PHONG TỤC
_ Quan, hôn, tang, tế. Quan là lễ "đội mũ". Ngày xưa ở bên Tàu có lễ "quan", lễ này quan trọng nhất cho đời người khi bắt đầu khôn lớn. Nước ta không có tục lệ ấy. Duy ở làng ta lại trọng lễ "đầy tháng". Mỗi khi có bà con, con cháu sinh ra đứa con đầu lòng, bất cứ hạng trai hay gái, đúng tháng có lễ tạ "bà Mụ" gọi là khẩm tháng. Bà con họ hàng nội ngoại đều đến mừng, người cho phẩm vật, kẻ cho tiền bạc. Dụng ý : Những số tiền bạc của bà cho con cho đó, để cha mẹ nó gây vốn liếng cho đứa trẻ sau này.
CƯỚI HỎI
_ Cưới vợ, gả chồng, đại đa số không cưới cũng như không gả ra ngoài làng (11). Chỉ người trong làng ràng buộc lấy nhau để mối tình thân ái thêm thắt chặt. ít chú trọng môn đăng hộ đối, trai gái đúng tuổi định vợ gả chồng, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, không bao giờ có sự trái lệnh của cha mẹ.
------------------------
(11) Hiền Lương lấy nghề rèn truyền thống làm kế sinh nhai. Theo phong tục của làng "không gả cũng như không cưới ra khỏi làng" vì :
_ Sợ bị mất những bí quyết của nghề rèn.
_ Con cháu làng Hiền Lương không quen nghề làm ruộng cha mẹ gả con ra khỏi làng sợ con khổ !
Thế mới biết người xưa ! Sau 1945 lệ này bỏ.
------------------------
_ Tình thông gia cũng như đạo rể con, lúc đầu tuồng như thanh đạm, dần dần chặt chẽ giống keo sơn. Bởi thế trong làng có câu : "khó ở làng hơn sang khác xứ" làm phương châm.
_ LỄ CƯỚI HỎI : Cưới hỏi có phần giản dị. Khi hai thông gia đã đính hôn, đặc biệt là người rể không bao giờ đến làm rể thường xuyên như mọi làng khác ; trừ ngày Kỵ, Chạp, Nguyên đán, cần có mặt rể, trước lễ Tổ tiên sau bà con biết mặt. Người rể chưa cưới đến nhà nhạc gia, lễ xong chỉ biết ngồi trên chái trên không bao giờ xuống nhà bếp.
_ Lễ đính hôn (hỏi) nhà gái không đòi phẩm vật, nữ trang chiếu lệ làng : Một mâm trầu rượu và một cặp đèn sáp. Lễ tuy đơn sơ nhưng không kém phần trọng thể, có đèn lọng, bà con họ hàng đi đủ đàn ông, đàn bà. lễ đính hôn xong (đám hỏi) trong thời gian chưa cưới, nhà trai được đi qua nhà gái các lễ sau :
_ Kị ông nội : Một cặp vịt, quả nếp và trầu rượu.
_ Kị cha mẹ : ( nếu con gái mồ côi cha hoặc mẹ) một cặp vịt, quả nếp và trầu rượu.
_ Kị ông bà ngoại : Đường và bột.
_ Lễ tảo mộ : Người rể chỉ đến không một mình.
_ LỄ GIÁ THÚ : Nhà trai phải đi một con heo sống, chín, tùy theo giữa hai thông gia đính ước, một cặp áo màu ( rộng hay chít tùy nghi hai gia đình) và một mâm trầu rượu. tuyệt đối không có nữ trang, tiền bạc. Mỗi khi nhà trai xin ngày cưới, hội ý nhà gái người ta thường nói "cứ tuân theo lệ làng" có nghĩa là không thêm bớt.
_ Phần kính biếu, bên nhà gái lấy con heo đi lễ ấy, kỉnh nội ngoại như sau : ông bác hoặc chú và bà o hai giò trước; ông cậu, bà dì dai giò sau.
_ Ngày xưa có lệ cưới phải đi heo sáu chân (12) nghĩa là một con rưỡi. Lệ đi heo sáu chân về sau bỏ. Lễ đi heo, áo phải đi trước ngày cưới.
