Kính chúc quí bạn K25 và quí phu nhân một mùa
THANKS GIVING ấm áp, tràn đầy tiếng cười ,hạnh phúc và an khang
bên cạnh gia đình và người thân.
Thân.
CSVSQ LƯU ĐỨC TỜ. K25.
NÉT ĐẸP NHẤT TRẦN GIAN
Hơn bốn mươi năm tìm chồng, người vợ lính tìm ra sự thật tại Little Saigon. Người phụ nữ tìm chồng đó là chị Bùi Thị Hường, phu nhân của Cựu SVSQ Đỗ Văn Điền Khoá 25 Trường VBQGVN.
Thời gian qua chị không biết tin tức gì về chồng mình. Chị chỉ nghe tin phong phanh anh vượt ngục và bị bắn chết, nhưng chẳng có ai làm nhân chứng cho biết rõ sự tình.
Vào đầu năm nay - năm 2018 - có người bạn cùng Khoá 25 của anh Điền về Việt Nam báo cho chị Hường biết ở Mỹ có người biết rõ về cái chết của anh Điền. Chị liền làm đơn xin qua Mỹ, và vào đầu tháng Tám vừa qua chị sang Mỹ, đến thành phố Westminster, California. Ở đây chị tháp tùng cùng một nhóm bạn cùng Khoá 25 của chồng đến gặp ông Nguyễn Xuân Trường, người biết chuyện về cái chết của anh Điền.
Bà Bùi Thị Hường, vợ ông Đỗ Văn Điền - người bị giết khi vượt ngục tù Cộng Sản. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Theo như lời ông Trường kể:
“Tôi và Điền là bạn học Trung Học Chu Văn An. Vào đầu năm 1973 tôi gặp Điền ở Bộ Tổng Tham Mưu, hai chúng tôi cùng chờ du học Mỹ. Không ngờ ba tháng sau chương trình du học bị hủy bỏ, tôi và Điền phải chọn đơn vị mới và mất tin tức với nhau từ dạo ấy. Bất ngờ vào năm 1976, hai chúng tôi gặp lại nhau ở trại tù Long Giao. Sau đó tôi chuyển trại về Cà Tum, hòm thư L6T5 ở Đồng Ban, nơi đây cách biên giới Miên khoảng hai cây số. Ở trong trại tôi làm “anh nuôi”, lo bếp núc nấu cơm.
Một hôm tôi thấy ba người đi làm rừng, một người trông giống Điền, mừng quá, tôi liền gọi tên “Điền! Điền!”. Người đó đáp lại: “Đừng gọi tên tao”.
Rồi một trong hai người đi cùng Điền chạy lại nói nhỏ với tôi: "Niên Trưởng (vì tưởng tôi cũng là Võ Bị nên xưng hô như thế), tôi là Khoá 28. Ông ấy nói tôi tới xin Niên Trưởng một ít cơm cháy. Chúng tôi dự tính vượt ngục".
Tôi nhớ lúc đó chỉ gom chừng nửa lon guigoz cơm cháy đưa cho anh ta. Bẳng đi gần cả tháng tôi không gặp lại ba người nầy nữa.
Vào một buổi chiều ở trong trại tù có hung tin loan truyền nhau giữa các bạn tù: “Có người tù Võ Bị trốn trại bị bắn chết ở trong làng gần đó”. Tôi lạnh cả người khi nghĩ ngay đến Điền và hai người khóa đàn em, chắc là họ, như đã báo cho tôi trước đây.
Sáng sớm hôm sau, tôi và ba người bạn tù được gọi đi công tác sớm. Tôi cứ tưởng gọi đi lãnh thực phẩm hay đi chợ như những lần trước. Đâu ngờ nhận lệnh đi chôn xác tù vượt ngục!
Chúng tôi tới trước cổng làng thấy có một tấm chiếu phủ xác hai người. Tôi lật tấm chiếu lên, nhận ra ngay đó là Điền! Điền bị bắn chết và hai mắt vẫn còn mở. Là người Công Giáo, tôi làm dấu thánh giá phía đầu người bạn, rồi vuốt mắt cho nó. Mắt Điền nhắm lại, tôi lấy chiếu phủ xác người bạn tù trong khi dân làng đứng xem. Họ cho sợi dây để buộc chiếu lại.
