ĐIỆP VĂN
BÀI DỊCH ĐIỆP VĂN CỦA LÀNG
LÀM CHAY TẠI CHÙA NĂM BÍNH DẦN, GIA LONG NGŨ NGŨ NIÊN
Cung văn :
Pháp vũ công thoa, Tăng già tề tựu
Mừng thay công đức vô tư, cảm bày thần minh phù hựu. Yên vui được thấm ơn thuần, thù nguyện kính dâng lễ tạ.
Chúng tôi : Hội chủ Thủ bộ, tộc trưởng và Hương quan toàn xã Hoa Lang, Thiện nam, tín nữ, một tấm vi thành, lạy dâng phật Tổ, mong nhờ Đức Đại giác từ tôn, phù thủy tế độ.
Toàn xã chúng tôi ở chốn nhân gian, sanh nơi trần thế, Nhờ ơn nhật nguyệt chiếu lâm, cảm đấng càn khôn che chở.
Cày ruộng ăn, đào giếng uống, nên mở nhân duyên phương tiện. Muốn trồng bồ đề kiên cố, phải dày thiện niệm thành tâm.
Nguyện trước Chùa làng, noi theo dấu cụ. Kể những thuở mưa sa gió táp, đóng vũ, băng đồi. Trải bao năm lụt lội sóng dồi, từ đường hủy hoại. Ví dầu tận nhân lâm mưu tàm sao cho an thiên trụ ? chọn ngày mười tám tháng ba năm nay vào giờ đại lợi, thụ trụ thượng lương, trùng tu tự vũ. Cưu Công đã tật, loan giá chưa nghênh, việc đã cáo thành thợ còn thiếu đủ.
Hoặc vì thổ sát mộc ương, đương ẩn tàn quái dị ? Hoặc vì Tổ tiên tiền duyên trệ lụy, chưa thoát khỏi minh đồ ?
Duy bằng Phổ độ phò trì, hậu gặp nẻo siêu thăng tịnh độ.
Cung tiến.
Liệt vị Tổ Tiên
(như trước kia đã chép)
================================================================
BẢN DI CHÚC CỦA CỎ LAU
(Trích : Chương 5) Tiểu thuyết của HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
... _ Vút! Vút!
Bình bỗng nghe "Bập" một cái đau điếng ở mắt cá, thì một vật gì ẩm ướt giống như một sợi dây chão tự động, trong nháy mắt đã cuộn lấy anh từ chân lên đến đầu, bít luôn cả mắt mũi. Khi những cái khoanh lạnh lẽo đó vừa cuộn lấy anh ngang tới bụng, Bình phát hiện ngay ra tai họa d0ang tới.
_ Con Trăn.
Bình thốt ra một tiếng kêu nhỏ, và kéo ngay tức khắc, bằng một phản xạ cực nhạy của cơ thể sống, anh giang thẳng cánh tay phải ra ngang vai. Như sẽ thấy, chính cái động tác nho nhỏ ấy đã cứu Bình thoát chết, trong một tình huống tuyệt vọng không ai có thể tưởng tượng nổi.
Cái mà lúc đầu Bình ngỡ là hòn đá và đã dẫm chân lên đó chính là một con trăn. Nó đang nằm ún đống trong bóng tối, lặng lẽ há miệng ngay dòng chảy để hứng những thứ mồi nhỏ trôi theo nước, lúc Bình tụt xuống hòn đá, thì tay trái anh đang nắm cần câu với xâu cá lóc, và tay phải anh cầm một chiếc rựa mây. Đây là thứ rựa chuyên dùng của những người thợ rừng làm nghề chặt mây ; Ông Đá kiếm ở đâu đó cho anh. Nó nhỏ, nhẹ và bén đến nổi thổi một sợi tóc trên lưỡi thì sợi tóc dính hẳn vào đấy. Bình luôn luôn mang theo cây rựa mây như một thứ phòng thân lợi hại ; Bước ra khỏi lều mà không có cây rựa trong tay là anh cảm thấy nguy và trở lại lấy ; cây rựa như là phần nối dài của chính cơ thể anh, dính liền với bàn tay lúc đi đường. Khi con trăn cuốn khắp chân thân anh, tay trái của anh đã bị nó bó sát dọc theo mình, và tay phải cầm cây rựa mây được anh giang ra kịp, giống như một cành cây đâm ngang choãi ra bên ngoài. Lúc này toàn thân Bình đã biến thành một thứ con cúi rơm khổng lồ, mà sợi thừng đánh vòng ở bên ngoài chính là con trăn.
