Dương : Hiền tế của Chánh giám Hoàng Văn Lịch.
(19) Đại Nam Nhất thống chí chép : Cháu của "Cử Nhân Đặng Văn Thiêm" Người làng Thanh Lương, huyện Hương Trà, khi nhỏ dỉnh ngộ có tiếng là thần đồng. Năm 1847 đậu Hương tiến. Đầu niên hiệu Tự Đức giữ chức Tri huyện, thăng thọ Bố chánh sự Nam Định, đổi về Biện lý Bộ Hộ rồi Bình chuẩn sứ ty. Nghĩa là đầu mùa lúa rẻ, nhà nước mua trữ, khi mất mùa giá cao đem bán cho dân ngang giá khi mùa vào. Nhân có lỗi bị giáng xuống hàm Trước tác sung lang biện Ninh thái, rồi mất. Kẻ thức thời đều tiếc. Ông bình sinh có trước thuật "Hoàng trung thi văn sao", Tứ thập bát hiếu kỷ sự tân biên", "Khang hy canh chức đồ", "Việt sử thánh huấn diễn ca", "Ngũ giới diễn ca", lại khắc các bộ : "Tòng chinh di qui" và "Nhị vị tập".
Một bậc danh tài của đất nước.
----------------
_ Hoàng Văn Tuy : Thi đỗ cử nhân giữa triều Tự Đức. Văn chương lưu loát, tiếng tăm lừng lẫy, trong làng sùng kính bậc tôn sư. Người có trước tác nhiều văn : Triêu điện, Tịch điện, Triệt linh sàn. Di cảo hiện nay có lẽ một vài nhà còn bảo thủ. Cận đại, mỗi khi trong làng có đám tang, mặc dầu trong Thọ Mai gia lễ, loại văn ấy có sẵn. Nhưng trong làng ít viết theo, chỉ theo di cảo của Người hoặc Tuần vũ Dương Quý Cống.
_ Người được vua Đồng Khánh chọn làm phụ đạo và làm đến Tả Đô ngự sử, vừa bệnh, mất, tuổi còn trẻ.
_ Trương Như Cương : Năm 24 tuổi sơ thi đỗ cử nhân giữa triều Tự Đức. Bổ Thừa biện tàng thơ, tiếp Cơ mật, thăng Tư vụ, Viên ngoại, Tri phủ, thăng Án sát tỉnh Hưng Yên, Bố chánh Quảng Bình, Thị lang Bộ Binh.
_ Đến đây kinh thành thất thủ, sau ngày Pháp đặt nền bảo hộ. Vua Đồng Khánh triệu ra nhiệm lỵ Phủ doãn Thừa Thiên, được Vua trọng dụng, bổ Tuần vũ Thanh Hóa, thăng thọ Tổng đốc Thanh Hóa, triệu về thượng thơ Bộ Công, sung Cơ mật viện đại thần, chuyển lên Hiệp biện Bộ Hộ, Bộ Lại, thăng Võ Hiển đại học sĩ, Hiền Lương bá, sung Phụ chánh đại thần.
_ Ngày vua Thành Thái bị Pháp độc quyền truất phế, lợi dụng lòng dân đương sôi nổi về chế độ dân chủ, nhất là giới văn học hâm mộ trào lưu Âu Tây tràn vào như sóng như gió, Pháp định tạo nên một nền dân chủ giả hiệu, trấn tĩnh nhân tâm lúc bấy giờ, mời Người vào Điện Thái Hòa giao quyền lãnh ấn kiếm với chức Nhiếp chánh. người nhất quyết giữ dạ trung quân, từ khước và đòi chính phủ Pháp phải thi hành đúng Hòa ước của hai nước đã ký kết. Nhất định theo thủ tục "phụ truyền, tử kế" phải tôn Đức Duy Tân con Vua Thành Thái nối ngôi trị vì.
_ Chứng minh lòng trung của Người đối với Vua Thành Thái là : Lúc bấy giờ vua Khải Định còn đương Phụng Hóa Công ( Hoàng cả ) là nghĩa tế của Người mà Người không đề cập tấn tôn, dẫu sao Người cũng thọ ơn vua Đồng Khánh trọng dụng 3 năm.
