NỘI QUY HỌ TRƯƠNG
Xóm An Hội, làng Hiền Lương, xã Phong Hiền,
huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên- Huế
Lời giới thiệu: Nhằm tỏ lòng tôn kính và tri ân Tổ tiên, thực hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” đồng thời tạo mối quan hệ tình cảm huyết thống giữa các thế hệ con cháu phù hợp với đạo lý gia tộc, vào những năm 1986-1988 các bậc tiền bối trong dòng họ Trương Văn An Hội đã soạn thảo ra “ Nội Qui Họ Trương” và được thông qua tại Đại hội của Họ vào ngày 05&06 tháng 12 năm Đinh Mão và được áp dụng kể từ ngày 06 tháng 12 năm Đinh Mão (24/01/1988). Bản “Nội Qui Họ Trương” gồm có các phần sau đây:
· Phần 1: Lời giới thiệu
· Phần 2: Lời tựa
· Phần 3: Lược khảo nguồn gốc Họ Trương
· Phần 4: Nội Qui Họ Trương
Mặc dầu bản này bản nội qui này còn có một vài điểm hạn chế nhất định khi áp dụng trong giai đoạn hiện nay. Song đây là bản “Tộc Ước” đầu tiên của dòng họ chúng ta được kế thừa từ trước được ghi lại và bổ sung thành nội quy và áp dụng từ đó đến nay. Trong khi chờ đợi việc thay đổi một vài điều cho phù hợp, chúng tôi xin phép đăng tải để các thế hệ con cháu trong họ tộc biết. Trong khi biên tập lại, chúng tôi xin phép được sửa chữa tối thiểu một vài từ, vài câu cho phù hợp với ngữ cảnh nhưng vẫn tôn trọng và giữ nguyên các hàm ý nội dung.
Trương Văn Diệm (Trương Tam Phong)
Hậu duệ đời thứ 12 từ ngài Trương Văn Thông
Phần 1:Lời Giới Thiệu
-----&-----
Cổ nhân có câu:
“Cốt nhục tương thân thị đồng bào chi ân ái,
Nhạn hành thất tự trường sanh ai thống chi bi”.
Đại ý nói rằng:
“Anh em gần gũi chân thành
Lâu dài gắn bó tình thương đậm đà
Đừng như chim nhạn lạc bầy
Tôn ti điên đảo nỗi lòng đau thương”
Theo lời thiết tha về tình ruột thịt của cổ nhân nêu trên, Họ chúng ta từ trước vốn đã có truyền thống đoàn kết thương yêu tương trợ lẫn nhau. Mỗi người đều chung một thiện tâm, thiện chí để xây dựng Họ ngày một vững mạnh. Tuy nhiên do công việc tổ chức sinh hoạt Họ chưa được chú trọng, vì thế sự đoàn kết thân ái và các nền nếp sinh hoạt chung của Họ có phần chưa được tốt đẹp. Việc soạn thảo một nội quy nhằm duy trì ổn định các sinh hoạt trong Họ chưa được chú ý, Việc thiết lập các sổ sách hành chánh chưa được đầy đủ. Ý nguyện trên chưa thực hiện được bởi hoàn cảnh chiến tranh người Nam kẻ Bắc, việc đi lại và liên lạc hội họp có phần khó khăn. Hôm nay nước nhà đã thống nhất, anh em Nam Bắc trùng phùng hội ngộ.
Họ nhận thấy cơ duyên thuận lợi nên đã tổ chức phiên họp đầu tiên vào ngày 21 tháng 6 năm Bính Dần (27/7/1986) tại nhà thờ nhánh Văn (nhà anh Bỉnh) xóm An Hội, thôn Hiền Lương nhân ngày húy nhật Thỉ Tổ của Nhánh này. Phiên họp do bác đương kim Trưởng Họ chủ trì cùng với ba vị Trưởng Phái và đầy đủ con cháu các cấp. Qua phần thảo luận sôi nổi buổi họp đã đi đến quyết định 7 điểm với mục đích thiết lập toàn bộ sổ sách hành chánh cần thiết và soạn thảo nội quy của Họ.
Phiên họp thứ hai tổ chức vào ngày 05-06 tháng 12 năm Bính Dần (04-05/01/1987), tại nhà thờ Họ.Thành phần tham dự căn bản như phiên họp đầu tiên. Chương trình nghị sự gồm 7 điểm của phiên họp đầu tiên và bầu ban biên tập soạn thảo nội quy và thiết lập các loại sổ sách hành chánh của Họ.
Phiên họp thứ ba tổ chức ngày 15-16 tháng 6 năm Đinh Mão (10-11/7/1987), tại nhà thờ Họ. Thành phần tham dự căn bản như hai phiên họp trước, cộng thêm ban biên tập. Mục đích để thảo luận và duyệt y các bản nội quy của Họ. Bản nội quy này đã được bác đương kim Trưởng Họ Trương Văn Luận và ba bác Trưởng phái: Trương Đình Hào, Trương Văn Đăng, Trương Văn Kỉnh ký và áp dụng kể từ ngày 06 tháng 12 năm Đinh Mão ( 24/01/1988).
Phiên họp thứ tư tổ chức vào ngày 06 tháng 12 năm Đinh Mão (23-24/01/1988) tại nhà thờ Họ. Thành phần tham dự căn bản như ba cuộc họp trên cộng với ban biên tập. Mục đích để thiết lập sổ nhập Họ (sổ căn ngang) của Họ. Trong phiên họp này, hội nghị đã đi đến thống nhất trong việc thiết lập sắp xếp các thành viên trong Họ theo tiêu chuẩn thâm niên nhập Họ và các điều kiện quy định ở chương II thuộc nội quy của Họ.
