_ Làng Hiền Lương nằm ở bờ bắc sông Bồ, cách trung tâm thành phố Huế chừng 20 km về phía bắc và là một trong những ngôi làng Việt thuộc vào hàng cổ nhất ở miền Trung.
Cổng Làng Hiền Lương
_ Tại đây hiện còn ngôi chùa cổ Giác Lương được xây dựng từ những năm đầu của thời Lê Trung Hưng (khoảng đầu thế kỷ XVI) và đã được Bộ Văn hoá Thông tin (cũ) công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá cấp Quốc gia vào năm 1992.
Tam Quan Chùa Giác Lương - Làng Hiền Lương
_ Theo sử sách, Hiền Lương thoạt đầu có tên là Hoa Lang thuộc huyện Đan Điền, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hoá. Thời Lê Trung Hưng, khi Nguyễn Hoàng vào khai khẩn trấn Thuận Hoá, huyện Đan Điền đổi thành huyện Quảng Điền. Thời Gia Long ghép huyện Quảng Điền vào dinh Quảng Đức - là đất kinh kỳ; năm 1822, vua Minh Mạng đổi dinh Quảng Đức thành phủ Thừa Thiên. Thời vua Minh Mạng (1820 - 1840), khi chỉnh lại địa giới hành chính, lập địa bộ, vì tránh chữ huý (tên bà Hồ Thị Hoa, vợ chính của vua Minh Mạng), nên đổi thành làng Hiền Lương – có nghĩa là đất sản sinh ra nhiều người có tài đức.
_ Thời Pháp xâm lược, làng Hiền Lương thuộc tổng Hiền Lương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Sau cách mạng Tháng 8 - 1945, tổng Hiền Lương đổi thành xã Phong Nhiêu, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Hiện nay, thuộc xã Phong Hiền, huyện Phong Điền , tỉnh Thừa Thiên Huế..
_ Làng Hiền Lương gồm có 6 xóm, 4 phường. Về sau, đến thời Khải Định thêm 2 phường mới nữa được lập. Làng có nhiều người đỗ đạt và làm quan to qua các triều. Phong tục, lễ nghi chỉnh chu và được các thế hệ không ngừng bồi đắp. Chẳng hạn như chuyện tang ma, từ phải “cơm hiếu”, rồi cỗ bàn “đưa xóm” tạ ơn rất nhiễu sự.
_ Từ thời Khải Định, hương ước của làng đã sửa đổi: “Việc đám, trừ nội thân đến trợ tang, ngoài ra nhất thiết cấm ăn uống, từ xóm làng đến quan khách chỉ dùng trầu rượu để tiếp đãi...”. Hay như tục không ăn măng, cấm chặt tre vào tháng 3 của làng cũng là một nét văn hoá độc đáo thú vị.
_ Chuyện kể, dưới triều Minh Mạng, làng đã dâng sớ lên vua tâu về việc măng, tre của làng bị chặt phá vô tội vạ, làm cho ngày một trụi dần. Sớ của làng “đề xuất” với vua phê chuẩn một việc: Tháng 3, tháng 4 hàng năm, bất cứ nhà nào trong làng hoặc giả các làng, xã khác quanh tổng Hiền Lương đều cấm ăn măng tươi, cấm chặt tre già. Lý do là măng mọc vào tháng 3, tháng 4 đều to khoẻ, gặp thời tiết tốt sẽ phát triển thành những cây tre già rắn chắc, rất ích lợi. Nếu chặt tre vào những tháng này cũng sẽ làm cho măng bị hư hại. Còn từ tháng 7 âm lịch cho đến hết năm, thường hay xảy ra bão lụt, măng khó sống qua khỏi cơn tàn phá của trời đất, còn tre thì cũng đã già lão nên thời điểm này có thể cho phép ăn măng, chặt tre... Vua Minh Mạng ngợi khen và chuẩn tấu. Thế cho nên, đến tận bây giờ, ở Hiền Lương vẫn còn truyền tụng câu “Tháng bảy vua tha, tháng ba làng bắt tội” …
_ Về nghề rèn, những tài liệu cổ còn lưu tên một số nhân vật nổi tiếng về nghề rèn và nghề cơ khí dưới triều Nguyễn như các ông: Nguyễn Lương Nhĩ, Nguyễn Lương Xa, Hoàng Văn Lịch....Trong đó, tên tuổi Hoàng Văn Lịch được nhắc nhiều nhất và là niềm tự hào cho nhiều thế hệ con dân làng Hiền Lương.
_ Sử ghi nhận Hoàng Văn Lịch chính là người Việt Nam đầu tiên chế tạo thành công tàu thuỷ chạy bằng hơi nước. Đại Nam Nhất thống chí ghi năm Minh Mạng thứ 19 (1838), vua sai Võ khố dựa vào mẫu của tàu Tây dương đóng thành tàu chạy bằng hơi nước. Trước khi bắt tay vào việc, vua đã ban thưởng, khích lệ tinh thần cho đội ngũ quan quân thợ thuyền của Sở Đốc công Võ khố.
_ Một năm sau, mùa Xuân 1839, Bộ Công trình vua cho chạy thử tàu. Vua sai chọn ngày lành tháng tốt cho hạ thuỷ và đích thân ngự xem. Nhưng sự cố xảy ra, nồi hơi bị vỡ. Cuộc thử nghiệm thất bại. Vua tức giận cách chức quan Bộ Công, tống ngục ban đốc công chờ ngày luận tội. Tân Giám đốc Hoàng Văn Lịch đã cùng các cộng sự của mình tại Sở Đốc công Võ khố ngày đêm nghiên cứu, chỉnh sửa những điểm hỏng hóc, bất hợp lý...và chỉ một tháng sau đã cho tàu chạy thử thành công trên sông An Cựu. Vua Minh Mạng vui mừng thưởng cho Hoàng Văn Lịch và người phụ tá Vũ Huy Trinh mỗi người một nhẫn pha lê độ vàng, một đồng tiền vàng Phi Long hạng lớn. Đốc công và binh tượng được thưởng chung 1.000 quan tiền.
_ Cũng trong năm ấy, tháng 10 vua truyền chi 1 vạn 1 ngàn quan tiền đóng thêm 3 chiếc nữa đặt tên là Yên Phi, Vân Phi và Vụ Phi. Xét công trạng, Hoàng Văn Lịch còn được phong tước Lương Sơn Hầu. Việc được phong đến tước Hầu nhưng không xuất thân từ khoa bảng mà chỉ vì được tôn vinh từ bàn tay vàng của người thợ được nhiều nhà nghiên cứu cho là điều đặc biệt hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến.
_ Ông là một trong những người khởi đầu nghề cơ khí của Việt Nam.
_ Hiện nay, tại chùa Giác Lương ở làng Hiền Lương quê ông, vẫn còn chiếc hồng chung đúc năm 1819, trong đó khắc tên ông cùng với những người thợ cơ khí rạng danh của làng Hiền Lương khác. Tên ông được đặt cho một con đường ở thành phố Huế.
(Sưu tầm tài liệu )