Hai người khiêng xác một người quá cố, chúng tôi đi về hướng trại kiếm chỗ chôn. Một người đề nghị chôn chỗ đất cát để dễ đào, nhưng tôi không chịu. Sau cùng chúng tôi cùng chọn chôn giữa hai cây to, phòng sau nầy có cây làm mốc, dễ tìm lại xác".
@@@@@@@
Nghe xong câu chuyện, cả chị Hường và nhóm bạn cùng Khoá 25 không cầm được nước mắt.
Ông Trường nói tiếp qua nước mắt long lạnh: "Thưa chị Điền, từ lâu tôi vẫn mong gặp được thân nhân của Điền để báo cho họ biết cái chết của nó. Nay gặp được chị tôi đã mãn nguyện".
Bà Hường sau khi nghe, sụt sùi nhưng cũng cố gắng hỏi xem ông Trường có còn nhớ vị trí chôn chồng bà hay không. Bà thảng thốt nói qua nước mắt lưng tròng:
- Tôi đã mất anh Điền thật rồi sao? Trước đây nghe tin anh ấy mất tích, tôi vẫn nghĩ anh ấy vẫn còn sống, có thể anh ấy mất trí, hay bị tật nguyền hay lưu lạc về một phương trời nào đó…
Ông Nguyễn Xuân Trường nhìn về khoảng không phía trước, qua ánh mắt buồn vời vợi rồi nói:
- Đã lâu quá, cũng hơn bốn mươi năm rồi còn gì nữa, nay tôi không còn nhớ chính xác chỗ chôn Điền, chỉ nhớ gần hai gốc cây to ở trại Đồng Ban. Mà có tìm cũng khó lòng kiếm được giữa cảnh núi rừng.
Tôi còn nhớ sau đợt cho đi thăm nuôi lần đầu năm 1977 rồi cộng thêm một tháng rưỡi nữa là ngày anh ấy mất. Điền và tôi cùng ở Cà Tum, Đồng Ban nhưng ở hai trại khác nhau. Tôi ở trại L6T5 còn Điền ở trại L2T3.
Ông Nguyễn Xuân Trường, chứng nhân về cái chết của người bạn tù Đỗ Văn Điền. (Hình: Nguyễn Xuân Trường cung cấp)
Cuộc nói chuyện của Ông Trường được chị Hường thu âm lại.
Vào cuối tháng Tám vừa qua, chị trở về Việt Nam mang theo đoạn băng thu âm cho các con biết những lời kể của một nhân chứng: người bạn tù của chồng.
Chân dung ông Đỗ Văn Điền ngày tốt nghiệp thiếu úy Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
(Hình: Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam)
Chúng tôi - người viết bài nầy - là bạn cùng Khoá 25 của anh Điền xin viết thêm những gì được biết về chị Bùi Thị Hường. Chúng tôi muốn vinh danh một nàng dâu Võ Bị, một người phụ nữ cao quý hiếm thấy trong một xã hội mà con người chỉ biết sống vị kỷ. Còn tiết hạnh, nhân phẩm và đạo đức là những gì quá xa vời!
Chị lấy chồng ở tuổi trên 25, chồng là người lính trận. Thời gian sống đời vợ chồng là những lần anh được về phép ngắn ngủi tính ra tổng cộng ở bên nhau chưa được 3 tháng. Từ ngày mất anh, chị vẫn ở vậy nuôi con.
Đặc biệt năm 1975, từ khi chồng đi ở tù “cải tạo”, chị xin phép ba mẹ ruột đón bà nội và ba chồng về ở nhà bên cạnh nhà mình để tiện việc chăm lo. Chị đã tận tuỵ lo cho hai vị nầy suốt trên 25 năm trường, cho đến khi cả hai người qua đời. Nếu là con hay cháu ruột lo được như vậy không nói làm gì, đằng nầy chị là một nàng dâu mà chồng mất tích từ lâu!
