ĐỌC TRONG DỊP LỄ KHÁNH THÀNH ĐÌNH LÀNG NGÀY 23 THÁNG 2 NĂM CANH TÝ (1960)
(Trích)
...
Kính thưa quý vị quan khách
Kính thưa toàn thể bà con trong làng !
... Sở dĩ chúng tôi quan niệm Ngôi Đình làng chúng tôi là một di tích thần cổ kính, vì sự thật suốt một trăm năm qua tọa lạc trên mảnh đất này, và qua một thế kỷ anh hùng cùng tuế nguyệt, giữa mối đồng tâm nhất trí tôn thờ tổ tiên của toàn thể dân làng, với hương hỏa uy nghiêm xuân thu kỳ tế, Tứ quý tam nguyên. Công trình kiến trúc này đã nghiễm nhiên thành một di sản tinh thần bất diệt trong tâm khảm chúng tôi... Với các dấu tích ở bốn cột trụ biểu còn tồn tại vài câu đối bao hàm nhiều ý nghĩa. Chúng tôi có thể tự hào trong một thôn trang văn hiến ngàn xưa còn lưu lại...
... Nhân dịp này, kính xin quý vị cho phép chúng tôi được cùng nhân dân trong làng Hiền Lương ngược dòng lịch sử, đồng tâm ông lại tiểu sử uy linh của các đấng tiền hiền tôn trí thờ phụng trong Đình... Cổ nhân dạy : "Cây có rễ, nước có nguồn". Trong giờ phút này, chúng tôi hân hoan ngưỡng vọng lên hương khói nghi ngút, đèn rạng hoa thơm, lặng lòng yên bái anh linh tiền liệt, hướng về bao nhiêu công đức của tiền nhân với tất cả tri ân và sùng kính ! Tâm niệm đến tiền nhân chúng ta càng phấn khởi trước sự nghiệp hiển hách của Tổ tiên đối với quê hương giống nòi, do đó di tích tinh thần vừa tái tạo lại của chúng ta, chẳng những là một kỳ tích văn hiến mà còn là một kỳ tích của linh khí tiền nhân kết tinh bằng xương máu và khí phách anh hùng trong quá trình lập nước...
... Quên sao được Tổ tiên chúng ta đã gầy dựng nên gia hương trên sáu phường : Công Thành, Đức Thắm, Khánh Mỹ, Thượng Hòa, Triều Dương và Hưng Long từ núi Ba Trục tiếp dãy Trường Sơn hùng vĩ... Dưới sáu xóm : Siêu Quần, An Hội, Đồng Nhân, Võ Đình, Văn Quán và Phước Tự. Một cánh đồng non sông chung tú, với một kỹ nghệ đứng đầu trong bách nghệ.
Kính thưa làng!
Công nghiệp khai sáng thôn trang, quy dân lập ấp chính là do trước hết 12 vị Thỉ tổ, trong đó có bốn Ngài họ Hoàng, có một bà nữ tu sĩ xuất gia, thọ giới Ưu Bà Di, 2 Ngài họ Trương, một Ngài họ Dương, 2 Ngài họ Trần, 2 Ngài họ Nguyễn (trong đó có một bà) và 1 Ngài họ Trịnh. Tiếp theo là bốn vị hậu tập - Phan, Lê, Nguyễn, Võ. Đặt tên làng ta là Hoa Lang. Đến triều Minh Mạng toản tu địa bộ đổi lại là Hiền Lương...
... Căn cứ vào gia phả các họ đã 14-15 đời, từ thế hệ này sang thế hệ khác hơn 400 năm, công thần, khanh tướng, khoa giáp, danh nho dòng dõi chúng ta làm nên nhiều sự nghiệp xứng đáng với danh hiệu Hiền Lương mà các triều đại nước nhà đã từng khen tặng bốn chữ "MỸ TỤC KHẢ GIA".
... Đề cập đến chiến công của Tổ tiên, xẻ núi phá rừng, di dân lập ấp, thì vị anh hùng tiền khởi là "Đặc Tấn Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Trần Quý Công"... Tiếp đến các Ngài phò Lê diệt Trịnh, các Ngài đều được phong "Nhựt Bảo Trung Hưng"... "Lược tài hầu" với chức "Hải môn trấn quan"...