Lớn lên từ một ngôi làng ven rừng, đánh bạn lâu năm với những người làm nghề rừng. Bình có một mớ vốn hiểu biết khá chính sách về rừng, đặc biệt là đặc tính riêng của các loài thú. Như loài trăn, anh hiểu rằng khi trăn cuốn được con mồi vào giữa lòng nó, nó sẽ nằm yên để thở trong vài phút rồi sẽ dùng hết sức mạnh của cột sống nhún liền ba cái. Nhún đến cái thứ ba thì con vật lớn bằng con nai cũng bị nát vụn xương, chỉ còn là một đống thịt nhũn, và trăn bắt đầu nuốt sống con mồi vào bụng nó. Trăn là như thế. Và bây giờ muốn sống, Bình chỉ biết còn một cách là phải chặt đứt nó ngay tức khắc, dù có phải vì thế mà đứt lìa luôn cả chân của mình cũng phải chặt trước khi con vật kịp thực hiện các động tác khủng khiếp của nó. Tất cả những tính toán đó chỉ diễn ra trong óc Bình có vài ba giây đồng hồ. Và anh dồn hết sức mạnh của một người quyết sống lên cánh tay phải lia một nhát rựa cực kỳ ác liệt nhằm đúng bắp đùi chân trái của mình. Không hiểu kết quả ra sao, nhưng tiếp ngay sau đó, anh nghe con trăn siết lấy ngực anh và nhún một cái, làm anh choáng váng ngã xuống nền đá. Bình biết rằng nhát rựa của anh đã không dứt điểm, và như vậy anh không còn cách nào thoát chết bởi cái nhún thứ hai của con trăn. Nhưng ngay lúc đó, thân con trăn vòng quanh anh tự nhiên lỏng ra, nửa mình trên của nó mềm xuội nằm oặt trên mặt đất. Bình chống tay ngồi dậy đánh bật lửa nhìn : nhát rựa liều chết của anh đã được thực hiện như một đường gươm tuyệt kỹ của một kiếm khách thời cổ. Nó thiến ngang cột sống con trăn, mình con vật đứt làm hai bằng một nhát cắt thực ngót, chỉ còn dính nhau bằng một làn da bụng mỏng đủ để khỏi phạm vào chính bắp đùi của anh. Chiếc rựa mây vẫn còn nguyên trong tay Bình. Anh quẹt lưỡi rựa lên mình khúc trăn để chùi sạch máu. Nên nhớ loài trăn có một bộ cột sống khỏe và rắn ghê gớm đủ sức nghiền nát một con lợn rừng còn dễ hơn người ta bóp vỡ một củ khoai chín. Vừa rồi nếu một cây rựa bính thường nào khác, bất luận nó sắc bén đến đâu, chắc chắn khi chạm vào xương sống con trăn, nhát rựa sẽ bị quằn lại và con mãnh thú sẽ không thèm coi cái vết chém kia ra mùi gì, cứ việc bóp nát cơ thể Bình tan ra máu. Thế mà cây rựa nhỏ này đã chém ngang con mãng xà nhẹ nhàng như chém một cây chuối, "chỉ thợ rèn Hiền Lương mới trui nổi loại théo ghê gớm như vậy, quả là danh bất hư truyền". Bình thầm thán phục cái làng rèn danh tiếng ấy ở bên sông Bồ. Hai trăm năm trước đã từng rèn gươm giáo cho đội quân Nguyễn Huệ đi giải phóng đất nước. Từ đấy đối với anh, cây rựa nhỏ kia còn quý hơn cả một thanh gươm báu lưu truyền ...
================================================================
LÀNG RÈN QUÊ TÔI
(TRÍCH) Bút ký của DƯƠNG PHƯỚC THU
... Tôi không phải là thợ rèn chuyên nghiệp như cả làng tôi, từ già chí trẻ, từ gái chí trai, ai ai cũng biết cầm kim, cầm búa, biết đánh những nhát búa kỹ thuật, và tóm lại họ còn biết rèn cả. Tôi nay làm nghề khác nhưng vẫn "phụ rèn" được, vì xưa kia tôi cũng vậy, như mọi người dân làng rèn thôi. Ra đời, mẹ tôi treo cái nôi con trẻ bên cạnh lò rèn - con thợ rèn mà lại ! Một cảm nhận nghề rèn khi tôi chưa biết chữ : Cha tôi cũng thợ rèn, rồi chú tôi cũng vậy. Ông tôi xưa kia cũng thế, cả nhà tôi mấy đời là thợ rèn !
Cha tôi nay đã già không đủ sức rèn nữa, nhưng ông thường bảo với đám con cháu rằng : Dân cơ khí các con nhớ bài học đầu tiên bao giờ cũng phải "rèn" cái đã. Nói vậy chứ thấy tôi "mê rèn", nhiều người khuyên tôi hãy dẹp đi, chọn nghề khác. Rèn làm chi cho khổ, thiếu gì việc làm cao sang hơn, truyền thống hơn !
Không! Tôi là con cháu thợ rèn, làm gì thì làm, tôi cũng phải rèn cái đã, rèn càng chắc tay càng tốt.
Dạo ấy cậu em kế tôi đi học nghề, thoát ly gia đình đến nửa năm không tin tức, cả nhà lo sốt vó, nhất là cha tôi - "Không hiểu nó học cái gì". Ông cụ băn khoăn mãi. Cuối cùng rồi cũng nhận được thư, tôi đọc và phấn khởi báo tin : "Thằng Sáu học nhiệt luyện". Mới đến đó cha tôi đã làm ầm - Tau nói hắn xin học rèn tại răng hắn không nghe ?
Mẹ tôi vội buông con dao đang mài, can ngăn :
_ Thì ông cứ để nghe con nó đọc đã ...
_ Tau không nghe nữa. Ông giận dữ, đúng là thợ rèn thật, tay chân nổi gân, mắt trợn trừng lên rồi phắc một cái quay sang ôi - Mi viết thư cho hắn, nói rằng tau buồn ... !
Cả nhà lắng xuống như có đám ma. Không ai nói gì nữa, cha tôi ngồi bần thần một lúc trầm ngâm với những suy diễn của riêng ông. Lát sau ông chậm rãi, nói :
_ Mình con thợ rèn học cái nghề ấy nó hay hơn, biết rằng khổ đấy, nhưng mình có gốc rồi, sợ gì...