Chị lại là người phụ nữ trẻ đẹp tràn đầy sức sống, chắc chắn sẽ có nhiều người đàn ông theo đuổi và tìm đến xin chắp nối. Nếu chị bước thêm bước nữa thì đó là chuyện thường tình. Nhưng chị Hường không nghĩ đến hạnh phúc cho riêng mình mà hy sinh cả tuổi thanh xuân để lo cho các con và lo cả bên chồng. Đức hạnh và tấm lòng trung trinh tiết liệt như chị thật hiếm thấy trên cõi đời nầy!
Theo như những gì chị Bùi Thị Hường kể:
Chị lên xe hoa về nhà chồng năm tròn tuổi 25, đó là ngày 5/10/1972. Anh Điền đã xin phép đặc biệt về Sài gòn làm đám cưới trước ngày làm lễ mãn khoá Khoá 25 hai tháng.
Anh tốt nghiệp ra trường được về Sài Gòn học Anh văn để chuẩn bị đi du học ở Mỹ. Về sau, chương trình đi du học bị hủy bỏ. Sáu tháng sau, anh ra đơn vị, chọn Biệt Động Quân ở Liên Đoàn 4.
Hơn hai năm sống đời vợ chồng, nhưng được sống bên nhau chưa tròn 3 tháng trong những lần anh về phép ngắn ngủi.
Vào ngày 25/6/1975, như bao sĩ quan cấp Uý khác, anh đi trình diện để tuân hành theo cái mà VC gọi là “học tập cải tạo”. Anh bị đưa đến trại tập trung ở Trảng Lớn - Tây Ninh. Mấy tháng sau chuyển trại đến Cà Tum, Đồng Ban.
Năm 1976, VC cho đi thăm nuôi tù “cải tạo”, chị Hường lặn lội bồng bế hai con dại - cháu gái lớn 3 tuổi và cháu gái nhỏ 2 tuổi - đi thăm anh ở Cà Tum.
Không ngờ đó là lần cuối cùng chị và hai con gặp anh.
Những tháng năm sau đó, chị gởi thư cho anh đều bị trả lại, ngoài phong bì thư trả về có ghi là "đương sự không có ở đây".
Linh tính báo cho chị có điều không lành đã xảy đến với anh nên ngày đêm chị hoang mang và phập phồng lo sợ. Ngày tháng tiếp nối là khoảng trống bao la, với nỗi cô đơn và cuộc sống cùng khổ mà chị phải gánh chịu trong một xã hội thiếu cả miếng ăn và tình người!
Nhiều bạn cùng Khoá 25 của chồng chị nghĩ rằng anh Điền đã qua đời, gợi ý với chị nên chọn ngày cúng giỗ cho anh để vong linh được siêu thoát. Nói đến “ngày giỗ chồng” chị cảm thấy quá bẽ bàng và đau lòng vì chị không biết chồng mình sống chết như thế nào thì lấy đâu làm ngày giỗ?
Mãi đến gần 20 năm sau, khi các con của chị cần có giấy khai tử của ba mình để có đủ hồ sơ lý lịch xin việc làm. Chuyện chẳng đặng đừng, chị phải ra toà án làm giấy khai tử chồng mình. Từ đó chị lấy ngày toà án cấp giấy khai tử làm ngày giỗ cho chồng.
Hằng năm đến ngày nầy, chị đều mời đông đủ bạn bè cùng Khoá 25 của chồng ở Sài Gòn đến tham dự.
Về phía gia đình bên chồng: Ba má anh Điền đã ly dị từ lâu. Mẹ anh có chồng khác và đã đi Mỹ, anh còn bà nội và người cha già. Chị xin phép ba mẹ ruột đón bà nội và ba chồng về ở nhà bên cạnh nhà mình để tiện việc chăm lo. Căn nhà nầy do má của chị mua chưa có ai ở. Hằng ngày, chị phải lo chạy miếng ăn cho 7 người, gồm: bà ngọại, ba má ruột, hai con, bà nội chồng và cha chồng. Lúc bấy giờ mọi thực phẩm đều mua theo tiêu chuẩn nhà nước phân phối. Phần cơm ưu tiên cho hai con dại, còn người lớn thì ăn bo bo, khoai lang, khoai mì.
