ĐÌNH MIẾU
_ ĐÌNH Ngôi đình tọa lạc tại xóm An Hội. Lộc Mã tiền áng, Bồ Thủy hồi triều, minh đường quanh ánh với nội án, tả nghiên hữu bút, một ngòi nước lâm quang bao bọc từ bạch sa đổ xuống. Sau lưng có rú Cổ Tháp làm bức hậu thành.
_ Ngoài ngõ, dựng bốn trụ biểu tượng trưng trung chánh có trời đất với những câu đối chứng minh : "Địa linh nhân kiệt" từ xưa để lại. Giữa sân một bình phong đồ sộ, cách sân đến ngôi đình năm gian kiến trúc cổ kính, thờ phụng nguy nga, oai phong lẫm liệt.
_ Chính giữa thờ các đấng thiên thần ; hai gian nhất tả và nhất hữu thờ các vị tiền canh, hậu khai khai khẩn, bản thổ tôn thần ; hai gian nhì tả và nhì hữu phối tiền quan tiền chức.
_ Ngôi đình này xưa thiết tại thôn Võ Đình, hiện nay còn đình lộ thiên tục gọi là "Đình hát". Sau ngày Vua Gia Long định đô được, làng di chuyển qua xóm Đồng Nhân. Tục gọi là "đất đình cộ" tức là chỗ trường học ngày nay. Trong hương phả có chép bài thơ lưu niên của thầy địa lý cất đình lúc bấy giờ như sau :
"LẦM QUAN CHI THỦ ĐÁO TIỀN ĐƯỜNG
LỘC, MÃ HỒI NGUYÊN ĐẠI CÁT XƯƠNG
THIẾU NIÊN TẢO TRẠC THANH VÂN LỘ
TRÙ HOẶCH GIA DU TÁ THÁNH VƯƠNG" (6)
_ Tương truyền, trước khi đặt địa bàn xuống gióng, hướng, thầy địa cũng có nói đến giờ cất Đình, trong xóm có phát hỏa, cần đề phòng. Quả nhiên đúng, khi thượng lương có nhà cháy.
_ Ngôi Đình cổ ấy đã trở thành tro tàn, gạch vụn, theo mười năm phong hóa. Toàn dân mới kiến thiết lại năm Mậu Tuất (1958) với lối kiến trúc mới và chỉ còn ba gian, có vẻ đơn sơ hơn trước bội phần, và đã khánh thành ngày 23 tháng Hai năm Canh tý (20-3-1960) (7)
-------------------
(6) Tạm dịch :
"Ngòi nước Lâm quan đến trước đình
Núi chầu Lộc, Mã đứng oai linh
Tuổi thơ theo bước đường sáng rọi
Giúp nước, phò Vua trọn nghĩa tình".
Thật là một địa thế tuyệt đẹp.
(7) Đình hiện nay bị hư hỏng quá nặng. tất cả hương án, bệ thờ, mái ngói, vách tường bị phá hủy. Một thời đã được sử dụng làm nhà Đội, sân Hợp tác xã.
Con dân Hiền lương đang kêu gọi các nơi quyên góp để tái tạo lại ngôi Đình theo lối xưa.
-------------------
_ VĂN CHỈ Văn chỉ là miếu thờ đức-Khổng Phu-Tử song song với Đình. Một ngôi miếu làm theo lối xưa và làm từ đời nào không thấy bút tích.
_ Một gian hai chái, ở án giữa thờ đức-Khổng Phu-Tử và bốn vị Á Thánh : Tăng Tử, Nhan Uyên, Tử Tư, Mạnh Tử, dưới phối thất thập nhị hiền. Hai án tả hữu thờ Tiền hiền, Khoa giáp, Danh nho. Một ngôi Miếu tôn sùng truyền thống, trải bao thế hệ, ngày hôm nay chỉ còn lưu tích lại một cái nền nằm trên khoảnh đất trống, cũng vì nạn chiến tranh.
_ ĐÌNH HÁT Đình Hát thuộc địa phận xóm Võ Đình, nguyên đời xưa ngôi đình trung ở đây, mặc dầu di chuyển đã gần hai trăm năm, nhưng vẫn còn bảo tồn di tích, xây một đền lộ thiên, tôn thờ vọng bái hàng năm xuân kỳ thu tế công nhiên đại đình, nhưng lễ túc yết vẫn cử hành tại Đình hát, xong cung nghênh lên đình trung.