-----------------------
(12) Lúc xưa nhà trai đi lễ sang nhà gái chỉ có một con heo. Sau vì thiếu một phần của làng xã mới có lệ này ( nửa con heo thêm cho làng).
-----------------------
_ LỄ NẠP LỄ : Nạp lễ như thường lệ, cau lồng, rượu ché, hoặc trầu mâm, rượu ngỗng, tùy nghi châm chước, duy có khác là không có đàn bà đi họ và sắm bày.
_ LỄ NGHINH HÔN : Không có lệ nghinh hôn, nhà trai chỉ nạp lễ xong, trình giờ đưa dâu cho nhà gái biết mà thôi, đến giờ, nhà gái đưa dâu đến nhà trai. Bái yết Tổ tiên và gia nương xong, họ gái ra về, nàng dâu cũng được về theo. Tối lại, nhà gái một lần nữa lại đưa dâu qua nhà trai với một vài bà nội thân : dì, thím, mợ ... Những người này đều được ở lại nhà trai trong đêm ấy. Sự ở lại của người nội thân có hai ý cũng như có lời ủy thác với gia nương những sự khôn dại của con cháu mình mới về làm dâu, sợ có điều gì khiếm khuyết. Hai là chứng kiến sự trinh tiết của con cháu trong đêm hợp cẩn.
_ Quan niệm người xưa chữ "trinh" của người con gái quá ư quan trọng. "Sinh con khá dễ sinh lòng". Mỗi khi gả con ra lấy chồng, nhất là đêm hiệp cẩn, cha mẹ ở nhà suốt đêm phập phòng lo ngại. nếu đứa con bị thất trinh là đem lại điềm nhục cho gia phong và có phần tổn thương đến nội ngoại.
_ Khi đứa con ra lấy chồng, cha mẹ không có gì hơn là cho con một đôi triêng thúng, gồm một đòn gánh bốn mấu, một đôi gióng sáu tao và hai cái thúng đặc biệt (13).
_ Đó là ý nghĩa dạy con về làm dâu phải lo tròn phụ đạo, đòn gánh đè vai, chăm lo tảo tần.
_ Lễ cưới xong, ba ngày, cặp tân hôn đi trình diện cô, bác, nội, ngoại khác với các nơi khác là không có trầu rượu.
--------------
(13) Sau này bỏ vì chiến tranh lưu lạc kéo dài.
--------------
=========================================
ĐÁM TANG
_ ĐÁM TANG : Một khi trong xóm có người chết, ông Trùm xóm cho "xâu" đánh phèn la báo hiệu. Tức thì người trong xóm đều tề tựu tại nhà có người chết chung lo việc trợ tang, dầu bận việc đồng áng hoặc việc gì khác cũng gác bỏ. Đàn ông lo việc khâm liệm, đàn bà lo việc may khâu tang phục.
_ Công sản của mỗi xóm đều có một bàn đưa đám và hai bức màn dùng, khi trong xóm có người chết, treo cho quan tài được ấm cúng, khỏi phiền tang chủ liệu biện.
_ Về tống táng nhà giàu cũng như nhà nghèo, thường để đến hàng tháng, ít ra cũng đôi ba tuần. Sở dĩ đểlâu như vậy có hai nguyên nhân : một là cần báo tin cho bà con biết, bởi phần đông ở xa. Hai là sắm vật dụng đầy đủ tang nghi cũng như thiết đãi bà con làng xóm thù tạc (trái khấu).
_ Trước ngày tống táng gọi là ngày "Điện", lễ triệu Tổ và cúng hương linh xong, tức thì tiếp khách, đãi bà con nội, ngoại, họ hàng quyến thuộc bên nàng dâu, chàng rể đến phúng điếu (gọi là ngày dọn khách).
_ LỄ PHÚNG ĐIẾU : Để tỏ tình thân mật và cung kính người chết, thông gia cũng như bà con nội thân, cúng cộ "heo xôi" và trầu rượu, heo sống hay heo chín tùy sự nhu cầu của tang chủ. Thân bằng quyến thuộc phần đông thật tình cúng trầu rượu và tiền bạc, ít phô trương bề ngoài như trướng đối chẳng hạn.
_ Đặc biệt là ngoài việc phúng điếu hương linh, còn có cấp tiền riêng cho mỗi cá nhân chàng rể, nàng dâu nữa, nếu có vương vấn tình thân riêng.