Từ ngày đó ông như người mất hồn, kém ăn, kém ngủ, thở ngắn, thở dài mà hình như ông gầy đi thì phải, má tóp kìa, mắt sâu hoắm, râu dài ra không thèm cạo. Đến lúc ông biết đích thực ở trường cậu em tôi họ gọi "gia công áp lực hay nhiệt luyện" chẳng qua cũng rèn cả mà thôi. Ông cười hì hì, nói :
_ Có rứa chứ ! cái gì cha truyền con nối, nghề nghiệp khá hơn cả cho coi !
Làng tôi xưa chỉ sống bằng nghề rèn. Cả làng làm thợ rèn. Khách bộ hành có thể đứng xa vài dặm vẫn nghe rõ nhịp điệu của búa đánh vọng tới, lúc ào ạt, lúc trầm lắng, một nhịp điệu của cuộc sống làng thợ rèn.
Trãi qua những thế kỷ thành lập mảnh làng nho nhỏ ấy, qua quá trình sử dụng "hàng rèn" của khách hàng, sản phẩm của họ được nâng lên bởi sự tín nhiệm,và thế là làng rèn nổi tiếng khắp nơi, đúng là tiếng lành đồn xa... Sắt thép ấy, thời gian ấy, nhưng dưới bàn tay điêu luyện tuyệt vời mang hai yếu tố nghệ thuật và kỹ thuật của thợ rèn Hiền Lương - sản phẩm tạo thành sắc bén, bền đẹp. Thật là kỳ lạ...
Huế 1986
================================================================
CHUYỆN PHÉP - LỆ Ở HIỀN LƯƠNG
Hoàng Phước
Nước có phép nước của nươc - Làng có lệ của làng ! Nói như vậy, không có nghĩa là nhập làng thì quên phép nước _ Còn khi ra khỏi làng nhập vào nước thì "đành quên" lệ làng. Một điều căn bản, làm người trong mọi thời đại, kể từ thứ dân cho đến các bậc trượng phu phải luôn luôn giữ trọng cả hai điều ấy. Lệ làng _ Phép nước . Nhập gia tùy tục mà !
Đương nhiên, làng _ nước cũng như phải đặt ra được những phép _ lệ trên nột bình diện nào đó ( dù chỉ là tương đối) bổ sung cho nhau thành pháp _ lý, tạo thuận lợi xây dựng xã hội _ thuận lòng dân, đẹp ý nước, thì lúc nào và bất cứ ở đâu, cái gốc đạo của nước trong dân và ở nơi dân mới được vững bền...
Một chuyện ghi lại : Dưới triều Minh Mạng, làng rèn Hiền Lương thuộc huyện Phong Điền, phủ Thừa Thiên đã dâng sớ tâu Vua về việc bị chặt phá măng, tre bao quanh làng, ngày một trụi dần. Nay tâu Vua xét phê chuẩn cho một việc này : "Cứ vào tháng ba, tháng tư hàng năm, bất cứ nhà nào trong làng hoặc giả các làng, xã khác quanh tổng Hiền Lương đều cấm ăn măng tươi, cấm chặt tre già ".
Vua hỏi, tại sao ?
Làng luận rằng : Những cây măng mọc vào tháng này đều to thân, khỏe mầm, gặp thời tiết tốt sẽ trưởng thành những cây tre già, rắn chắc rất ích lợi. Nếu chặt che vào thời điểm này măng cũng bị hư hại.
Riêng măng, từ tháng bảy âm cho đến hết năm thì dân được ăn, tre được phép chặt đốn, lậun rằng : Măng mọc vào những tháng này, thường hay gặp bão lụt, măng khó sống qua khỏi cơn tàn phá của trời đất, còn tre cũng đã già lão.
Nếu kẻ nào phạm phải điều này đều bị trị tội, tùy theo mức độ.
Người nào phát hiện được những kẻ vi phạm sẽ trọng thưởng tùy theo mức độ.
Vậy, là đềiu ấy đã đi vào phép của nước, lệ của làng Hiền Lương với câu truyền tụng "Tháng bảy Vua tha - tháng ba làng bắt tội".
Tương truyền rằng, vào dạo đó, đang trong giữa thời kỳ cấm ăn măng, ở làng Hiền Lương có gia đình Quan Trùm Xóm nhân ngày có khách, gặp lúc "kẹt quá", đành làm liều bẻ măng tươi kho thịt vịt đãi khách. (Vị khách cũng là bà con với gia chủ) thấy trên mâm cơm có dĩa măng kho thịt vịt - rất ngon, ông ta thò tay bốc vội một miếng măng lặng lẽ gói vào tờ giấy bổi. Buổi tiệc gật gà, gật gù, chén huynh, chén đệ, rất tâm đắc, lâu ngày mới hội ngộ...
Sau ba ngày, miếng măng kho thịt vịt "giàu lòng mến khách" ấy đã dẫn bộ gia đình chủ nhà kia ra trước làng xử phạt!
Chuyện xưa là có vậy : hiện thời bất kể lúc nào chúng ta cần măng tươi, hay tre già đều có cả, muốn bao nhiêu cũng được, miễn là cần...
Xét tưởng rằng , chỉ cần việc nhỏ ấy thôi - ngày nay những phép - lệ này vẫn còn được dân trọng dụng há chẳng hay lắm sao ?!
Huế 1990
================================================================
HOÀNG VĂN LỊCH
NGƯỜI ĐÓNG TÀU CHẠY BẰNG MÁY HƠI NƯỚC ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM
Lê Quang Thái
Kể từ khi Denis Papin sáng chế ra chiếc tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên trên thế giới ( năm 1707) , mãi cho đến 131 năm sau, nước Đại Nam mới mua được chiếc tàu chạy máy thay thế cho thuyền chèo bằng tay hoặc thuyền buồm nhờ sức gió đẩy.