Năm 1976, thời tiết bỗng nhiên lạnh chưa từng có, lại có thêm bão Lynda càng lạnh hơn. Cơm không đủ ăn, áo quần không đủ mặc, nhà đông người không đủ mền đắp, chị phải gom góp những mảnh vải nhỏ để khâu lại làm mền cho con. Cũng vào năm nầy, bà nội của chồng qua đời, một mình chị phải chạy ngược chạy xuôi lo đám tang cho bà trong khi nhà không có đủ tiền để lo miếng ăn hằng ngày.
Phần hai con chị chậm phát triển vì thiếu dinh dưỡng. Nhìn con dại ốm yếu, èo uột mà khóc thầm, chị quên thân mình lúc đó cũng “ốm như con mắm”- theo lời chị kể. Nhắc lại chuyện cũ, chị nói sao lúc đó bi thảm quá, giống như chuyện trong tuồng cải lương và không ngờ mình đã vượt qua!
@@@@@@@
Chị hồi tưởng lại vào năm 1977, khi nghe tin chồng trốn trại bị bắn chết, chị quá đỗi kinh hoàng hơn cả sét đánh bên tai, chị đã ngã quỵ xuống. Bao nhiêu cố gắng chịu đựng mấy năm nay với niềm hy vọng chồng mình sẽ có ngày về đoàn tụ gia đình, nay đã tan thành mây khói, cả bầu trời như bị sụp đổ!
Khi bình tâm trở lại, chị muốn xác minh hư thực về cái chết của chồng ra sao, bèn đến Bộ Công An hỏi thăm. Ở đây, bọn chúng chẳng những không cho biết tin tức mà còn trêu chọc nói những lời nham nhở: “về lấy chồng khác đi em ơi, hay là có anh đây nè, đừng có mong những tên đi học tập cải tạo trở về nữa em ơi!”. Chị giận bầm gan tím ruột với lũ sâu bọ lên làm người.
Ban ngày mãi lo chạy ngược chạy xuôi kiếm miếng ăn cho gia đình, nhưng mỗi lúc đêm về là chị khóc thầm. Thương xót hai con còn nhỏ dại đã mất cha và thầm thương phận mình chưa đầy tuổi 30 đã trở thành góa phụ!
Lúc nầy hai con của chị là lẽ sống, là chổ dựa tinh thần của chị. Rồi chạnh nghĩ đến anh Điền, một người chồng bất khuất can trường, chị nhủ thầm: "Không! Mình không có quyền gục ngã, mình phải truyền tinh thần bất khuất của chồng đến hai con. Mình phải vực dậy, không có quyền buông xuôi". Và với hai con, có những lúc chúng tỏ ra mềm yếu, chị nhắc lại tấm gương can đảm của người cha để chúng vươn lên.
Vào cuối năm 2000 đến năm 2001 chị phải gánh chịu 4 cái tang: ba ruột của chị qua đời, 50 ngày sau mẹ chồng từ Mỹ về bị bệnh chết không có thân nhân, chị phải đứng ra lo chung sự. Rồi 11 tháng sau, ba chồng mất và sau đó không lâu bà ngọai của chị mất. Bao nhiêu gánh nặng đều oằn lên vai người quả phụ ốm yếu!
Đúng là “hoạ vô đơn chí” hay Ông Trời muốn thử sức chịu đựng gian khổ của chị, nhưng chị đã lo mọi chuyện chu toàn. Chị quả là một người phụ nữ phi thường!
Ngày ba chồng mất, chị thông báo đến các bạn K25 của chồng đến phụ giúp. Các bạn cùng lo tẩm liệm và tiễn đưa linh cửu quàng ở chùa Xá Lợi đến Bình Hưng Hoà để hoả thiêu. Chị cảm thấy thật ấm lòng khi có sự giúp đỡ từ các người bạn của chồng.
Bạn bè K25 đều quý mến mẹ con chị. Trong những lần họp mặt chung vui, hay ngày họp mặt Khoá 25 ở Sài Gòn, luôn có sự hiện diện của chị và hai con gái.
Thời gian trôi qua rồi cũng nguôi ngoai, trong đống tro tàn đỗ nát bỗng thấy nhựa hồi sinh, chị Hường thấy vui khi hai con gái càng ngày càng khôn lớn, đẹp nết và đẹp người. Các cháu học giỏi, ngoan và rất có hiếu với mẹ mình. Hơn hai mươi năm sau, hai con của chị đã tốt nghiệp đại học và có chổ làm vững chắc.