_ Triều Duy Tân phong "Hiền Lương hầu". Năm Duy Tân thứ 10. Vua Duy Tân khởi nghĩa kháng Pháp thất bại bị đày qua Châu Phi. Lúc đó Phụng Hóa Công đã li dị con gái Người cách mấy năm. Người mới đề nghị tôn lên trị vì lấy hiệu là Khải Định.
_ Năm Khải Định thứ 2, vì tuổi già sức yếu, Người dâng sớ xin hồi hưu. Cách năm sau tạ thế, tấn phong : Văn Minh Điện Đại học sĩ, chung thọ 76 tuổi.
_ Đời tư của Người đối với giang sơn tiên tổ cũng như nhân dân trong làng một niềm ưu ái. Chứng minh hai việc sau đây : cuối triều Thành Thái, Người lo việc báo đáp thầnlinh, thiết lập Đại đàn cuộc tại Chùa làng, làm chay luôn mấy ngọ, cảm tạ thần linh và báo ân tất cả các Ngài Thỉ tổ của các họ. người không quên đến bốn vị Thỉ tổ hậu phụ : Phan , Lê, nguyễn , Võ, thiết riêng ngoại án cầu chư Phật gia hộ.
_ Đối với nhân dân, năm mất mùa, thuế khóa bất kham, Người cũng cho toàn thể dân làng số bạc lớn để đài thọ thuế vụ.
_ Đối với ngoại tộc. Cùng trong thời gian ấy, Người cũng không quên Tổ tông bên Ngoại, thiết lập trai đàn tại nhà thờ họ Ngoại, làm chay luôn mấy ngọ, cầu nguyện tất cả tiên linh bên Ngoại tộc giải thoát siêu thăng gọi là báo đáp.
_ Về thần thoại tương truyền : Sau khi vua Đồng Khánh lên ngôi kế vị vua Hàm Nghi, sợ họa quyền thần đã diễn ra sau ngày vua Tự Đức băng hà, phế lập "tứ nguyệt tam vương". Vua liền lên đền Ngọc Trãn (Điện Hòn Chén), là một đền linh ứng nhất đời bấy giờ, cầu Thánh mẫu, hỏi giữa triều thần, hiện thời ai trung quân ái quốc để trọng dụng.
_ Thánh mẫu giáng bút phê : Trương Như Cương. Vì lẽ đó, vua đặc biệt lưu ý đến Người, bổ ngay làm phủ doãn Thừa Thiên bất chấp lệ Hoàng gia, không bao giờ bổ người bách tánh trọng trấn trong địa hạt nhà Vua. Trong thời gian ba năm, từ Thị lang, Phủ Doãn, Tuần vũ, Tổng đốc lên Hiệp biện Đại học sĩ, sung Cơ mật viện đại thần.
_ Trương Phước Lưu : Trưởng tử của Lãnh binh Trương tướng công, xấut thân Trường Võ bị Anh danh và đỗ Võ cử. Bổ Cấm binh chánh đội trưởng, hiệp tác dưới cờ chiến đấu của tiểu sứ Ông Ích Khiêm kháng Pháp tại mặt trận Thuận An năm Quý Mùi 91883) bị tử trận. Được vua phong Chiến sĩ trận vong và con cháu truyền tập thừa tự.
_ Trần Đình Bá : Xuất thân khoa giáp, văn chương lỗi lạc, đỗ đại khoa (Phó bảng) giữa triều Thành Thái. Sơ bổ Thừa biện, thăng Thừa chỉ, Tri huyện, Tri phủ, Chưởng án, Án sát Thanh Hóa, bổ chánh Hà Tịnh, thị lang Bộ Hình, Bố chánh Quảng Bình, Tuần vũ Quảng Ngãi, Tổng đốc Nghệ An, thăng thọ Hiệp tá Đại học sĩ lãnh Hình bộ thượng thư, sung Cơ mật viện đại thần.
_ Năm 1925, thừa cơ vua Khải Định băng cờ, chánh phủ bảo hộ đặt ra một hiệp ước, thu hồi hết quyền hành của Vua, quan triều đình Huế. Các quan Cơ mật viện đều đứng ký. Duy chỉ Viện trưởng Nguyễn Hữu Bài và Người phản kháng bởi trái với hiệp ước 1864 (20) giữa hai nước đã ký kết.