Với sự tích cực và nhiệt thành của toàn thể thành viên trong Họ, cho đến nay Họ chúng ta đã có được một cơ cấu tổ chức hành chánh rõ ràng và đầy đủ, đưa các sinh hoạt của Họ dần dần đi vào nền nếp, làm cho ai nấy đều hoan hỷ, phấn khởi, kết chặt thêm tình đoàn kết và thân mật.
Tuy nhiên, “Sanh dĩ dưỡng nan”, tức sanh ra thì dễ nhưng nuôi dưỡng thì khó. Họ mong rằng với một cơ cấu tổ chức đã được hình thành như trên cần phải có sự lưu tâm, nhiệt tình thực hiện đúng đắn hầu tạo ra mối đoàn kết thân mật và gắn bó giữa các thành viên trong Họ, đồng thời thể hiện được phần nào việc báo đáp thâm ân đối với tổ tiên và các bậc tiền bối, cũng như tạo sự tin tưởng đối với con cháu mai sau.
Hiền Lương, ngày 24 tháng 01 năm 1988
Tộc Trưởng
(Đã ký)
Trương Văn Luận
Lời Tựa
-----&-----
Mỗi quốc gia đều có Hiến ước lập pháp để duy trì an ninh trật tự trong nước gọi là hiến pháp. Các đoàn thể trong xã hội đều vạch ra quy ước, điều lệ để điều hòa hoạt động của nội bộ đươc tốt đẹp.
Họ chúng ta từ xưa đã có những quy định về tổ chức sinh hoạt của Họ nhưng bất thành văn.Con cháu chỉ truyền khẩu với nhau để thi hành. Trãi qua các biến cố chiến tranh nhất là từ năm 1947 đến năm 1975, con cháu hậu sinh ít về Họ, sinh hoạt sao nhãng nên chẳng ai ý thức vấn đề. Vả lại con cháu trong Họ đều tha phương sinh kế khắp các tỉnh thành, còn lại ở giữa làng rất ít.
Trước hiện trạng này, Họ rất băn khoăn lo nghĩ đến con cháu trong hiện tại cũng như về sau không giữ đúng lề lối khuôn phép của Họ, rồi nãy sinh lộn xộn, mất trật tự trong Họ.
Trong phiên họp ngày 21 tháng 6 năm Bính Dần ( 27/7/1986), Họ đã quyết định lập bản “Nội Quy Của Họ”. Ngày 15-16 tháng 6 năm Đinh Mão (10-11/07/1987), bản dự thảo do ban biên tập của Họ soạn thảo đưa ra thảo luận sôi nỗi giữa cuộc họp Họ đầy đủ đại diện ba Phái và kết quả thông qua các điều khoản nội quy đã lần lượt được chỉnh lý.
Nay bản Nội quy được Họ chính thức chấp nhận và lưu truyền cho con cháu trong Họ tuân thủ với mục đích xây dựng Họ, chung lo việc phụng thờ tổ tiên trong sự hòa thuận, thương yêu nhau, tôn trọng nhau, đồng thời giáo dục con cháu các thế hệ sau noi theo. Chúng ta hãy luôn luôn hướng về Tổ, nhớ ơn các đấng tiền linh, khắc sâu vào tâm khảm câu “ Chim có tổ, người có tông”, “ Uống nước nhớ nguồn”
Bản nội quy này toàn Họ đã quyết định có hiệu lực kể từ ngày 06 tháng 12 năm Đinh Mão (24/01/1988)
Hiền Lương, ngày 24 tháng 01 năm 1988
Tộc Trưởng
(Đã ký)
Trương Văn Luận
Lược Khảo Nguồn Gốc Họ Trương
-----&-----
Chiếu theo phần thứ nhất “Thứ tự và công đức”, tham khảo theo tài liệu của làng làm chay tại chùa Giác Lương, năm Gia Long thứ năm tức là ngày 08 tháng 06 năm Bính Dần (27/07/1806), thì thứ tự các Ngài Thỉ Tổ như sau :
1. Hoàng Khi Đại lang
2. Bà Ưu Bà Di Hoàng Thị Phiếu, pháp danh đạo hiệu Huyền Chân Như Giác Linh Vân Tòa.
3. Trương Hân Đại lang
4. Dương Đại lang
5. Đặc Tấn Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Bản Thổ Trần Vực Quí Công tôn thần
6. Bản thổ Trương Quí Công tôn thần
7. Bà Hà Thị Cố Quí nương
8. Nguyễn Tượng đại lang
9. Nguyễn Phước Lễ đại lang
10. Hoàng Nhất đại lang
11. Trần Yết ( Át) đại lang
12. Trương Sáng đại lang
13. Đỗ Nhất đại lang
14. Hoàng Kim Cao đại lang
15. Trịnh Bá đại lang.
Tiếp theo là con và cháu của các ngài Thỉ Tổ riêng của các Họ gồm 110 vị.