Trước mốc thời điểm ấy, vào đầu thế kỷ thứ 19 - kỹ thuật đóng thuyền chèo, thuyền buồm dưới thời Vua Gia Long đã được những du khách nước ngoài đến thăm Việt Nam như fohu white Cnau Furd phải nhìn nhận và đánh giá là tiến triển và đạt tới trình độ tương đối hoàn hão.
Theo ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ, Cơ quan trung ương theo chỉ đạo việc đóng tàu thuyền là Vũ khố thuộc bộ Công, dưới quyền điêu khiển của một chức quan (Hàm Lang trung). Cơ quan trực tiếp thi công đóng tàu là Sở Vũ khố đốc công thuộc Vũ khố). Đứng đầu Sở Vũ khố đốc công có chức quan Giám đốc hay còn gọi là Đốc công ( ngang hàng viên ngoại Lang). Chức quan này do Bộ binh bổ nhiệm, nhưng thuộc quan và thợ thuyền do bộ Công quản lý. Ngoài ra, Sở Vũ khố đốc công còn làm nhiệm vụ chế tạo khí giới và đúc súng thần công. Năm 1838, Minh Mạng thứ 19, Nhà Vua sai Vũ khố dựa theo tàu Tây dương đóng thành tàu chạy bằng hơi nước Đại Nam.
Trước khi bắt tay vào công việc, triều đình Huế tặng thưởng cho Sở Đốc công Vũ khố 100 quan tiền, tạo niềm hưng phấn tinh thần cho đội ngũ thợ thuyền...
Một năm sau, vào mùa xuân 1839, bộ công dâng trình Vua Minh Mạng cho chạy thử chiếc tàu chạy máy hơi nước mới đóng được trên dòng sông Hương.
Vua chuẩn y. Khâm thiên giám chọn ngày lành tháng tốt cho lễ hạ thủy, được tổ chức long trng5. Tháng tư năm ấy, Vua Minh Mạng ngự ra xem với lòng đầy tin tưởng vào cuộc thử nghiệm sẽ thành công. nào ngờ, nồi hơi bị vỡ, tàu không tài nào chạy được ! Vua nổi giận lôi đình, cách chức quan bộ Công, tống ngục Ban Đốc công và chuyên viên chờ đình thần xem xét mà luận tội !
Cuộc thử nghiệm thất bại. Nhưng chỉ vào tháng sau, Tân Giám đốc Hoàng Văn Lịch cùng với những cộng sự của mình tại Sở Đốc công vũ khố _ ngày đêm nghêin cứu tìm tòi, mới sửa chữa được hỏng hóc kỹ thuật. Bộ Binh cùng Bộ Công đốc suất Sở Vũ khố đốc công cho thử nghệm vận hành chiếc tàu chạy bằng hơi nước ở dòng sông An Cựu. Kết quả đã thành công như ý muốn. Đánh dấu một sự kiện lịch sử trong việc áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật và ngành đóng tàu của Việt Nam.
Sự kiện lịch sử ấy được ghi lại như sau : "Ngài (Vua Minh Mạng) ngự chơi cầu Bến Ngự, xem thí nghiệm tàu chạy bằng hơi nước - Khi trước Sở Vũ khố chế tạo tàu ấy, đem chở ra sông, giữa đàng vỡ nồi nước, máy không chạy được người Đốc công bị xiềng, quan bộ Công là Nguyễn Trung Mậu, Ngô Kim Lân, vì cớ tâu không thiệt đều bị bỏ ngục. Bây giờ chế tạo lại, các máy móc vận động lanh, thả xuống nước chạy mau. Ngài ban thưởng cho Chánh Giám đốc Hoàng Văn Lịch cùng người phụ tá Vũ Huy Trinh mỗi người một nhẫn pha lê độ vàng, một đồng tiền vàng Phi long hạng lớn. Đốc công và binh tượng được thưởng chung 1.000 quan tiền. Ngài truyền rằng "Tàu này mua bên Tây cũng được, nhưng muốn cho công tượng nước ta tập quen máy móc cho khéo, vậy nên chẳng kể hao phí gì ". (Quốc triều chính biên).
Nhà vua quan niệm rằng, thưởng hay phạt đều có căn cơ, phải dựa vào lẽ, kỹ cương, phép nước được đặt lên hàng đầu, khiến ai cũng phải tôn trọng. Phương châm quyết định việc thưởng phạt là "có công thì thưởng, có tội thì răn". Cách đây trên 150 năm, ví muốn cho đất nước tiến bộ, Vua Minh Mạng thưởng phạt công minh, không quản ngại tốn kém ngân sách quốc gia để thực thi những công cuộc duy tân xứ sở, mà việc sáng chế máy móc, thuốc súng, khai mõ và đóng tàu thuyền chạy bằng hơi nước là những bằng cớ tiêu biểu.