_ Vì lẽ đó mà an táng Vua Khải Định xong, Người về hưu, thọ tước Phò Ninh Nam.
_ Về đời công của Người, dân Thanh Hóa hiện còn nhắc nhở đến lúc Người làm An sát tỉnh ấy : Giữa lúc phong trào Cần Vương hạ màn, Duy Tân nổi dậy, thừa cơ đục nước béo cò, bọn lưu manh lập công cũng như thù oán đã tạo ra những giấy tờ vu oan cho dân lương thiện. Người minh xét một hồ sơ vu cáo do Tòa Sứ giao qua với danh sách toàn thể thân hào nhân sĩ gồm trên trăm người đều được người minh oan và miễn nghị tất cả.
_ Tổng đốc Nghệ An cũng được dân mến phục, tính tình trung hậu. Vì thế khoảng năm 1931-1932, phong trào Nghệ Tĩnh bạo động, viên Khâm sứ Trung kỳ biết người từng trong trấn hai tỉnh Nghệ Tĩnh được dân kính phục, mặc dầu Người đã trí chánh mà viên Khâm sứ vẫn thân hành đến nhà riêng mời người đi tiết chế An-Tinh, Người nhất định từ chối không chịu nhận lời mời vô nghĩa của Pháp.
_ Đối với làng xóm, bà con trước sau như một, giữ niềm thuần hậu nhân ái. Người nhận thấy các thôn ấp, công quỹ nghèo nàn nên đã trợ giúp một số bạc lớn, trãi phân cho các xóm, mua ruộng giúp vào tư mãi của xóm.
_ Các xóm hiện nay còn ruộng tư mãi là do số bạc của Người giúp năm còn làm Tổng đốc Tỉnh Nghệ An.
_ Chung thọ 68 tuổi, được truy phong Đông các đại học sĩ với mấy chữ "Thuần Thần khả gia" (21)
---------------------
(20) Tác giả nhầm với Hiệp ước ký ngày 15-3-1874 (21-1 Giáp Tuất) tại Sài Gòn do Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường đại diện cho phía Việt Nam. Đô đốc Dupré đại diện cho phía Pháp. Hiệp ước gồm 22 khoản : gồm các khoản quan trọng sau đây :
_ Khoản 2 : Pháp công nhận quyền độc lập của Việt nam, sẵn sàng bảo vệ an ninh trong và ngoài nước nếu VN cần.
_ Khoản 15 : Người Pháp hoặc ngoại kiều có giấy tờ của Pháp và kèm lời phê nhận của quan Việt Nam sẽ được quyền đi lại các nơi trong nước.
_ Khoản 16 : Người Pháp hoặc ngoại kiều được quyền lãnh sự tài phán (nghĩa là khi có kiện tụng hay vi phạm luật lệ giữa Pháp với các ngoại kiều, hoặc với Việt Nam thì do lãnh sự Pháp xét xử thay vì Việt Nam).
_ Khoản 19 : Pháp được đặt Tòa lãnh sự tại Huế, ngược lại Việt Nam cũng có quyền đặt lãnh sự tại Sài Gòn và Paris.
_ Ngày 15-7-1864, Việt Nam và Pháp ký một thỏa ước nhưng bất thành. Chưa ráo mực đã bị xóa, quay lại hiệp ước 1862 ?
(21) lăng mộ ông được an táng tại xóm Phú Lễ, thuộc làng Phú Lễ, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền. ( Đây là ranh giới giữa Hiền Lương và Phú Lễ ).
_ Do thời gian và chiến tranh đã bị hư hỏng nặng năm 1990, người cháu của cụ là Trần Đình Sơn đã trùng tu lại.
_ Được Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên (cũ) công nhận di tích lịch sử văn hóa.
---------------------
_ Trương Quang Toản : Xuất thân lại điền, đầu triều Đồng Khánh bố bát phâm Bộ Hình, thăng Tư vụ, Viên ngoại, Lang trung. Tá lý, thăng Án sát Bình Thuận thuyên chuyển Khánh Hòa, thăng thọ Bố chánh trí sự.
_ Lúc chí chánh, người từng chấp chánh việc làng và có sửa đổi một vài hương ước như : Thâu hồi ruộng thưởng của bốn Ngài Bản thổ. Cải cách đám tang và đám cưới.