Riêng con cháu thuộc họ Trương gồm có quý ngài: Trương Huân đại lang, Trương Khắc Hòa đại lang, Trương Chẩm đại lang, Trương Hán đại lang, Trương Chỉ đại lang, Trương Hạng Đại lang kêu danh ông Chiếm, Trương Công Trực đại lang, Trương Kiểm đại lang, Trương Điện đại lang, Trương Chơn đại lang, Trương Khắc Ninh đại lang, Trương Trãi đại lang, Trương Chu đại lang, Trương Công Lượng kêu ông Nói, Trương Khắc Túc, Trương Tẩy kêu danh ông Cấm, Trương Công đại lang, Trương Mộc đại lang kêu danh ông Ba, Trương Công Dụ, Trương Văn Bảo, Trương Nhơn đại lang, Trương Văn sanh, Trương Công Luận.
Một sự kiện làm chúng ta lưu ý: Không thấy danh các Ngài Thỉ Tổ bốn họ: Phan, Lê, Nguyễn, Võ . Đến triều Duy Tân, lúc đầu, Võ Hiển Điện Đại Học Sĩ Hiền Lương Bá Trương Như Cương thiết lập đại đàn cuộc làm chay tại Chùa, cảm tạ thần linh và báo đáp công đức của Tiền hiền Thỉ Tổ, lúc đó Người mới thiết thêm một ngoại án phối các ngài Phan, Lê, Nguyễn, Võ .
Chiếu theo theo bổn gia phổ của Họ tu biên năm Bảo Đại thứ hai, ngày 01 tháng 10 năm Đinh Mão (26/11/1927), Trương Bổn phổ quá đơn giản, không ghi sự truyền hệ, chia ra nhánh phái rõ ràng.
Theo Bổn phổ này thì trước hết ghi danh ngài Hiển Thượng Thủy Tổ Trương Hân, kế đến là sáu ngài Hiển Tiên Tổ Khảo. Từ Cao Tằng Tổ Khảo thì không ghi tên. Tiếp theo liệt kê tên các ngài xem như sổ căn ngang (sổ nhập Họ theo thứ tự trước sau)
Về phần chữ lót của Họ, chúng ta nhận thấy lần lượt có các chữ lót: Công, Văn, Thọ, Sĩ, Phước, Nhơn, Tử, Lang, Đại, Duy từ đầu đến trang 23 trong sổ Gia phổ của Họ. Nhiều nhất là Văn , Phước , Duy. Từ trang 23 về sau mới có chữ lót Đình và kể từ trang này lần lượt có các chữ lót Sĩ, Đức, Văn, Phước, Duy, Đình, nhiều nhất là Văn, Phước, Duy, Đình.
Tham chiếu Điệp văn làm chay tại chùa làng Hiền Lương năm Gia Long thứ năm, ngày 08 tháng 6 năm Bính Dần ( 23/07/1806), trong lòng văn ghi những vị đứng tên tế lễ theo thứ tự trước hết là ngài Hội Thủ, Thủ Bộ, kế đến các vị Tộc Trưởng và các vị Hương quan, Hương lão. Vị Tộc Trưởng của họ ta thời đó là Trương Phước Khai đứng hàng thứ ba sau hai vị Tộc Trưởng của hai họ Hoàng. Về phần cung tiến liệt vị tổ tiên thì Ngài Thỉ Tổ Họ chúng ta Trương Hân Đại Lang cũng đứng thứ ba sau hai Ngài Thỉ Tổ Họ Hoàng.
Về tên con cháu các Ngài Thỉ Tổ nhận thấy có tên các ngài Tiên Tổ Khảo của họ chúng ta và tiếp theo có tên Ngài Trương Công… và hai Ngài Trương Văn…(Theo Hiền Lương Chí Lược- Huỳnh Hữu Hiến- Xuất bản năm Nhâm Dần- 1962)
Qua tham khảo gia phổ các Phái, theo thứ tự: Văn, Phước, Duy thì:
· Ngài Thỉ Tổ của phái Văn là Tiền Thần Tướng Trương Văn Thiệu, con của ngài Trương Văn Thông.
· Ngài Thỉ Tổ phái Phước là Trương Phước Hựu, hiệp đồng Trương Phước Hằng, Trương Phước Nghinh.
· Ngài Thỉ Tổ phái Duy là Trương Thọ Mạng, hiệp đồng Trương Thọ Phước, Trương Thọ Vinh ( Hiện nay tự động biệt lập tại phường Khánh Mỹ, xã Phong Thu, huyện Hương Điền, tỉnh Bình Trị Thiên)
Theo truyền thuyết, hằng năm tại Họ ta, vào các dịp lễ kỵ, chạp mã, nhánh việc (*) có trách nhiệm mua sắm lễ vật, và hào soạn cỗ bàn để dâng cúng Tổ Tiên. Năm nọ (tính đến năm 1987 là khoảng 100 năm trước), phái Duy có phạm một lỗi nào đó (?), bị các vị chức sắc trong Họ khiển trách… Từ đó con cháu trong phái Duy bất bình, rồi tự động biệt lập sinh hoạt với ngôi nhà thờ mới tại ấp Khánh Mỹ. Vấn đề đóng góp của phái Duy đối với Họ, cũng như việc tu tạo nhà thờ… đều không tham gia. Hằng năm đến ngày kỵ, chạp mả có một vài đại diện đến dự, hoặc chỉ đến dự vào các dịp Họ có mời trong các việc đột xuất khác.
Từ khi phái Duy (**) tự động sinh hoạt biệt lập thì Họ ta còn hai phái. Do đó vấn đề “nhánh việc” có trở ngại. Vì thế, được sự nhất trí của Họ, phái Văn xuất ra thêm một phái mới là phái Đình, để có ba phái như cũ và vấn đề nhánh việc hằng năm được phần tiện lợi.