Vào thời bấy giờ, Chánh Giám đốc Sở Vũ khố đốc cômg là Hoàng Văn Lịch, người làng Hiền Lương, huyện Phong Điền, Phủ Thừa Thiên. Một làng văn hiến, nổi tiếng về nghề rèn và cơ khí. Ông đã cùng với thuộc viên và thợ thuyền trong binh xưởng chế tạo thành công tàu chạy bằng máy hơi nước đâu tiên của nước ta. Là người trực tiếp đứng mũi chịu sào , Giám đốc Hoàng Văn Lịch được nhà Vua thọ phong tước Lương _ Sơn _ Hầu và nhiều bỗng lộc khác nữa. Thành công này do Hoàng Văn Lịch đã khéo tập hợp và lựa chọn những người thực sự có tay nghề cơ khí cao, có tinh thần yêu chuộng khoa học kỹ thuật tiến bộ. Phần lớn những cộng sự của ông và thợ thuyền ở Công binh xưởng đều là người làng Hiền Lương và những tay thợ cơ khí giỏi trong nước được đềiu động về làm việc ở Sở Vũ khố đốc công tại Kinh đô ( Nay là Khu vực Phường Thuận Hòa thành phố Huế). Sức đóng góp của những nghệ nhân và thợ thuyền của dân gốc làng Hiền Lương là đáng ghi công trong những thành tựu về chế tạo vũ khí, chế thuốc súng và đóng tàu thuyền của Việt Nam thế kỷ thứ mười chín.
Trước thành tựu đạt đượcvề khoa học kỹ thuật bước đầu, khiến nhà Vua vui mừng lao theo việc đóng thêm một chiếc tàu lớn, phí tổn lên tới 11.000 quan tiền vào tháng 10 năm Kỷ Hợi 1839. Với đà tiến ấy, vào mùa mùa hạ năm Canh Tý - 1840, triều đình Huế lại quyết định đóng thêm chiếc tàu hạng trung kiểu mới. Vua Minh Mạng ủy quyền cho Sở Vũ khố đốc công ; dựa vào chiếc tàu chạy bằng hơi nước hạng lớn mới mua về để định lại mực thước, thiết kế bản vẽ kỹ thuật mà chế tạo tàu mới.
Chánh Giám đốc Sở Vũ khố đốc công Hoàng Văn Lịch, cùng thuộc viên, binh tượng, thợ thuyền lại có điều kiện phát triển tài năng. Sách ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN cho biết những đặc điểm cụ thể của chiếc tàu hàng trung kiểu mới như sau : "Thân tàu dài 5 trượng, 4 thước, ngang 9 thước, sâu 4 thước 3 tấc 6 phân. Nồi chứa nước dài 6 thước 5 tấc, ngang 5 tấc, cao 4 thước 1 tấc, trục bánh xe guồng hai bên làm dài thêm 2 thước. Tay guồng 12 cái vẫn làm bằng sắt duy ván tay lái làm bằng gỗ lim dài 3 thước 3 tấc, mặt 9 tấc, hai trục bánh xe guồng làm thêm mỗi bên một cái tổ trục bằng đồng, tùy tiện mà làm, ván thân tàu bằng gỗ tử, gỗ đỗ cũng được, ván chỉ dày 8 phân... "
Kể từ lúc khởi sự đóng tàu chạy bằng máy hơi nước cho đến tháng 4 năm Canh Tý 1840, Minh Mạng thứ 21 dưới sự chỉ huy của Giám đốc Hoàng Văn Lịch, Sở Vũ khố đốc công đã đóng được 3 chiếc tàu chạy bằng hơi nước :
_ Khởi công 1838 (Minh Mạng 19) đóng tàu nhỏ và hoàn thiện vào đầu mùa hạ năm 1839.
_ Mùa Hạ năm Canh Tý 1840 đóng thêm tàu hạng trung kiểu mới.
Đây là thành tựu rực rỡ của ngành công nghiệp đóng tàu chạy bằng máy hơi nước đầu tiên của Việt Nam. nên vào tháng 7 cùng năm (1840), Vua Minh Mạng đích thân đặt tên cho 3 chiếc tàu : Tàu lớn gọi là Yên Phi, tàu hạng trung gọi là Vân Phi, tàu nhỏ gọi là Vụ Phi. tên tàu nào cũng đẹp và đều có ý nghĩa. Danh hiệu của tàu đều được khắc chữ vàng ở đằng sau bánh lái. Thành tựu vinh quang của nước Đại Nam vào giữa thế kỷ 19 trong đó có sự cống hiến lớn lao của một công trình sư, Hoàng Văn Lịch, và những bàn tay khéo léo của binh tượng, thợ thuyền của Sở Đốc công vũ khố.
Sách ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, ghi lại nhiều chi tiết về nguồn gốc và cách chế tạo của binh xưởng như sau :
"Tàu Yên Phi khi mới mua ở tây Dương về, máy móc nhiều chổ han rỉ, nồi sắt cũng rò nước, chạy thử chưa được nhanh nhẹ, đã sai đốc công, sức thợ tháo ra xem xét, mài dũa từng cái, sửa chữa chỉnh đốn, lại ráp vào như c ũ cho cùng với thuyền hiệu Bình Hải ra biển chạy thử từ cửa Thuận An đến đồn Đà Nẵng, đi về hai lần tàu chạy máy hơi nước đ62u chạy nhanh hơn ( thuyền Bình Hải vẫn có tiếng là lanh lẹ), Vua ban thưởng Chánh giám đốc Hoàng Văn Lịch và cộng sự Vũ Huy Trinh, đều gia một cấp, áo quần đều mỗi người hai cái. Còn các thợ thì thưởng 300 quan tiền".
Tiếc thay, chính sử của triều Nguyễn không ghi lại rõ về sức tải cùng vận tốc đạt được, với những ổ súng đại bác đặt trên đó và có thể chở được bao nhiêu thủy thủ, cùng binh lính trên chiếc tàu Yên Phi ?