Kính thưa làng!
Nhắc đến công lao vĩ đại của các đấng tiền hiền Thỉ tổ, chúng ta không quên ôn lại sự nghiệp anh hùng của các vị tiền quan, tiền chức. Cùng cuối thế kỷ bấy giờ có Nguyễn Lương tướng quân, Dương Trọng Tấn Nam Nghĩa tổng đốc, phụng mạng chỉ huy dẹp loạn Lê Văn Khôi được vua Minh Mạng phong "Hữu quân" với tước "Bình Thắng Nam"... Về kỹ nghệ phát minh cơ khí có Ngài Hoàng Chánh Giám đã nổi bật biệt tài chế tàu đồng, súng đạn. Được Vua phong tước "Lương Sơn Hầu"... Dưới gọng kềm của thực dân Pháp, tuy có lắm Ngài xuất sĩ nhưng thần hàn tâm hán luôn luôn nuôi chí lớn bất chấp gian nguy, trọn đời giữ tấm lòng trung quân. Văn Minh Trương tướng công là một tấm gương sáng. Sau khi Vua Thành Thái bị Pháp truất phế, nhân phong trào bài quân chủ do nhà cách mạng Phan Tây Hồ đề xướng, thì cơ hội ấy người Pháp dùng chánh trị manh tâm mong muốn đưa Trương tướng công, đương thời đảm nhiệm chức vụ Phụ chánh đại thần ra lập dân chủ giả hiệu với chức Phụ Quốc trưởng. Mời Trương tướng công đã dõng dạc khước từ và cương quyết tôn Hoàng tử Vĩnh San lên nối ngôi lấy hiệu là Duy Tân. Thật là một tấm lòng cao cả...
... Sau khi vua Khải Định băng hà, một lần nữa chánh phủ Pháp bức bách Nam triều ký hiệp ước 1925, thu tóm tất cả quyền hành Vua, Quan vào tay người Pháp, biến Nam triều thành bù nhìn ngồi trên hư vị. Sự kiện nhục nhã này liên hệ tới quốc thể, tổn thương cho tiền đồ quốc gia... Các vị đại thần đều ngậm đắng nuốt cay ký vào hiệp ước ấy. Duy chỉ có hai cụ : Phước Môn Nguyễn Hữu Bài và Phò Ninh Trần Đình Bá phản đối. Sau khi an táng nhà Vua xong, Phò Ninh tướng công trở về trí sĩ, lưu lại danh tiếng trung lương giữa toàn bộ triều đình. Ngài được phong "Đông các". Sau khi cụ tạ thế, có chữ "Thuần Thần Khả gia". Riêng Phước Môn quận công Nguyễn Hữu Bài có câu đối điếu :
"Thiết hoán minh tồn tái thế ưng tư hồi cố quốc
Ngọc lâu phú tựu cựu thần đắc tiến kiên vương"
Ý nói : " Lời thề ước còn đó, dầu kiếp sau, cũng nên lo phục quốc.
Làm tôi trung, nay thác xuống huỳnh tuyền, gặp mặt vua không thẹn" ...
Kính thưa làng !
Trong 80 năm thực dân Pháp xâm lược nước ta. Làng Hiền Lương đã có nhiều vị anh hùng vô danh tham gia các cao trào cách mạng kháng Pháp, Cần Vương, Đông Du, khởi nghĩa Duy Tân... Tinh thần bất diệt của các vị ấy đã sống dậy trong danh hiệu chung "Anh hùng liệt sĩ cách mạng tiền bối".
Gương sáng của các Ngài mà chúng tôi vừa thành kính cố gắng phác họa lại phần nào trên đây. Chính là những ngọn lửa trung dũng thiêng liêng, những nỗi lòng yêu nước, thương nòi truyền lại cho các thế hệ mai sau không bao giờ phai !?...
Xin cám ơn quý liệt vị quan khách đã quan tâm đến chốn thôn dã này!
Trân trọng kính chào quý vị.