THỔ ĐỊA
_ Thổ địa gồm có 12 thôn ấp chia làm hai phần : Một phần thuộc sơn cước, một phần thuộc trung châu.
_ Phần sơn cước gọi là phường, rừng hoang, rú rậm với đất bạch sa, phát tích thuần từ chất phác : địa thế giáp núi Ba Trục đến dải Trường Sơn.
_ Có sáu phường : Công Thành, Khánh Mỹ ( Đức Thắm ), Hưng Long, Thượng Hòa, Triều Dương, La Vần ( La Vần trước kia thuộc thôn Văn Quán mới thiết lập từ triều Khải Định).
_ Địa điểm các phường cách làng xa nhất mười lăm cây số, gần nhất bảy cây số.
_ Phần trung châu gọi là làng. Làng là trung tâm của sự un đúc hiền tài, tuấn tú. Giữa làng có một đồng ruộng hai mùa, minh đường diễm lệ, thêm vào tả nghiên, hữu bút, tượng trưng cho văn nho tác áng. Bao quanh sáu xóm làm thành trì : Siêu Quần, An Hội, Đồng Nhân, Võ Đình, Văn Quán, Phước Tự.
_ Ba Xóm : Siêu Quần, An Hội và Đồng Nhân gọi là phe Đông ( phe trên ). Ba xóm Võ Đình, Văn Quán Phước Tự gọi là phe Tây ( phe dưới).
_ Một con đường liên xã chạy từ Sơn Tùng đến Phú Lễ. Mỗi xóm hai mặt tiền, hậu đều có đường lớn song song với nhau gọi là đường xóm. Trên đường xóm có nhiều đường kiệt. Mỗi đường kiệt có nhiều khuôn viên bằng nhau như bàn cờ, lập vườn nhà ở, trường xuân tú mậu, lương đống huy hoàng.
_ Mặt tiền dành riêng cho Đình, Chùa, Miếu, Vũ, với hướng Tây-Nam ; đặc biệt nhà ở duy nhất một hướng triều Nam.
_ Ngày xưa trong làng không có nhà ngói, bởi lòng tôn kính thần linh, nên nhường sự lợp ngói lại cho Đình, Chùa, Miếu, Vũ. Nhà ở chỉ lợp bằng đất, nhưng kiểu nhà đất cũng không kém phần mỹ thuật, về kiến trúc công phu hơn nhà ngói nhiều.
NGHĨA ĐỊA
_ Nghĩa địa gồm có 5 địa điểm : Truông Cầu, Bàu Sen, Lâm Đam, La vần. Theo địa lý người ta nói rằng : đó là chỗ phát tích công, hầu, khanh, tướng, khoa giáp, phú đinh.
_ Có một vài cồn thuộc địa phận làng Cao Bang. Ngày xưa, mỗi khi an táng, làng này thường gạch trở. Được Vua Minh Mạng châu phê : "Hoa Lang, Cao Bang đồng phần mộ" .