_ Đó là có ý trợ cấp cho các người này, bởi các người này có bổn phận đóng góp công việc đám tang mà người ta thường gọi "tứ thân phụ mẫu".
_ Một đặc biệt khác nữa là lệ "cậy cộ" (mượn khéo tiền của bà con mà lo đám). Cộ có hai thứ : Cộ đôi, cộ ét. Cộ đôi sáu quan và cộ ét ba quan. gặp cảnh ngộ, một trong tứ thân phụ mẫu tạ thế, các con, rể, tùy gia cư chiếu liệu ; nếu cần đến bà con giúp đỡ thì xin "cậy cộ". Nghĩa là dự trù số tiền chi tiêu, đến nhờ mỗi người bà con giúp mấy cộ đơn hoặc cộ ét, tùy hằng tâm và hằng sản của người giúp cộ.
_ Số tiền giúp cộ được đi theo lễ điếu trong ngày "điện" một cách trọng thể như đi điếu. Do đó mà nhà nghèo cũng làm đám to không khác nhà giàu. Bởi quan niệm "chữ hiếu" của ngày xưa, đạo làm con lo việc cha mẹ lúc lâm chung, cần đến sự "ăn no to đám" mới thỏa dạ. Cũng vì thế nên người ta có câu mỉa mai : "Mai héo tiền tươi".
_ Những số tiền cậy cộ này công nhiên là món nợ quan trọng cần phải trả, nhưng trả với điều kiện là sau khi người giúp cộ ngộ cảnh một trong tứ thân phụ mẫu tạ thế. Đến ngaỳa lễ Điện người cậy cộ phải đi hoàn lại trọng thể như trước kia người giúp cộ đã đi cho mình. Nếu người cậy cộ nghèo chưa trả được hết một lần lễ thì phải chia ra nhiều lần, đến khi nào người giúp cộ hết bốn đầu tang cha mẹ cũng như bản thân thì thôi. Gặp trường hợp người cậy cộ tạ thế trước chưa trả được thì con cháu phải lo trả. Bởi đó là nợ "hiếu" (14) trong gia đình.
-------------------
(14) "Nợ hiếu" phải trả. Ở làng Hiền Lương xưa, lấy câu : "Nhân sanh bách hạnh, hiếu vi tiên". Nghĩa là :
"Người sinh dung hạnh khác nhau
Nhưng mà chữ hiếu làm đầu mới nên!".
-------------------
_ TANG NGHI : tang nghi tham chiếu "thọ mai gia lễ" hoặc tham khảo "văn công" mà châm chước các việc tang nghi phiền toái.
_ Tống táng, trình xóm "cả" hay xóm "nhà" tùy theo sự trù liệu của tang chủ.
_ Xóm cả là tòan thể dân tịch trong xóm gồm cả vị cập, tráng đinh, quan, lão ở hiện tại và các nơi. Xóm nhà là dân tịch hiện tại mà thôi.
_ Tôn trọng người chết. Ông chấp lệnh phải là người danh vọng nhất trong xóm, thứ đến là ông Cai Gián điều khiển âm công là một vị hương quan hoặc hương lão, bốn ôngĐầu roi đều là chức việc.
_ Tỏ lòng báo đáp của hiếu chủ. tất cả bà con quyến thuộc đều tập trung chăm lo cộ bàn chu đáo vào ngày "điện", nhất là bữa cơm "hiếu" (cơm xóm) nhứt nhứt thận trọng. An táng sự hoàn, mỗi lần nữa lễ Khoản khối tiếp mời xóm và cảm tạ cộ "heo xôi" thường được gọi là "đưa xóm".
_ Vì nhận thấy tục lệ làm đám có nhiều sự phiền phức cho tang gia trong lúc bối rối, cũng như theo sự tiến triển giữa thời đại. Đến triều Khải Định đã được một hương ước khác ra đời dưới sự lãnh hội của Á chỉ Bố chánh trí sự Trương Quang Toản. Sửa đổi lại tục lệ nói trên.
_ Việc làm đám, trừ người nội thân đến trợ tang, ngoài ra nhất thiết cấm ăn uống, từ xóm làng đến quan khách chi dùng trầu rượu để tiếp đãi.