_ Danh từ "Đình Hát" theo tục truyền : Ngày xưa Đình còn ở đây mỗi khi trong làng có khánh hạ hay hát bội, về sau dời Đình đi nơi khác, nên gọi là Đình Hát.
_ CHÙA Chùa nằm về phía Tây xóm Phước Tự, làm bằng ngói trên một khu đất rộng rãi, tiếp giáp với làng Phú Lễ. Danh hiệu "Giác lương Tự". Bốn mặt đều có la thành xây bằng gạch. Thành cao độ một mét hai, dày sáu tấc. Mặt ttrước có cửa tam quan, cửa tam quan trên lầu, dưới ba cửa vô ra. Qua khỏi tam quan, cách sân chùa. Chùa kiến trúc theo kiểu nhà Thiền. Chính giữa thờ Phật, đối diện thờ đức Hộ Pháp, bên tả thờ đức Quan Công, bên hữu qui y các vị Thỉ Tổ.
_ Sau ngày Văn Chỉ bị giặc hủy hoại, làng thỉnh tượng đức-Khổng Phu-Tử tạm vọng tại án tiền hữu.
_ Trong khuôn viên Chùa, các Miếu : Cao các Thần hoàng, Đặc Tấn phụ quốc Thượng tướng quân Trần Quý Công và Miếu Ngài Dương Đại lang (8)
-----------------
(8) Lúc Chùa mới dựng, tọa lạc tại Cồn Bệ ( một cồn nằm ở phía Tây của Làng, hiện còn di tích và Miếu thờ Bà Ưu Di Hoàng Thị Phiếu). Theo gia phả họ Dương cũng như truyền thuyết của làng, rằng : Thầy địa lý khi đi qua ngôi chùa đã khuyên làng nên dời đến chỗ này ( tức địa điểm bây giờ đang tọa lạc) thì sẽ phát tích...
Trong một đêm. dưới sự chủ trì của ông Dương Phước Pháp, làng Hiền Lương đã tập trung nhân lực, bí mật di chuyển Chùa. Sáng hôm sau người ta rất ngạc nhiên thấy Giác Lương Tự đã an tọa vững bền, cây cối xanh tươi, chim hót líu lo, rêu phong phủ màu cổ kính, tr6en mặt đất giáp giới với làng Phú Lễ.
Sau này Ông mất, làng có miếu thờ. Hiện còn bia và mộ chí.
-----------------
_ Căn cứ trong tài liệu tại Chùa mà nói, thì Chùa có lẽ dựng từ thời Hậu Lê, sau khi Tổ tiên chúng ta phò Chúa Nguyễn Nam Tiến ; Vừa lập làng, vừa làm Chùa, vì trong hàng Thỉ Tổ của chúng ta đã có Bà xuất gia thọ giới Ưu Bà Di tức là Bà Hoàng Thị Thỉ Tổ.
_ Một lẽ khác nữa, trong bài điệp văn làm chay ngày mồng tám tháng sáu năm Bính Dần, Gia Long thứ 5, toàn thể dân làng chí thành bạch Phật, lời lẽ thống thiết, có kể qua các cảnh chùa, vì chịu đựng lâu ngày hủy hoại, nay gặp hội thanh bình, và cầu nguyện Phật lực từ bi gia hộ cho các đấng Tổ tiên siêu thăng giải thoát. Bài điệp văn ấy nguyên văn như sau :
CUNG VĂN (9)
_ Tăng già dĩ tựu, hà ân đức dĩ vô tư, pháp vũ công viên cảm thần minh nhi hữu lại ký triêm đồng tác chi an dương khí kỹ thù chi nguyện, vì. Việt Nam quốc, Thuận Hóa xứ, Triệu Phong phủ, Quảng Điền huyện, Hoa Lang xã, cung tựu bản tự phụng Phật. Hội thủ Hoàng Văn Trục. Thủ bộ Hoàng Văn Vũ. Tộc trưởng mỗ, mỗ... Tiếp hương quan mỗ, mỗ... hiệp viên chức hương quan, hương lão cập thiện nam tín nữ toàn xã đại tiểu đẳng.