Vì không biết tin tức chính xác gì về cái chết của anh Điền, trong tâm tưởng của chị và hai con xem như anh vẫn còn sống. Chị chọn ngày sinh nhật của anh Điền (ngày 01/12/1946) làm ngày lễ tưởng nhớ, xem như anh vẫn còn hiện hữu trong tình thương yêu và kính phục của chị cùng hai con. Chị cũng mời tất cả các người bạn cùng Khóa 25 của chồng ở Sài Gòn đến tham dự lễ tưởng nhớ nầy. Bạn bè K25 đều quý mến chị.
Ngày nay tuổi của chị đã trên dưới 70, nhưng vẫn còn phảng phất vẻ đẹp của thời thanh xuân. Những ai có dịp tiếp xúc với chị, nghe giọng nói trong trẻo vui tươi và nhìn ánh mắt như đang mĩm cười của chị sẽ cảm thấy rất gần gũi như quen biết từ lâu.
@@@@@@@
Chúng tôi còn nhớ cách nay cũng gần 20 năm, nhân ngày làm lễ tưởng nhớ vào ngày sinh nhật anh Điền, chị Hường mời các anh chị K25 đến nhà dự tiệc chung vui. Trong lúc mọi người chuyện trò vui vẻ, bất ngờ con gái lớn của chị nói:
- Các Bác ơi! Mẹ con đã lớn tuổi rồi mà sao vẫn còn đẹp quá phải không các Bác? Mẹ còn đẹp hơn cả hai chị em chúng con hiện giờ nữa đó!
Không thấy ai trả lời hay có ý kiến gì, cháu nói tiếp:
- Con thấy Mẹ con đẹp từ dáng người đến cả dung nhan, đẹp nhất là lúc nhìn thấy Mẹ cười, bộ các Bác không thấy vậy sao?
Qua câu hỏi hồn nhiên vô tư của cháu gái, lúc đó người viết bài nầy muốn trả lời cháu lắm, nhưng trong phút chốc không thể nào nói lên hết được bao cảm nghĩ của mình về Mẹ của cháu mà mình từ lâu rất trân trọng và cảm phục. Hơn nữa, ở tuổi đời của cháu còn quá nhỏ, nếu có nói chắc cháu cũng chưa hiểu và thông cảm hết được.
Về người Mẹ của cháu: Một người quả phụ trên tuổi 25, dầu đã đã có hai con nhưng nhan sắc mặn mòi đầy sức sống, như đoá hoa đang nở ngát hương, biết bao nhiêu ong bướm chập chờn tìm đến. Từ ngày lấy chồng, thời gian sống chung chưa đươc 3 tháng, những năm tháng dài cô đơn gối chiếc cần hơi ấm người tình…
Một người phụ nữ trẻ đẹp như chị chắc chắn sẽ có nhiều người đàn ông tìm đến xin chắp nối. Nếu chị bước thêm bước nữa thì đó là chuyện thường tình.
Nhưng không! Chị Hường không nghĩ hạnh phúc cho riêng mình mà hy sinh cả tuổi thanh xuân để lo cho gia đình mình, gia đình bên chồng và lo cho hai con nên người. Đặc biệt chị luôn gìn giữ tình yêu thủy chung bất diệt dành cho anh Điền - một người chồng mẫu mực và can trường - Dầu anh không còn hiện diện trên cõi đời nầy nữa nhưng sẽ không có hình bóng người đàn ông nào khác có thể điền vào chổ trống đó được.
Để trả lời câu hỏi của cháu gái ngày đó về sắc đẹp của Mẹ mình. Cháu gái ơi! Sắc đẹp theo thời gian sẽ tàn phai, còn nét đẹp tâm hồn thì không bao giờ phai mờ được và tiếng thơm vẫn còn giữ mãi. Mẹ cháu là một người phụ nữ chẳng những đẹp dung nhan mà luôn cả tâm hồn, một mẫu người đẹp cao quý khó tìm thấy trong một xã hội mà con người chỉ biết sống vị kỷ còn tiết hạnh, nhân phẩm và đạo đức là những gì quá xa vời.