Theo gia phả nhánh Văn thì:
· Phái Đình thuộc chi thứ nhất do ngài Trương Văn Thuận đứng đầu
· Phái Văn thuộc chi thứ nhì do ngài Trương Văn Kỷ đứng đầu
Hai ngài Trương Văn Thuận và Trương Văn Kỷ đều là con của ngài Tiền Tướng Thần Trương Văn Thiệu, Thỉ Tổ Phái Văn.
Sự phụng thờ chung của hai phái Đình và Văn đều có ngôi mộ chung là mộ ngài Thỉ Tổ tại xứ Bàu Sen. Hiện nay, về phần thờ tự:
· Phái Đình thờ tại nhà thờ ở xóm Siêu Quần ( xóm Cồn)
· Phái Văn thờ tại nhà thờ ở xóm An Hội ( xóm Hói)
Trên đây, qua tham khảo và lược khảo về diễn biến tổ chức của Họ để con cháu biết được. Chiếu theo thực thể từ xưa để lại thì họ Trương chúng ta gồm có
§ Nhánh Văn
§ Nhánh Phước
§ Nhánh Duy (***)
§ Nhánh Đình (có sau nhánh Duy)
Tưởng nhớ công đức Tổ tiên bao đời vun đắp (Uống nước nhớ nguồn), việc xây dựng Nội Qui của Họ thể hiện mong muốn con cháu hiện nay và mai sau thực hiện tốt các qui ước về quản lý họ tộc, quy định trách nhiệm và bổn phận của các thành viên đối với tộc họ và đối với tổ tiên.
Thiết nghĩ bước đầu soạn thảo nội qui này không làm sao tránh khỏi phần thiếu sót. Yêu cầu con cháu trong Họ quan tâm xây dựng, để bản nội qui này ngày càng tốt đẹp hơn.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(*) Nhánh việc: Hằng năm, một trong 3 Nhánh (hoặc Phái) luân phiên nhau chịu trách nhiệm lo việc giỗ kỵ, chạp mã… Nhánh nào trong năm làm việc trên gọi là Nhánh việc ( hoặc Phái việc).
(**) Tương truyền, vào năm Phái Duy làm Phái việc, bộ phận nhà bếp chuẩn bị, sau đó mang lễ vật đặt lên bàn thờ để cúng. Còn nước luộc thịt heo đã được dùng vào việc nấu cháo ăn lót dạ hôm trước. Các vị chức sắc Họ cho việc làm trên là mắc lỗi, nên đã phạt vạ Phái Duy. Có lẽ đó là căn nguyên gây bất bình. Từ đó, Phái Duy sinh hoạt và lập Họ riêng tại phường Khánh Mỹ.
(***) Không có tài liệu nào ghi chép rõ việc Phái Duy sinh hoạt riêng từ năm nào. Ngày 02 tháng 6 năm Đinh Mão (27/06/1987), Ban biên tập Họ (gồm có Trương Văn Tín ( tức Quả), Trương Phước Dụ, Trương Văn Bính và Trương Văn Tân) thừa lệnh Họ đã đến Khánh Mỹ để tìm hiểu nguồn gốc danh tánh Ngài Thỉ Tổ Phái Duy, đồng thời để biết vấn đề tự động biêt lập của phái ấy… Đoàn đã gặp các bác Trưởng Phái Trương Duy Chung, Bác Giang, Bác Viện, Công.Sau đó họp mặt thân mật tại nhà thờ, cùng xem gia phả của Phái Duy. Được biết nhà thờ Phái Duy này được trùng từ đời thành thái thứ 7 (1895), tính đến nay (1987) gần 100 năm. Qua tìm hiểu, quí bác còn cho biết, kể từ đời bác Mật làm Trưởng Phái và các bác Khánh, Danh… cũng không rõ Phái Duy biệt lập năm nào.
Ban biên tập đã được Phái Duy tiếp đón niềm nở và sau đó dự bữa cơm thân mật.
Nội Qui Họ Trương
-----&-----
Nội Qui được chia thành 4 chương, 16 điều
1) Chương 1
· Điều 1: Danh hiệu
· Điều 2: Mục đích
· Điều 3: Thờ tự
· Điều 4: Bái Tế
2) Chương 2
· Điều 5: Tổ chức
· Điều 6: Nhiệm vụ
· Điều 7: Nghi Lễ
· Điều 8: Quyền lợi
· Điều 9: Phần Kỉnh
· Điều 10: Nhập Họ
3) Chương 3
· Điều 11: Tài Chánh
· Điều 12: Hội Hop
· Điều 13: Tài Sản
· Điều 14: Sổ vàng
4) Chương 4
· Điểu 15: Sửa đổi nội qui
· Điều 16: Kỷ luật
1) Chương 1
Điều 1: Danh Hiệu
Chiếu theo Gia Phả, Họ chúng ta mang danh hiệu là Họ Trương.
Do trong làng có nhiều Họ Trương, để phân biệt các Họ Trương khác, dân trong làng có thói quen gọi Họ ta là Trương Văn, để phân biệt với Trương Như, Trương Đình, Trương Tất…
Điều 2: Mục Đích
Mục đích soạn thảo nội qui là để qui định về cách tổ chức và một số điều lệ xác định để con cháu trong Họ hiện tại và tương lai có một nề nếp cơ bản góp phần xây dựng trong tinh thần cởi mở và đoàn kết .
Điều 3: Thờ Tự
Về vấn đề thờ tự, Họ chúng ta từ trước tới nay đều thờ 3 bàn thờ tại 3 căn và trước mỗi bàn thờ đều có một án tiền.