Tuy vậy, những cuộc thử nghiệm chế tạo tàu chạy bằng máy hơi nước đầu tiên đã thành công vẻ vang, vượt ra ngoài dự tính cả về năng lực, lẫn thời gian. Trên đường sông cũng như đường biển, tàu máy rẽ sóng lao đi. Châu bản triều Minh Mạng 19 đã khẳng định "Tàu chạy rất mau, không kể gió, nước ngược xuôi, không cần người chèo".
Thành công lớn ấy chính là do quyết tâm cách tân và ý chí tự cường của Vua Minh Mạng. Một cống hiến vượt bậc của Tổng công trình sư Hoàng Văn Lịch _ người thực thi một trong những chương trình duy tân, đã dám gắn liền cả sinh mạng của chính mình cùng cộng sự, binh tượng, thợ thuyền dân làng Hiền Lương vào sự phát triển ngành cơ giới trong việc vận tải bằng đường thủy.
Than ôi ! Khi Vua Minh Mạng qua đời , các vị vua kế vị đã không làm nỗi một chương trình nào cách tân để phát huy thành quả huy hoàng kế thừa những gì mà ông để lại, nhằm đưa đất nước vương lên !!!
Mấy chục năm sau, vào đầu thế kỷ 20 - một vị quan triều Nguyễn đã miêu tả, còn ca tụng cảnh tàu biển thần kỳ vượt sóng nước, qua bài thơ nôm " Ngồi tàu thủy qua biển ".
" Đầu rồng lướt sóng phun bông bạc,
Chân vịt quay chèo trổ cánh sen ... "
Thật là tuyệt, dưới triều Minh Mạng - chỉ trong vòng ba năm ( 1838 - 1840 ) dồn đẩy nhiều cải cách duy tân tiến bộ. Sở đốc công vũ khố dưới sự chỉ huy của "Lương _ Sơn _ Hầu Hoàng Văn Lịch " đã dựa vào khuôn mẫu tàu chạy bằng hơi nước mới mua được của Tây Dương, phỏng theo rồi chế tạo đóng mới thành công ba chiếc tàu chạy bằng máy hơi nước " Yên Phi, Vân Phi, Vụ Phi ". Tất cả ghi dấu ấn cái mốc Lịch sử về giao thông vận tải và sự phát triển không ngừng của nền chế tạo máy của nước Việt Nam.
Huế 1991
================================================================
MỘT DI TÍCH VĂN HÓA CỔ NHẤT Ở ĐÀNG TRONG
CHÙA GIÁC LƯƠNG
Huỳnh Hữu Ủy
Trên phạm vi Huế, thuộc đất Thuận Hóa xưa, một vết tích văn hóa cổ kính, quí và hiếm là chùa Giác Lương rất may mắn hiện vẫn còn được gìn giữ. Cách trung tâm thành phố Huế 21 km về hướng Tây - Bắc, chùa nằm trên lối chính vào làng Hiền Lương, một làng chuyên về nghề rèn và cơ khí rất tiếng tăm ở miền Trung, nên cũng được gọi là chùa Hiền Lương. Hiền Lương là tên gọi từ triều Minh Mạng . Trước đây dưới thời nhà Mạc (1527 - 1595), làng này mang tên là Hoa Lang, thuộc huyện Đan Điền, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa. Ngày nay làng Hiền Lương thuộc xã Phong Hiền, huyện Hương Điền, tỉnh Bình Trị Thiên. Vào nữa đầu thế kỷ XVI , giữa khi đồng bào ta đang ào ạt theo chân các Chúa Nguyễn vào phía đàng trong khai hoang lập ấp, một người nữ tu, thọ giới Ưu-Bà-Di (22) là bà Hoàng Thị Phiếu đã cùng với các tộc trưởng trong làng tức là những người lưu dân thuộc lớp đầu tiên đến sinh cư nơi này, cùng bắt tay nhau xây dựng nên chùa này. Giác Lương Tự ngày xưa còn gọi là Giác Lương Đường, như vậy là một trong những ngôi Chùa xuất hiện sớm nhất ở Thuận Hóa dưới thời Hậu Lê, là một trong những di tích văn hóa cổ nhất hiện còn bảo lưu được của người Việt ta ở xứ đàng trong, đánh dấu một bước phát triễn rực rỡ và hùng vĩ của dân tộc Đại Việt trên đường về phương Nam.
---------------------
(22) Ưu-Bà-Di : Phiên âm từ Phạn ngữ Upasika, có nghĩa là một nữ tu tại gia ( nữ tu sĩ ) đã tự nguyện thọ ngũ giới để phụng sự Phật Pháp.