Mãi đến hôm nay Bác mới trả lời cháu, mong có cơ duyên hai cháu đọc được bài viết nầy, chắc hẳn các cháu sẽ vô cùng hạnh phúc, luôn cả niềm hãnh diện khi biết mình có được một người Mẹ có NÉT ĐẸP NHẤT TRẦN GIAN.
M.25
QUA LĂNG KÍNH ẤY
Sài gòn năm 1980…
Trước đây Sài gòn được ví như “hòn ngọc của Viễn Đông”, nhưng nay như một thành phố chết. Mọi sinh hoạt đều ngưng trệ, nhà nhà cửa đóng then gài. Từ một thủ đô sinh hoạt tưng bừng nhộn nhịp, đủ loại xe cộ chạy tấp nập, nay trên đường phố chỉ thấy toàn xe đạp và một ít xe gắn máy. Ban ngày hiếm thấy những cửa hàng, tiệm ăn, nhà sách, tiệm thuốc tây, tiệm may …mở cửa.
Đặc biệt trong một hai năm gần đây trên nhiều đường phố bỗng nỗi lên như nấm những khu chợ trời. Người ta đem ra chợ trời bán đủ loại mặt hàng, từ vật dụng gia đình đến đồ điện máy. Vì cung nhiều hơn cầu nên giá bán rẻ mạt, đôi khi tưởng như là hàng đem cho. Nhiều gia đình quá túng thiếu, thấy trong nhà có gì có thể bán được là đem ra chợ trời bán, bán để lo miếng ăn. Khi mà mọi sinh hoạt chỉ lo giải quyết cái bao tử thì mọi tiện nghi trở thành đồ xa xỉ.
Phần nó ra khỏi trại tù “cải tạo” cũng gần cả năm nay. Nhiều ngày tháng nó lê lết đó đây đi kiếm việc làm, nhưng chẳng có ai mướn, ai thuê . Cuộc sống đưa đẩy, nhờ người chị dẫn dắt buôn bán, nó có cái sạp nhỏ ở chợ trời trên đường Lê Công Kiều Quận Nhất cũng được vài tháng qua. Nó thầm nghĩ mình có chổ mua bán như vậy là may lắm rồi; trong khi bạn bè nó đa số không có công ăn việc làm; hoặc có người làm việc vất vả mà thu nhập chẳng là bao như đạp xích lô, bơm vá bánh xe ở lề đường…
Từ ngày ra buôn bán ở chợ trời, nhờ có đồng ra đồng vô, sinh hoạt gia đình nó thoải mái hơn nhiều. Trước đây, mọi chi tiêu gia đình đều dựa vào đồng lương y tá ít ỏi của vợ nó, mỗi tháng lảnh năm mươi lăm đồng nuôi ba miệng ăn: vợ chồng nó và đứa con chưa đầy một tuổi èo ọp vì thiếu dinh dưỡng.
Trưa nay chợ vắng người. Nó ngồi dựa lưng vào tường, định nhắm mắt nghỉ một chút, bất ngờ nghe có tiếng hỏi:
-Nị ơi, nị bán tranh bằng thảm , có mua thêm nữa để bán không?
Nó ngẩng đầu nhìn lên thấy một người phụ nữ tay dắt xe đạp đang đứng trước sạp của mình. Bà chỉ tay về phía tấm tranh treo trên bức vách sau lưng nó. Tấm tranh đó nó mua mấy ngày trước, loại tranh bằng thảm của Ý, thêu hình hai con nai đứng bên bờ suối.
Nhìn y phục người phụ nữ và nghe giọng nói, nó đoán bà là người Hoa, bà ước chừng tuổi ngoài năm mươi. Nó nhanh nhảu trả lời:
-Dạ mua chớ! Tranh đâu? Ché có mang theo không?
-Không, theo tôi về nhà bán cho.
-Nhà Ché ở đường nào?
-Gần đây thôi, nị đi theo tôi.
Vừa dứt lời, bà leo lên xe đạp chậm rải đi trước. Nó nhờ người bạn ở sạp kế bên trông chừng sạp mình rồi vội vàng lấy xe đạp chạy theo .