_ Trình xóm đưa, không phiền vì bữa cơm hiếu như trước, cần tiết kiệm và giản dị, nghĩa là tang chủ có chi tốt nấy.
_ Những người làng ở sinh lý nơi khác, mỗi thị trấn, mỗi khu vực đều có lập "hàng kỉnh" để thắt chặt tình tương thân tương trợ. Các việc quan, hôn, tang, tế cũng đều được áp dụng đúng theo phong tục truyền thống của quê hương, không bao giờ chịu ảnh hưởng của mọi nơi khác.
=========================================
TẾ TỰ
_ Tại Đình thường niên có hai lễ tế Xuân và Thu. Tế có hai lễ : Túc yết, chánh tế. Trước giờ túc yết, lễ nghinh thần. làng long trọng đến Chùa cáo, xin cung nghinh sắc phong của các đấng thiên thần và liệt vị Thỉ tổ, bản thổ tôn trí qui y tại Chùa ; rước về túc yết tại Đình Hát. Lễ túc yết xong, cung nghinh lên Đình trung chánh tế. ngày hôm sau chánh tế sự hoàn một lần nữa long trọng "hoàn sắc". Lễ tống thần đưa các đạo sắc về quy y tại Chùa như trước.
_ Văn tế thần không theo thứ tự của các vị khai canh Thỉ tổ như Văn làm chay tại chùa.
_ Trong lòng văn trước tiên là các Ngài : thượng đẳng thần, tiếp theo : Đặc tấn Phụ quốc Thượng tướng quân Trần Tướng Công, Trương Quý công Bản thổ tôn thần, Phủ ký lục Trương Quý công chi vị, Hải môn tuần quan Lược Tài Hầu Hoàng Quý công chi vị, Thập nhị tôn phái, tiên quan tiền chức.
_ Viết đến đoạn này rất tiếc tài liệu thất lạc không có tham khảo được tường tận, thành không khỏi thắc mắc và xin đánh dấu hỏi.
_ Hỏi, vì lý do gì tế đình trong lòng văn không có các vị Thủy tổ mà chỉ là con cháu các Ngài mà thôi ?
_ Có lẽ vì quan tước hay vì công đức chăng ?
_ Chứng minh cho ta thấy rằng : Trừ Ngài Trần Quí công Thỉ tổ của họ Trần, còn các Ngài khác đều là con cháu của các vị Thỉ tổ, ví dụ : Ngài cai cơ Thọ lập hầu là cháu ba đời của Bà ưu Bà Di Hoàng Thị Thỉ tổ.
_ Tế phẩm, dùng "tam sanh" (Bò, heo, dê). Mỗi quan viên, Hương trưởng đều được tế một "Cộ xôi".
_ Chủ lễ là quan Tiên chỉ.
_ TẠI VĂN CHỈ : Thường niên tế xuân thu hai lễ. Lễ tế mùa xuân vào ngày đinh, tháng trọng xuân (tháng hai). Lễ tế mùa thu vào ngày Đản Đức - Khổng Phu-Tử.
_ VĂN TẾ : Đức - Khổng Phu-Tử và bốn vị Á Thánh : Nhan Uyên, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử và khối thất nhập thập nhị hiền. Tiếp theo tiền hiền, hậu hiền, khoa giáp, danh nho.
_ Đứng chủ tế, văn giai đầu làng.
_ TẠI CHÙA : hương hoa thường xuyên trong những ngày sóc, vọng, tam nguyên chú trọng nhất là ngày rằm tháng bảy lễ Vu Lan. Lúc nào có đại sự như làm chay chẳng hạn, đứng chủ bái là người hội thủ.
_ TẠI TỔ ĐƯỜNG : Thường niên tế vào ngày kỵ Tổ Mười tám tháng Hai.
_ Văn tế, Tây - nhạc kim- thiên thuận - đế, Gia phong Thái- lợi tôn - thần. Phố liệt vị Tiền sử, Tổ sư, Tiền hiền, Hậu hiền.
_ Đứng chủ tế là một vị quan đứng đầu trong hàng xã.( Hàng xã, là ngày xưa làng chúng ta có ngạch quân võ, Võ khố nha, Bách công Dạ tượng cuộc).
_ TẠI MỖI XÓM : Đầu năm tế Xuân thủ kỳ an vào ngày mồng bốn tháng giêng. Do quan trùm xóm đứng chủ tế.