Căn chính giữa: thờ Ngài Thỉ Tổ và Bà Thỉ Tổ của Họ.
Căn Tả và Căn Hữu: thờ liệt vị Tiên Tổ quá cố nam nữ theo gia phả của Họ.
Điều 4: Bái Tế
· Ngài Trưởng Họ chủ bái.
· Căn giữa: phái Đình
· Căn tả: phái Phước
· Căn hữu: phái Văn
Họ chúng ta trước đây theo thứ tự của các phái gồm có: Văn, Phước, Duy Sau khi phái Duy tự động biệt lập, Họ nhất trí xuất thêm phái Đình với mục đích có đủ 3 phái như cũ. Phái Đình tuy xuất phát sau cùng nhưng trong cả buổi lễ tại Họ đều đứng lễ bái tại căn giữa vì phái này là đàn anh cả 3 phái Văn, Phước, Duy.
Trường hợp phái Đình có vị lên chức Trưởng phái mà thứ bậc anh em trong Họ thấp hơn phái Văn thì vị Trưởng phái đó phải nhường Trưởng phái Văn lạy căn giữa vì phái Đình và phái Văn là anh em đồng một ông Thỉ Tồ phái nên mới có sự nhường nhịn trên – “Huynh đệ tương đồng’’
Phái Phước mãi mãi từ nay về sau trong các buổi lễ lược tại Họ, Trưởng phái Phước đều lễ bái ở căn tả.
2) Chương 2
Điều 5: Tổ Chức
Tổ chức từ Họ đến Chi gồm các Ban trị sự như sau:
ü Cấp Họ gồm có:
· Trưởng Họ
· 2 phó Trưởng Họ ( 1 đệ nhất, 1 đệ nhị)
· 2 thư ký ( 1 chánh, 1 phó)
· 1 thủ quĩ
ü Cấp Phái gồm có:
· 1 Trưởng phái
· 1 phó Trưởng phái
· 1 thư ký
ü Cấp Chi gồm có:
· Trưởng Chi
Điều 6: Nhiệm vụ
1. Trưởng Họ: có nhiệm vụ điều động toàn Ban trị sự, điều khiển và kiểm soát toàn con cháu của Họ thực hiện đúng nội qui của Họ
2. Phó Trưởng Họ: Thay thế, điều hành khi Trưởng Họ vắng mặt và giúp Trưởng Họ thừa hành nhiệm vụ
3. Thư ký Họ: Có nhiệm vụ giữ các sổ sách của Họ, nhật tu văn thư đi, đến, soạn thảo văn thư, báo cáo mọi sinh hoạt của Họ, vào các lễ kỵ, chạp hàng năm và công việc đột xuất, thừa hành chỉ thị của Trưởng họ khi được giao phó.
4. Phó thư ký Họ: thay thế điều hành khi thư ký vắng mặt và giúp thư ký thừa hành nhiệm vụ.
5. Thủ quĩ: có nhiệm vụ thâu nhận tiền bạc cuả Họ và xuất tiền theo lệnh của Trưởng Họ. Mọi sự thu chi phải có sự đồng ý của bác Trưởng Họ. Thu chi phải có biên lai chứng minh.
6. Phái việc: có nhiệm vụ mua sắm lễ vật, lo phần hỏa vụ, hào soạn đầy đủ và dâng lên để cúng. Sau khi cúng xong lo phần thọ thực.
7. Trưởng Phái: có nhiệm vụ đôn đốc, kiểm soát và báo cáo tình hình hoạt động của các chi thuộc phái mình, giáo dục con cháu trong phái có ý thức trách nhiệm đối với Tổ Tiên, ghi nhớ công ơn các vị tiền bối và thi hành đúng nội qui của Họ.
8. Phó Trưởng Phái: thay thế điều hành khi trưởng Phái vắng mặt và góp Trưởng Phái thừa hành nhiệm vụ.
9. Thư ký phái: có nhiệm vụ giữ các sổ sách của Phái, nhật tư văn thư đi, đến, soạn thảo văn thư, báo cáo mọi sinh hoạt của Phái và các lễ kỵ, chạp hàng năm và công việc đột xuất, thừa hành chỉ thị của Trưởng Phái khi được giao phó.
10. Trưởng Chi: giáo dục con cháu trong Chi có ý thức trách nhiệm đối với Tổ Tiên, ghi nhớ công ơn các vị tiền bối và thi hành đúng nội qui của Họ, đôn đốc toàn Chi thi hành chỉ thị của Phái và Họ, trực tiếp giải quyết mọi vấn đề thuộc Chi mình.
Nếu không giải quyết được thì đệ trình lên Phái để Phái tùy nghi xử sự. Trường hợp Phái không giải quyết được thì đệ trình lên Họ để Họ giải quyết, lúc trình Họ phải có hộp cau trầu rượu và do Trưởng Phái trình bày sự việc.
Điều 7: Nghi Lễ
Phái việc hợp lực với vị hầu hương để lo phần quét dọn bàn thờ và trang hoàng nhà thờ nhất là về phần hoa quả chỉnh đốn và tươm tất để tăng phần trang nghiêm trong buổi lễ. Trước và trong khi hành lễ, chuẩn bị 3 vị túc trực hầu rượu, trà, phần hóa …Sau khi hành lễ xong, con cháu hiện diện hợp lực với Phái việc để lo vấn đề hầu tàn.