Giờ nầy quá giữa trưa, trời oi bức nên đường phố vắng người ; đó đây chỉ thấy toàn xe đạp, thỉnh thoảng mới có vài xe gắn máy. Thời buổi nầy ít người sử dụng xe gắm máy bởi vì xăng rất khan hiếm. Mỗi xe gắn máy một tháng chỉ được mua 4 lít xăng theo phiếu tiêu chuẩn, còn mua xăng chợ đen khó kiếm và giá mắc hơn nhiều.
Ngưới phụ nữ chạy xe đến đường Cống Quỳnh, qua khỏi nhà thương Từ Dũ rồi quẹo phải đến đường Hồng Thập Tự. Chạy thêm chừng hơn trăm mét nữa bà băng qua đường và dừng xe trước một nhà có cổng sắt khép kín. Hai cánh cửa cổng sắt qúa cao, kế đến là bờ tường dài, bên trên có đóng cọc sắt nhọn. Đứng bên ngoài chỉ nhìn thấy mái ngói đỏ của căn nhà đồ sộ ẩn hiện sau lùm lá của hàng bông giấy trên cao. Nó nghĩ: nhà nầy thuộc loại kín cổng cao tường, chủ nhân phải là người giàu có, sống khép kín, không muốn giao du nhiều người.
Lúc nầy đứng gần người phụ nữ, nó nhận xét bà có vẻ người khắc khổ, chẳng lẻ lại là chủ nhân căn nhà to lớn nầy. Nó gợi chuyện để tìm hiểu :
- Nhà của a ché to quá!
Người phụ nữ vừa thò tay vào bên trong cánh cửa sắt để mở cổng, vừa trả lời:
- Không phải, ngộ chỉ là người làm.
Rồi bà nói tiếp:
- Sáng nay bà chủ biểu ngộ ra chợ trời kiếm xem có ai mua bán tranh giống như tranh ở nhà thì kêu về nhà để bán hai tấm tranh.
Sau khi cẩn thận đóng lại hai cánh cửa sắt, bà dẫn nó đi vào bên trong. Căn nhà ngói đỏ nằm bên phải lối đi vào. Qua hết đường bên hông nhà là một sân rộng. Phần phía sau là một dãy nhà ngang cũng lợp ngói đỏ.
Bất ngờ có một bầy chó berger khoảng năm sáu con cột ở trước hiên dãy nhà sau thấy có người lạ chồm lên sủa inh ỏi.
Nó nghĩ: ở thời buổi khó khăn gạo châu gỗ quế, nhà nhà đều ăn cơm độn, vậy mà nhà nầy lại có người giúp việc và nuôi cả đàn chó kia, chắc chủ nhà phải là người giàu có lắm.
Người phụ nữ bảo nó đứng đợi ở bậc thềm nhà trên để vào báo với bà chủ. Một lát sau, nó được mời vào phòng khách. Một người đàn bà tuổi ước chừng ngoài sáu mươi, bận bộ đồ lụa trắng ngồi trên chiếc ghế dài của bộ trường kỷ vừa thấy nó bà hỏi ngay:
- Cậu muốn mua tranh bằng nhung phải không?
- Dạ!
- Đó, tôi có hai bức tranh treo trên tường đó, cậu lại xem kỹ đi, nhắm mua được không?
Nói xong, bà cúi xuống vuốt ve con mèo đang ôm, như không cần nghe nó trả lời; cử chỉ và lời nói có vẻ kiêu kỳ của người có địa vị bề thế.
Nghe giọng nói, nó đoán bà là người Việt chứ không phải người Hoa như mới đầu nó tưởng. Nó đi lại xem hai tấm tranh treo trên hai vách tường đối diện nhau. Một tấm thêu hình bốn con cọp nằm dưới gốc cây; tấm kia thêu hình voi mẹ và voi con đứng bên dòng suối. Cả hai tấm tranh đều được lồng kính có khung gỗ.
Từng bán qua loại tranh thảm nầy, nên nó biết giá cả có thể mua là bao nhiêu. Nó chưa trả lời vội mà tiếp tục quan sát đồ đạt bày biện trong phòng. Vốn có kinh nghiệm đi mua hàng, trước tiên nó tỏ ra không thiết tha lắm món hàng chủ nhà muốn bán; kế đến xem trong nhà còn có những món gì khác có thể dò hỏi mua được, vì biết đâu không mua được món đồ nầy lại mua được món đồ khác.