_ Hoàng Đại Canh tự cường Trai : Toa Giám học sanh Tú tài thượng hạng đỗ Cống sanh. Triều Thành Thái bổ Điển Bộ Nội các thăng Điển tịch, Kiểm thảo tu soạn Nội các về hưu, thăng họ Hàn lâm viện Thị giảng và được ban thọ quan. Chung thọ 97 tuổi, bình sinh làm thầy địa lý rất tinh thông và làm thuốc cũng danh y, nhưng không phải sanh nhai chỉ giúp trong làng xóm mà thôi.
_ Dương Phước Thiệu : Công nghệ tinh xảo, chuyên môn sửa chữa các loại súng của người Pháp chế tạo và các máy móc, cũng như nghề tiện , nguội, rèn.
_ Đầu nhập ngạch lính tập, được người Pháp trọng dụng làm đến chánh lãnh binh. tánh tình nhân đức, được cơ ngũ khâm phục, chung thọ 66 tuổi.
_ Trương Như Đính : Thứ nam của Văn Minh thượng tướng công, học trò cụ Trần Đình Bá tướng công từ lúc 8 tuổi đến ngày thi đỗ.
_ Năm 18 tuổi, sơ thi đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu dưới triều Duy Tân. Chánh phủ đương thời phái Tây du học tại trường thuộc địa Ba lê. Sau khi tốt nghiệp trở về nước, sơ bổ thừa biện Viện Cơ mật, thăng viên ngoại Bộ học, Lang trung Bộ Binh kiêm Hộ thành Binh mã sứ, thăng Tham tri Bộ Hộ, bổ Tuần vũ Phú Yên, thăng hàm Tổng đốc, thăng Thượng thơ bộ Kinh tế, sung Cơ mật viện đại thần, thăng Hiệp tá đại học sĩ.
_ Sau ngày Nhật đảo chánh (9-3-1945) từ chức về trí sĩ.
_ Năm 1947 , quân Pháp đổ bộ chiếm lại Huế. Cao ủy Pháp mời ra lập chánh phủ và yêu cầu nhậm chức Khâm sai đại thần. Nhưng cụ nhận định tình thế biến chuyển trong nước cũng như quốc tế đã quá rõ ràng, nên giữ vững lập trường, nhất thiết khước từ.
_ Tuổi 50 trở lên, cụ đã chán chường danh lợi, thích thú lâm tuyền, vui cùng văn chương, kinh sách.
_ Trương Như Hy : Đích tôn của Văn Minh Trương tướng công. 18 tuổi thi đỗ Tú tài, 21 tuổi đỗ cử nhân khoa Nhâm tý. Sơ bổ Hành tẩu, thăng Tư vụ Bộ binh, Kinh lịch, Thông phán Quảng Trị, Tri huyện Đức Phổ, Tri phủ Bình Sơn, Hải Lăng, tiếp thăng Án sát Quảng Bình, bổ thọ Thị lang Bộ lễ.
_ Trương Quang Sừng : Một nhà kỹ nghệ, chuyên môn cơ khí, thầy dạy nghề bậc nhất tại trường Bách công của triều đình huế sáng lập dưới triều vua Thành Thái để đào tạo công nghệ cho sĩ tử nước nhà.
_ Người đã có công tác thnhà cho nhiều thanh niên học sinh theo học công nghệ : máy, nguội, rèn, tiện, đúc, gò, v.v... Hiện giờ học trò của Người còn nhắc nhở đến công đức của Người và đã nhiều người lập nghiệp lớn theo nghề đã học.
_ Hoàng Hữu Đức : Hơn 20 năm Chánh tổng sung hội viên Tỉnh hạt từ triều Thành Thái đến cuối triều Khải Định.
_ Mỗi khi hội thương tại tòa sứ, Người đã trình bày dự án lợi ích trong tổng hạt, nhất là vấn đề Cầu Còm cần phải làm ra chiếc cầu vĩnh cửu ( nguyên xưa tay vượn bằng tre). Vì có quan hệ về giao thông, chẳng những là riêng trong Tổng mà đến cả các xã thuộc huyện Quảng Điền đều có ảnh hưởng.