ü Lễ Kỵ 16/6
· Lễ túc yết: cúng vào lúc 16g ngày 15/6
· Lễ chính thức: cúng vào lúc 7g ngày 16/6
ü Lễ Chạp: ngày mùng 6 tháng chạp:
· Lễ túc yết: cúng vào lúc 16g ngày mùng 5 tháng chạp.
· Lễ chính thức: cúng vào lúc 11g ngày 6/12.
Ngày chạp mộ Ngài Thỉ Tổ của Họ ta 6/12, mỗi Phái cử tối thiểu 1/3 con cháu của Phái mình đúng 7g sáng có mặt tại mộ đề lo phần tảo mộ. Nếu không đầy đủ thì Trưởng Phái chịu trách nhiệm.
ü Tết Nguyên Đán:
· Ngày 30 tết: Lễ rước Tổ Tiên.
· Từ mồng 1 đến mồng 3 tết:
Ban trị sự Họ và vị hầu hương đại diện Họ lo phần bái tổ. Con cháu trong Họ tùy tâm kính lễ.
ü Hàng Tháng:
Hầu hương tại Họ những ngày 30, mồng 1, 14, rằm vào các buổi tối.
ü Lễ Yết Tổ:
Con cháu nội ngoại xin yết tổ phái trình Bác Trưởng Họ trước 2 tháng để Họ có đủ thời gian thông báo cho con cháu trong Họ biết. Trường hợp trong ngày Kỵ Tổ Tiên hoặc ngày chạp nếu có lễ yết tổ thì 2 lễ hiệp một, bái tế một lần để tiện bề nghi lễ tránh rườm rà ( nghi lễ như cũ).
ü Phần Bái Tế:
Nghi thức áp dụng như thường lệ, nghĩa là lúc đầu bác Trưởng Họ niêm hương khấn vái và thượng hương, xong áp dụng nghi thức tam tuần bát bái, xong lui ra hầu tổ tiên. Quí Bác Trưởng Phái vào lạy tại các án như đã ấn định, xong lui ra hầu tổ tiên. Sau đó con cháu lần lượt vào lễ bái, tiếp đến phần tấu vàng bạc. Bác Trưởng Họ vào lễ tạ. Lễ tất.
ü Phần Chiêng Trống: như cũ.
ü Lễ Suy Tôn:
Đối với Bác Trưởng Họ (Bác Đệ nhất phó Trưởng Họ lên thay thế): mâm cau trầu trái và một chai rượu (nếu không có cau trái thì dùng 100 miếng cau khô) do Phái việc chịu trách nhiệm mua sắm. Bác Đệ nhị phó Trưởng Họ và thư ký đại diện Họ trình bày lễ suy tôn.
Đối với Bác Phó Trưởng Họ: hộp trầu 5 miếng và rượu do Phái việc chịu trách nhiệm mua sắm. Bác Trưởng Họ và thư ký đại diện Họ trình bày lễ suy tôn.
Bác Trưởng Họ và phó Trưởng Họ nhậm chức ra mắt tổ tiên tại Họ mâm trầu trái và một chai rượu do vị này tự lo liệu.
Vì lý do nhận chức đột xuất, vị Trưởng Họ hoặc phó Trưởng Họ sau khi nhận lãnh nhiệm vụ quyền chức vụ, Họ chưa làm lễ suy tôn chính thức tại nhà thờ Họ, vị này sẽ được Họ làm lễ suy tôn vào ngày kỵ hoặc chạp gần nhất (tính từ ngày lãnh nhiệm vụ quyền chức vụ) .
ü Hiếu Hỷ:
Dự lễ tại các Họ bạn khi được mời, lễ vật mâm cau trầu trái và một chai rượu do Ban trị sự Họ tùy nghi dự lễ.
Vấn đề đám tang chỉ phúng điếu đối với Trưởng Họ của Họ ta và Trưởng Họ dưới (Họ Trương Đình quan hệ anh em đồng Thỉ Tổ) và các vị Trưởng Phái trong Họ (đại diện tối đa 3 vị).
Phúng điếu đối với con cháu nam nữ trong Họ có yết tổ với Họ trước khi còn sống hay trong khi tạ thế hương linh chưa an táng ( than thi tại thượng) Họ đại diện 3 vị.
Trường hợp yết tổ sau khi đã an táng rồi, Họ sẽ tùy nghi đáp lễ vào dịp lễ nào tại gia đình của hương linh mà Họ cảm thấy thuận lợi và thích hợp ( lễ điếu cuối nhất là lễ đại tường) Họ đại diện 3 vị.
Trường hợp mời Họ chấp lệnh tại các tư gia: Phương tiện di chuyển và ẩm thực do tang chủ đài thọ và phải báo trước thời gian tang lễ bao nhiêu ngày để Họ sắp xếp.
Các trường hợp nghi lễ đột xuất ngoài các lễ trên Họ sẽ tùy nghi đặc trách.
Điều 8: Quyền Lợi
Tiêu chuẩn chọn trưởng Họ bắt đầu từ Phó Trưởng Họ.
Đối với chức Trưởng Họ và Phó Trưởng Họ phải họp đủ những điều kiện sau đây:
Đóng góp tiền đồng niên, kỵ, chạp dầy đủ.
Tham gia tích cực mọi công tác đột xuất của Họ một cách chu đáo và trọn vẹn.