---------------------
Dưới thời nhà Nguyễn (1802-1945), Chùa được trùng tu hai lần. Lần thứ nhất vào Năm Gia Long thứ 5 (1806) và lần thứ hai, năm Khải Định thứ 9 (1924). vết tích trùng tu lần thứ nhất là bài điệp văn đọc trong dịp làm chay ngàymồng 8 tháng 6 năm Bính Dần (1806) hiện còn lưu giữ tại địa phương. Về vết tích trùng tu thời Khải Định, chúng ta còn đọc được rõ ràng dòng chữ Hán khắc trên một khung cửa gỗ trong chùa :
"Khải Định Giáp tý cửu niên lục nguyệt nhật trùng tu"
Chùa Giác Lương đã bị phá hủy nhiều dưới sức nặng của thời gian, thiên tai, và nhất là binh lửa của hai cuộc chiến ác liệt vừa qua. Nhưng may thay, những dấu khí quí báu vẫn còn tồn tại như một thách thức với định mệnh hung hãn. Vẫn còn một bờ la thành bao bọc quanh Chùa, qua khỏi trụ biểu chính sẽ đến một cái sân rộng, rồi đến nột cổng tam quan đồ sộ đến lạ lùng vì so với tất cả các ngôi chùa khác ở Huế, ngay cả những Quốc tự lừng lẫy như Thiên Mụ hoặc Diệu Đế, Cổng tam quan này cũng thuộc vào loại đồ sộ bậc nhất và qua khỏi tam quan trên khoảng sân rộng mênh mông khách nhàn Du cùng tín đồ đến lễ bái còn được dịp nhìn ngắm mỗi gốc sứ rất cổ kính mà theo lối truyền tụng có lẽ cũng đã trải qua trên dưới hai thế kỷ, mang dáng dấp của những cây sứ xù xì, cổ quái mà thanh nhã, trang nghiêm bên bờ các thành quách rêu phong giữa đại nội hay nơi các lăng tẩm thâm u ẩn mật của những vua chúa cố cựu Nguyễn triều.
Bên trng chùa vẫn còn nhiều vết tích của một công trình kiến trúc cổ, với những hình thể chạm trỗ, những cách điệu và hoa văn thuộc các mô típ trang trí Nguyễn như : rồng, phượng, lân, sen, rùa, mai, lan, cúc, trúc, khắc đục trên bộ sườn nhà xưa xuyên, trền, cột, kèo hay trên bộ cửa hàng khoa ngay phía trước chính điện. Đặc biệt hơn hết là bảy pho tượng gỗ sơn son thiếp vàng do chính nữ tu sĩ Hoàng Thị Phiếu cho tạc và dâng cúng vào Chuàn, đã gây ngay ấn cảm về phong cách mỹ thuật thời Hậu Lê. Đây là ba pho tượng Phật Tam Thế Tôn : Phật Thích Ca Mâu Ni ( Cakya-muni Bouddha) hay vô Lượng Quang Phật (Amitabha-Bouddha) và Phật Di Lặc tức vị Phật tương lai Ba tượng Phật trong thể dạng thiền định trên ba tòa sen, phía sau có ba ngọn lá bồ đề chạm trổ hình mặt rồng che trên đầu tượng.
Chúng ta còn sẽ được cung chiêm một pho tượng hộ pháp đứng trên bệ gỗ, chính là tượng Vị Đà Thiên tướng Quân, Vị Thiên tướng có sức mạnh vô song, vâng sắc chỉ của hật, chuyên coi việc hộ trì Phật Pháp (23).
---------------------
(23) Theo Trần Trọng Kim : thường các chùa đều có tượng hai vị hộ pháp, bên tả vị khuyến thiện, bên hữu là vị trừng ác, gọi tắt là ông thiện, ông Ác, và ở những chùa thực cô thì làm có một vị hộ pháp gọi tắt là vida Thiên tướng quân (Trầb Trọng Kim: Phật học - Trang 89 - Tủ sách Phật học, Nhà xuất bản Tân Việt 1964). Như vậy đây là một điểm chúng ta cần lưu ý. Pho tượng Hộ pháp ở chùa Giác Lương cho chúng ta biết rằng : đây là một ngôi chùa khá cổ, hoặc giả nó được dựng nên trong truyền thống của những ngôi chùa cổ, ở miền Bắc nước ta trước đây, trước những đợt di dân về phương Nam thời các Chúa Nguyễn (1558-1777).
---------------------
Trên một án thờ khác trong tám án thờ bên trong Chùa, thiết trí ba pho tượng Quan công ngồi trên ngai, Quan Bình và Châu Xương đứng thẳng trên bệ như dạng thường gặp của pho tượng này.
Hết thảy các pho tượng trên đều rất tinh xảo và kỳ thú, dù hạn chế những ước lệ cũ vẫn để lộ ra được những nét diễn tả tài tình, quả là một đóng góp quí báu vào di sản chung của nền nghệ thuật tạo hình truyền thống của dân tộc.
Cùng với hiện vật vừa đề cập, còn có một tấm hoành Phi với ba chữ đại tự "Giác Lương Tự" thực hiện năm 1843 thời Thiệu Trị, đến nay vẫn còn rực rỡ nét thiếp vàng trên son ấm áp và những cặp đối liễn treo trên các hàng cột mà đáng kể là một cặp liễn để năm 1819 thời Gia Long.