_ Thủ lịch vi thành ngưỡng vũ.
_ Địa giác từ tôn phủ thùy đồng giám, ngôn niệm toàn xã đẳng giao cư trần thể thiểm xử chúng dân thiệt.
_ Càn khôn phúc trải chi ân, cảm nhật nguyệt chiếu lâm chi đức, canh nhi thực, tạc nhi ẩm, sanh thành công đới vu nghiêu thiên, thiếu giã trang lão giả an trưởng dưỡng quân đào ư thuận nhật, dục sùng công đức tu khai phương tiện chi đào ư thuận nhật, dục sùng công đức tu khai phương tiện chi lương duyên, nghĩ bồi thọ bồ đề tất bổ thành tâm chi thiện niệm, do tiền bản xã cựu tích tự lập quan viên dĩ lai kinh thu chi lạo xâm ba lạng tư đường phá hoại, lịch tải chi phong xuyên vũ đã đóng vũ băng đồi, cấu bất tận ư nhân mưu hà dĩ an ư thiên trụ sái ư tư niên tam nguyệt thập bát nhựt đại lợi thời thọ trụ, thượng lương trùng tu tự vũ cưu công vân tất, loan giá vị nghênh, sự dĩ cáo thành khũng vu hữu khuyết , hoặc tổ sát mộc ương, gian khích nặc tàn quang dị, hoặc Tổ tông tiền duyên lũy đới vị thoát minh đồ viên bằng phổ độ chi công, thứ hộ siêu thăng chi độ.
_ Cung tiến.
_ Phương danh quý tánh liệt vị Tổ tiên đã viết trong phần thứ nhất. Chứng tỏ hương phong của chúng ta tôn lão kính trưởng, thứ đến hương quan, nghĩa là đứng đầu trong văn điệp làm chay, Ngài Hội chủ, Thủ bộ, đến Tộc trưởng của mười mấy họ sau mới đến ngài Hoàng văn cần và các quan viên khác.
----------------------
(9) Xem bài dịch ở phần phụ lục.
----------------------
_ TỔ ĐƯỜNG (10) Nhà thờ Tổ thiết tại phía bắc xóm Phước Tự, xây bằng ngói một gian hai trái, kiến trúc theo kiểu từ đường, chu vi có la thành. Chính giữa thờ Tổ sư, Ngài Tây-Nhạc Kim-Thiên Thuận-Đế, gia phong Thái-Lợi tôn-thần, và phối liệt vị tiên sư.
_ Tả hữu thờ tiền hiền trong làng.
_ Tổ đường cũng bị chiến tranh phá hoại, mới được trùng tu năm Đinh Dậu (1957) và khánh thành ngày kỵ Tổ mười tám tháng hai năm Kỷ Hợi (1959).
----------------------
(10) sau khi chiến tranh năm 1975, Tổ đường bị hư hỏng nặng, không thể thờ cúng được, con cháu của Ngài Tổ sư đã thỉnh về thờ tại Văn Chỉ, song song với Đình Trung, thuộc xóm An Hội. Con cháu, dân làng đang quyên góp đại trùng tu lại nhà thờ tổ để rước anh linh của Tổ sư và phôi liệt vị Tiên sư về chỗ cũ để thờ tự đúng với truyền thống của làng.
----------------------
_ KỲ TÍCH Trung tâm thôn Văn Quán mà cũng là trung tâm của làng, có đắp một hình kỳ lân đứng trấn thủ từ đời xưa đến nay, dấu tích vẫn còn nguyên. Cổ truyền : Kỳ lân này trấn yểm nóc chùa làng Cổ Tháp đâm ngang giữa làng.
_ MIẾU Tại các xóm, mỗi xóm, đều có hai miếu thờ thiên thần : ngũ hành, thành hoàng và miếu khai canh, nếu xóm nào có công đức của Ngài nào thì thờ Ngài ấy.
_ Tại xóm Đồng Nhân thờ hai miếu : Ngài Bản thổ Trương Quý Công, Ngài Thọ Lộc Hầu Hoàng Quý Công. Tại xóm Phước Tự thờ miếu ngài Bản thổ Dương Quý Công.