Ngoài các điều kiện trên đặc biệt nhiều vị đồng tuổi, nhập họ cùng ngày đóng góp đầy đủ thì chọn vị đó theo thể thức sau:
Nếu 2 vị Trưởng Họ tiền nhiệm thuộc Phái Văn, Đình thì vị kế nhiệm là Phái Phước. Nếu 2 vị tiền nhiệm là Phái Phước, Đình thì vị kế nhiệm là Phái Văn tiếp nối luân phiên nhau cho đến mãi về sau ( chung nhi phục thỉ)
Trường hợp nhiều vị đồng tuổi nhập Họ cùng ngày, đóng góp không đầy đủ thì chọn vị nào có công tâm hơn đối với Họ.
Trường hợp nhập Họ cùng ngày thì chọn vị nào lớn tuổi hơn.
Các trường hợp từ trần hoặc xin thối thác chức vụ, khi được sự chấp thuận của Họ kể từ ngày nào thì vị kế nhiệm Trưởng Họ hoặc Phó Trưởng Họ đương nhiên quyền chức vụ và điều hành cũng kể từ ngày đó.
Các con cháu trong Họ đã gia nhập Họ với đầy đủ tư cách pháp lý và đóng góp đầy đủ, đến vai Trưởng Họ hoặc Phó Trưởng Họ dù là bệnh tật nan y nhưng còn minh mẫn sáng suốt đều được giữ chức vụ, ngoại trừ bệnh mất trí, vi phạm pháp luật và có hánh vi bất chính có hại cho thể diện của Họ thì không được nhận lãnh chức vụ. Đối với các vị đương hành cũng vậy.
Sau khi suy tôn một vị Trưởng Họ hay Phó Trưởng Họ, Ban Trị Sự Họ họp và chọn các vị kế tiếp để thay thế vào các chức vụ đã khuyết.
Trường hợp đến vai Trưởng Họ hoặc Phó Trưởng Họ hội đủ các tiêu chuẩn để nhận lãnh các chức vụ trên nhưng vì lý do đặc biệt xin thối thác chức vụ, Họ sẽ hoan hỉ nhận lời, Họ vẫn làm lể suy tôn trước Tổ Tiên và sẽ ghi danh vào sổ vàng là Trưởng Họ hoặc Phó Trưởng Họ xin từ chức vì có lý do chính đáng. Sau ngày tạ thế các lễ lược có cung tiến sẽ ghi chức vụ ấy vào sớ điệp hoặc bài vị để tỏ lòng kính mến đối với bậc hữu công đã có tinh thần xây dựng Họ, làm tròn bổn phận và trách nhiệm của mình đối với Tổ Tiên.
Điều 9: Về Phần Kỉnh
Về phần kỉnh đối với Bác Trưởng Họ: theo tinh thần của Bác Trưởng Họ tiền nhiệm Trương Văn Tuyển vào năm 1981 có nói với Họ rằng “ Phần kỉnh năm nay vì nể lời họ tôi xin nhận, qua sang năm nếu tôi còn làm Trưởng Họ, tôi nhất định không nhận nữa và phần kỉnh này để cho Họ và con cháu chia sẽ ngọt bùi, không phải tôi qua cầu cất ván”. Và từ đó đến nay Bác Trưởng Họ kế nhiệm Trương Văn Luận noi gương cũng không nhận phần kỉnh đó.
Vậy để nêu cao tinh thần phục vụ Họ chỉ cần danh dự hơn phẩm vật, xin đề nghị miễn luôn cho đẹp mặt, đẹp lòng con cháu. Toàn Họ nhất trí.
Lễ yết Tổ, kỉnh lại gia chủ cái giò, dĩa xôi gọi là lưu phước.
Trưởng Họ qua đời cúng ngài dĩa thịt và xôi rượu một lễ trong năm kể từ ngày tạ thế. Lễ này gửi đến tận nhà để tỏ lòng kính cẩn đối với bậc quá cố hữu công. Vấn đề này do Phái việc chịu trách nhiệm.
Điều 10: Nhập Họ
Con cháu của Họ từ 20 tuổi trở lên phải nhập Họ không phân biệt bệnh hoạn, tàn tật, vì con cháu trong họ đều là con một cha, hoa một chùm.
Hàng năm con cháu đủ 20 tuổi xin nhập Họ phải do Bác Trường Chi trình lên Bác Trưởng Phái, Bác Trưởng Phái trình lên Bác Trưởng Họ để ghi vào Sổ danh sách hộ tịch và Sổ nhập Họ ( sổ căn ngang).
Trường hợp con cháu trong Họ vì lý do ở phương xa hoặc lý do nào khác chưa nhập Họ, nay muốn xin nhập Họ cũng làm theo thủ tục trên.
Trường hợp đã nhập Họ rồi nhưng vì một lý do nào đó đóng góp không đầy đủ, khi về Họ phải đóng góp đầy đủ, nếu không xem như thiếu trách nhiệm và bổn phận đối với Họ.
3) Chương 3
Điều 11: Tài Chánh:
Các khoản thu: gồm có:
Tiền đồng niên kỵ hoặc chạp.
Tiền kỵ đóng trước 30 ngày tính đến ngày kỵ (16/6/Âm lịch). Tiền chạp đóng trước 30 ngày, tính đến ngày chạp ( 6/12/Âm lịch).
Các khoản thu đột xuất sẽ ấn định sau (Trường hợp khoản thu trên 10 .000 đồng) phài do một hội đồng tiếp nhận quyết định.
Các khoản chi:
Những chi phí thiết thực cần ích cho việc sinh hoạt của Họ như Kỵ, Chạp, Tết Nguyên đán, Sóc, Vọng ( 30, mồng 1, 14 , rằm), ngoại trừ trường hợp bất thường sẽ có quyết định sau.