Cũng phải kể đến một số di vật hết sức đáng trân trọng là quả chuông đồng nặng 481 cân ta ( gần 300 kg ), treo trên giá gỗ, đúc năm Gia long thứ 18 (1819). Kỹ thuật đúc chuông và giá trị mỹ thuật rất đáng lưu ý. Quai treo chuông là hình hai con rồng, đuôi xoắn hình trôn ốc, quay lưng và chập đuôi vào nhau, vươn mìnhvề phía trước, miệng há ra, mình phủ nhiều vảy, theo đúng phong cách con rồng thời Nguyễn. Trên mặt quả chuông có khắc tên một số hương lão và hương quản đúc chuông để cúng vào Chùa. Trong số những vị này, chúng ta đọc thấy tên Hoàng Văn Lịch là nhân vật mà các bộ sử lớn của triều Nguyễn như "Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Quốc triều chính biên toát yếu", đều có đề cập đến. Ông có tiếng là một người thợ rèn và cơ khí tinh xảo, chế tạo được nhiều máy móc, súng đạn. Trong tư cách Giám đốc Sở Võ khố và Bá Công tượng cuộc, ông đã có công đốc xuất hoàn chỉnh chiếc tàu chạy bằng hơi nước, đầu tiên trong lịch sử đất nước mô phỏng tác... các tàu thủy mà trước đây Gia Long đã mua của Pháp để sử dụng trong các cuộc thủy chiến với quân đội Tây Sơn. Hoàng Văn Lịch rất được Vua Minh Mạng trọng dụng phong đến tước Lương_Sơn_Hầu. Đồng thời với quả đại hồng chung lịch sử này, một cổ trống rất lớn cũng được cúng vào Chùa. Thân trống Nguyên là một gốc đại thụ đục ra, hiện nay chưa kiếm được tấm da lớn để bịt lại. Hơn bốn thế kỷ qua, nằm trongtruyền thống của những ngôi Chùa làng Việt Nam, đây không phải chỉ là nơi thờ Phật dành riêng cho Tăng lữ và tín đồ Phật giáo, mà phải xem là một trung tâm văn hóa của nhân dân trong làng, tất nhiên đã phá nhiều nét thiêng liêng, đượm nhiều mùi vị Thiền, mà chính đây cũng là yếu tố nối kết dân làng bền chặt với nhau hơn. Vừa thờ Phật, thờ Thánh, lại là nơi thờ chính yếu những vị thỉ tổ khai sáng ra làng, thường vẫn được gọi là tiên hiền thập nhị tôn thái. Đây cũng là nơi hội họp bà con khu hữu sự, nơi lưu trữ nhiều sắc phong của triều đình cùng nhiều văn kiện, hương ước, hương phả của làng.
Đánh giá đúng mức di tích kỳ cựu Giác Lương tự này, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên và các cơ quan văn hóa thuộc ngành quản lý di tích ở địa phương hiện đang hỗ trợ tối đa, để nhân dân làng Hiền Lương, ngay trong làng hay đang sinh sống rải rác khắp nơi, từ Bắc chí Nam và cả ở hải ngoại sẽ dễ dàng có cm7 hội đóng góp sức lực, công của, theo gương ông cha ngày trước để trùng tu tôn tạo một lần nữa di tích lịch sử và nghệ thuật quí báu này. Trong năm qua, sau nhiều cố gắng hơn, chính điện chùa đã được tu sửa xong theo đúng hồ sơ của Sở bảo tồn bảo tàng tỉnh. hiện nay ban vận động trùng tu Giác Lương tự đang bắt tay phát động đợt hai, dựa trên nền cũ để tô đắp lại cửa tam quan, la thành, sân vườn và các đồ thờ. Khi nào hoàn tấc công tác tu sửa, Chùa Giác Lương sẽ là nơi tham quan nghiên cứu của du khách, đồng thời là một trung tâm sinh họat văn hóa của nhân dân làng rèn Hiền Lương, một làng đã có nhiều đóng góp đặc sắc vào đời sống kinh tế và văn hóa của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân.
Huế, 12-1987
================================================================
PHẦN ĐÍNH CHÍNH : In sai - Đọc lại đã được đính chính
================================================================
HIỀN LƯƠNG CHÍ LƯỢC
Chủ biên : DƯƠNG PHƯỚC THU
_________________________________________
Chịu trách nhiệm xuất bản
SỞ V.H.T.T. THỪA THIÊN HUẾ
Biên tập : HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Bìa : BÍNH VĂN
Trình bày : XUÂN YẾN - PHƯƠNG LINH
Sửa bản in : TỔ SỬA BẢN IN X.N IN Q.B
____________________________________________
In 1500 cuốn khổ 15 x 22 tại xí nghiệp in Quảng Bình . Giấy phép xuất bản số 26 P/XB Sở Văn Hóa Thông Tin Thừa Thiên Huế cấp ngày 7-5-1991. In xong và nộp lưu chiểu tháng 6-1991.
____________________________________________
BÌA SAU
Trải qua gần 500 năm, tổ công tôn đức sáng lập ra làng Hiền Lương - Có tiếng văn hóa, xã hội, kinh tế qui mô đặc sắc. Mỗi thế hệ mỗi triều đại đều có hương ước qui định về phong tục, lễ nghi nhằm đem lại "thuần phong mỹ tục"... Làng dựng đình, chùa, miếu vũ thờ Phật, các đấng thiên thần, Đức khổng phu tử, tiền khai canh, hậu khai khẩn, bản thổ tôn thần.
Lấy kỹ nghệ thợ rèn làm sinh kế...
Dầu là người thợ cũng theo đòi nghiên bút ít nhiều kinh sử, khoa giáp danh nho, văn thần võ tướng, giúp nước an dân mở mang bờ cõi, quốc sử còn ghi : Hai vị đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân, hai vị đậu tiến sĩ.
Ba vị là thượng thư ( có một phụ chánh đại thần ).
Một thợ rèn trở thành kỹ sư chế tạo tàu chạy bằng máy hơi nước đầu tiên của Đại Nam. Cử nhân, Tú tài, Tổng đốc, Tuần vũ, Án sát, tri phủ, Tri huyện, lãnh binh bố chánh... đời nào cũng có nhiều vị đỗ đạt. Ngoài tổ chức chính quyền công cử, làng còn có hội đồng tối cao. Mọi việc quan trọng, đều mở đại hội đồng xem xét quyết định.
__________________________________________________________________________________________
HẾT