_ LỄ TẢO MỘ : Thường niên bắt đầu ngày mồng một đến ngày rằm tháng chạp. Họ Hoàng Ngọc khởi đầu ngày mồng một đến các họ tiếp tục, ngày rằm tháng chạp là Họ Trương Như.
_ Trong thời gian mười lăm ngày tảo mộ của các Họ, con cháu nội ngoại ở phương xa đều lục tục về làng lo lễ tảo mộ tổ tiên. Lễ tảo mộ là một lễ trọng hệ nhất của các gia tộc. Từ Chú, Bác, Cô, Dượng đến con cháu nội ngoại, một năm họp mặt một lần đầy tinh thần kính nhường và thân ái.
==============================================
HƯƠNG CHÍNH
_ Việc hương chính xưa có Ban Hương sự gồm có : Lý trưởng, Thủ bộ, Khán thủ, Tuần nã, Mục dịch.
_ Nhiệm vụ :
_ Lý trưởng : là người trực tiếp thừa hành mệnh lệnh của chánh quyền cấp trên, cũng như các việc tổng quát trong làng.
_ Thủ bộ : là người trông coi các bộ dinh, điền của làng.
_ Khánh thủ : là người giữ tài chánh của làng.
_ Tuần nã : là người trấp đạo an dân, tuần phòng các việc.
_ Mục dịch : là người trông coi kiều lương đạo lộ.
_ Ban hương sự về sau đến đời Bảo Đại đổi lãi hương : Lý trưởng, Hương bộ, Hương bảng, Hương kiểm, Hương mục.
_ Sự thay đổi chỉ khác danh từ, tựu trung trách vụ không khác, duy chỉ Hương bộ có có thêm phần trông coi nhân thế bộ, nghĩa là ghi chép các việc sinh, tử, hôn thú.
_ Ngoài Ban Hương sự do chính quyền công cử, riêng làng có "Hội đồng tối cao" quyết định các việc của làng. Hội đồng tối cao gồm các Ngài : Hội chủ, Thủ bộ, hai quan Trùm phe và sáu quan Trùm xóm, các quan viên tại quán.
_ Những việc quan trọng trong làng đều có Đại hội đồng. Quyết định tối hậu do sự đồng ý của Hội đồng tối cao. Nếu cần cũng phải hỏi ý kiến các quan viên tại công, mới chiếu hội thi hành.
_ Hai Ngài Hội chủ, Thủ bộ là những người cao niên nhất trong làng và đã được từng làm chức Trùm trưởng. Hội chủ, người phe trên. Thủ bộ người phe dưới.
_ Các Ngài trùm xóm là người cao niên và đứng đầu tịch xóm. ( Mỗi người dân sắp tuổi trạng phải trục vô xóm gọi là vị cấp để đài thọ việc xóm, đúng tuổi tráng mới trục vô làng đài thọ thuế khóa).
_ Chức trùm xóm không nệ quan, dân, đến vai phải vác, dầu là khoa bản, quan nha, tại công cũng như tại quán, đến địa vị là phải đảm nhận. Nếu cần không thể đảm nhiệm được thì phải cố lễ xin xóm miễn, đề cử người thứ hai tiếp theo việc xóm.
_ Vì lệ ấy cho nên chức trùm xóm đều được tôn trọng, và gọi là Quan trùm, hoặc Ngài Trùm. Quan đại thần về làng thấy Quan Trùm cũng gọi là Quan Trùm cũng gọi là Quan trùm hay Ngài trùm và luôn luôn tỏ lòng kính mến.
_ Hương chính các bậc Tộc trưởng không tham dự.
==============================================
HƯƠNG ẨM
_ Hương ẩm đã có lệnh triều đình minh định nhưng không áp dụng tuyệt đối, cần tham chước với làng.
_ Tôn lão kính trưởng cũng như câu "Hương đảng mạc ư xử".
_ Đành rằng trên bức sập chính là của phần quan tiên chỉ. Tuy nhiên không bao giờ quan tiên chỉ chịu ngồi một mình dầu là làm quan đến bậc đại thần cũng tỏ lòng nhường lão, mời ngài hội chủ đồng tọa.
_ Tả, hữu viên quan Hương lão.