Tất cả các khoản chi đều phải có phiếu chi chứng minh. Phiếu chi này do ban viên ban chấp hành lập căn cứ trên nhu cầu cùng điều kiện chung và do Trưởng Họ chuẩn duyệt nếu là khoản chi thông thường đã được trù liệu.
Thẩm quyền chuẩn duyệt các khoản chi bất thường ở mục quyết định của phiếu chi sẽ tùy theo Ban trị sự liên hệ quyết định.
Vì nhu cầu tài chính tại Họ phải tồn quỷ tối thiểu 1 000 đồng. ( Một ngàn đồng), để tạm ứng về vấn đề nhang đăng tại Họ hàng tháng trong các ngày Sóc, Vọng và chi phí cần thiết đột xuất cấn thiết của Họ.
Những khoản thu đồng niên và các khoản thu đột xuất từ trước ngày “Nội quy của họ” ra đời được thông qua vì lý do chiến tranh và sổ sách không đầy đủ.
Vậy tiền đóng góp đồng niên và các khoản đột xuất khác được tính kể từ ngày 6 tháng 12 năm Mậu Thìn ( 1988) trở đi đối với những con cháu mới nhập Họ ghi danh vào Sổ căn ngang.
Đối với những con cháu đã nhập Họ về trước ngày 6 tháng 12 năm Đinh Mão ( 1987) thì tính các khoản đóng góp vào tiêu chuẩn chọn chức vụ kề từ ngày này trở về trước sẽ do Hội đồng Ban trị sự Họ, các Trưởng Phái xét và chọn.
Thành phần khỏi đóng góp như:
Bác Trưởng Họ, tàn tật, mất trí, tù tội, nghĩa vụ quân sự, quá 75 tuổi. Nếu thành phần trên phát tâm tự nguyện xin đóng góp thì Họ tán dương tinh thần và rất hoan hỉ đón nhận.
Điều 12: Hội Họp
Vấn đề hội họp sẽ do Ban trị sự quyết định khi cần.
Thể thức hội họp, các phiên họp của Họ đều phải bầu chủ tọa và thư ký, kiểm soát, phải có chương trình nghị sự và tuân theo thể thức đã ổn định theo từng buổi họp.
Điều 13: Tài Sản
Vấn đề tài sản và vật dụng của Họ phải được kiểm tra và ghi vào sổ ( Khí Mãnh) của Họ chu đáo. Nếu Họ chưa có nơi cất giữ bảo đảm phải nhờ con cháu trong Họ cất giữ giùm và phải ghi chú rõ ràng để hàng năm vấn đề kiểm soát được dễ dàng.
Con cháu trong Họ có lòng hỷ cúng tài vật phải báo trước cho Họ biết, nếu được Họ ưng thuận mới được gữi đến Họ.
Tất cả tài sản của con cháu cúng vào Họ, phải cho biết số tiền phải mua vật đó bằng lúa để sau này vật giá tăng giảm thì giá trị số tiền trên đối chiếu với đơn vị lúa sẽ không mất giá trị
Điều 14: Sổ Vàng
Nếu được ghi danh sổ vàng phải theo các tiêu chuẩn sau
Thành phần hữu công được họ bình bầu như: Tích cực làm tròn nhiệm vụ do Họ giao phó, có nhiều công lao đối với Họ, ngoài số tiền đóng góp kỵ chạp hàng năm hoặc đột xuất đã ấn định, nếu phát tâm cúng thêm số tiền trị giá 10 thùng lúa, sẽ được ghi danh…
Trong các tiêu chuẩn trên, nếu đạt được một tiêu chuẩn trên sẽ ghi danh vào sổ vàng
4) Chương 4
Điều 15: Kỷ Luật
Về vấn đề kỷ luật, trọng tâm đối với Họ là tự giác và tự trọng để thể hiện người con, người cháu hiếu đạo đối vời tổ tiên, tă thêm tình đoàn kết , than mật giữa bà con trong Họ và mình, để tạo gương sang cho hậu thế noi theo. Đó là điều Họ rất mong muốn
Trường hợp con cháu có lỗi lầm đáng tiếc cần khuyến khích giáo dục nhiều hơn quở trách
Điều 16: Sửa Đổi Nội Qui
Muốn sửa đổi nội qui phải có sự yêu cầu của 2/3 con cháu trong họ
Đại hội Họ triệu tập thảo luận một điều khoản nào muốn sửa đổi phải đạt 2/3 số phiếu hoặc biểu quyết hiện diện chấp thuận 2/3 tổng số hiện diện mới được sửa đổi
Bản Nội qui của Họ gồm 4 chương 16 điều đã được Ban trị sự của Họ, các Trưởng Phái, Trưởng Chi và toàn thể con cháu trong Họ biểu quyết nhất trí tại đại hội của Họ ngày 05-06 tháng 12 năm Đinh Mão ( 1988) và được áp dụng kể từ ngày 06 tháng 12 năm Đinh Mão ( 24/01/1988)
Ban trị sự của Họ, các Trưởng Phái đồng ký tên dưới đây
Trưởng Họ
(Đã ký)
Trương Văn Luận
Trưởng Phái Văn
(Đã ký)
Trương Văn Đăng
Trưởng Phái Đình
(Đã ký)
Trương Đình Hào
Trưởng Phái Phước
(Đã ký)
Trương Phước Kỉnh