_ Được toàn thể Hội đồng lưu ý, Tòa sứ chấp thuận chuẩn chi công ích làm ngay. Từ đó trở đi con đường cũng như chiếc cầu này được hoàn thành thuận tiện.
--------------------------------------------------------------------
VỀ KHOA GIÁP
_ Từ ngày triều đình thiết lập khoa thi, mỗi khoa thi Văn, Võ không có khoa nào là không có người Hiền Lương thi đỗ. Có khoa đỗ đến 4 cử nhân, hai văn và hai võ. Đó là 4 ông : Trương Như Khuê, Hoàng Như Thức, Cử nhân Văn. Hoàng Vân Bát, Trương Đình Bằng, Cử nhân Võ.
--------------------------------------------------------------------
CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG
_ Tham gia các phong trào cách mạng kháng Pháp, có người bị tù tội, có người không, dầu là họat động chí tử bất biến trong thời bí mật.
_ Hoàng Văn Huy : Tham gia phong trào Duy Tân khởi nghĩa bị tù 9 năm phát bảo, sau giảm còn 3 năm lưu lao Thừa Phủ.
_ Dương Phước Thế : Tham gia phong trào Đông Du và vua Duy Tân khởi nghĩa. Được các đồng chí che chở khỏi lâm hình ngục.
_ Tú tài Hoàng Như Huệ : Con trai độc nhất của Cử nhân Hoàng Như Thức, tham gia phong trào Đông Du và Vua Duy Tân khởi nghĩa. Được các đồng chí che chở khỏi vướng ngục hình.
--------------------------------------------------------------------
THƯỢNG THỌ
_ các ông :
_ Hội chủ Hoàng Văn Thân hưởng thọ 93 tuổi
_ Hội chủ Trương Công Nguyên hưởng thọ ngoại 90
_ Hội chủ Hoàng Đăng Toán hưởng thọ ngoại 90
_ Hội chủ Hoàng Thế Đống hưởng thọ gần 90
_ Thọ quan Hoàng Đại Canh hưởng thọ 97
--------------------------------------------------------------------
ĐỔNG LÝ TRÙNG TU ĐÌNH CHÙA
_ Các ông :
_ Hoàng văn Nhu : Đổng lý trùng tu Đình cuối triều Tự Đức.
_ Hoàng Hữu Ngự : Đề lại hưu trí, Đổng lý trùng tu Đình giữa triêu Khải Định.
_ Trương Như Trứ : Khán thủ, Đổng lý trùng tu Chùa giữa triều Khải Định.
_ Trương Như Cương : Hội chủ, Đổng lý trùng tu Đình giữa triều Bảo Đại.
_ Hoàng Đăng Đạt : Đốc công kiến thiết Đình năm Mậu Tuất (1958).
--------------------------------------------------------------------
LIỆT NỮ
_ Do phong hóa cổ truyền trong làng đúng câu "tam tòng". Được un đúc nhiều thế hệ liên tiếp, đàn bà trong làng bất hạnh tảo quả, mặc dầu đầu xanh tuổi trẻ, vẫn ôm lòng thủ tiết thờ chồng nuôi con.
_ Các bà sau đây được Vua phong bốn chữ "Tiết hạnh khả phong" :
_ Bà Trương Thị : Chánh thất của hóa sinh hoàng Thế Đắc, chồng chết tuổi ngoài 20, sanh được một trai Hoàng Thế Sanh, thi đậu học sanh, làm Ngũ quan Khâm Thiên Giám.
_ Bà Trương Thị Ngoạn : Chánh thất của Cử nhân Hoàng Như Thức, sanh được một trai Hoàng Như Huệ, chồng chết tuổi ngoài 20, thủ tiết thờ chồng, nuôi con ăn học, thi đỗ Tú tài.
_ Bà Trương Thị Ngoạn : Chánh thất của Cử nhân Trần Đình Hòe, chồng chết tuổi chưa đầy 20, sinh được một gái, thủ tiết thờ chồng, nuôi con.
_ Bà Phạm Thị Tri : Chánh thất của ông Hoàng Trọng Dung, sinh một trai, chồng chết 22 tuổi, thờ chồng nuôi con làm nên nghiệp chủ kỹ nghệ và phát minh máy dẫn thủy nhập điền. Được phong "Tiết hạnh khả phong".