Đồ đạc trong phòng chẳng bày biện gì nhều. Gần cửa ra vào là bộ trường kỷ xưa –nơi bà chủ ngồi. Sát vách tường có một tủ kính bằng gỗ quý, bên trong chưng toàn đồ cổ bằng sành sứ. Góc cuối phòng đặt cây đàn piano. Vách tường đối diện có hai cánh cửa to khép kín. Hai cánh cửa nầy thông qua phòng bên được làm bằng gỗ quý và chạm trổ những hoa văn rất đẹp.
Quay lại chủ nhà , nó hỏi:
- Thưa …mỗi bức tranh bà muốn bán giá bao nhiêu?
- Thì cậu mua được bao nhiêu cứ nói đi!
Đã từng đi mua hàng, kinh nghiệm dạy nó không bao giờ nói giá mua trước; chờ người bán ra giá trước, tuy tình hình mà ứng phó. Nếu người bán nói giá hời cũng đừng biểu lộ vui mừng, mà phải kỳ kèo trả giá , tránh cho họ biết bán hố sẽ đổi ý. Nếu người bán nói giá quá cao, phải kiên nhẫn giải thích, làm giảm giá trị món hàng mới có thể mua được. Nó tiếp tục gợi ý cho chủ nhà nói giá trước:
- Tranh của bà, bà muốn bán bao nhiêu cứ nói giá cho tôi biết.
- Thì cậu cũng thật tình nói hết giá mua đi, nghe được tôi bán cho.
Xem chừng chủ nhà cũng sắc sảo không vừa. Sau bao lần lời qua đáp lại không xuôi, thấy không thể cù cưa mãi nó bèn đưa ra giá để thăm dò:
- Bà đã nói vậy, còn tôi thật tình muốn mua, xin trả mua hết giá mỗi bức tranh tám chục đồng (thật ra nó có thể mua tối đa một trăm hai chục đồng).
Vừa nghe tới đây, bất ngờ bà chủ đứng dậy, ném con mèo qua một bên, nhìn sòng sọc vào mặt nó, nói liền một hơi dài:
- Cậu nói gì? Cậu có biết giá trị loại tranh nầy không ? Cậu trả tám chục đồng hả? Cậu thử trả một ngàn đồng liệu tôi có bán không?
Bà còn nói nhiều nữa, nào là hồi đó mua mỗi bức tranh hơn một cây vàng, đó là loại tranh của nước nào, quý hiếm ra sao v.v…
Bà càng nói càng to tiếng, lộ vẻ nóng nảy. Cử chỉ làm ra vẻ thờ ơ và kiểu cách quý phái ban đầu của bà không còn nữa. Bà thay đổi thái độ quá nhanh. Thấy vậy, nó cố ngồi yên lặng như lắng nghe bà nói. Trong thâm tâm nó cũng thông cảm phần nào nỗi niềm người bán. Ngày trước tấm tranh đó giá trị cả cây vàng, nhưng ngày nay nó trở thành xa xỉ, khi mà cần có miếng cơm cho no lòng, thực tế và cần thiết hơn bao giờ hết.
Nó chợt nhớ đến một bà đem lò nướng bánh sandwich ra chợ trời bán. Bà đòi tới giá một chỉ vàng! Trời ơi, thời buổi nầy ai mua lò nướng đó để làm gì trong khi toàn ăn độn bo bo với khoai sắn? Bà đi tới hết gian hàng nầy đến gian hàng khác chẳng có ai mua. Có một người muốn chọc chơi, trả mua tới giá năm chục đồng, bà cũng không bán. Sáng hôm sau bà đem cái lò đến bán cho người ấy thì người nầy nói không muốn mua nữa. Bà ta thui thủi mang lò nướng trở về. Trả mà không mua gọi là “trả bỏ” , tiếng hay dùng của người bán ngoài chợ trời.
Trước người đàn bà kiêu kỳ nầy nó cũng muốn “ trả bỏ” cho bớt tức; cứ trả đại vài trăm đồng rồi ra về và sẽ không trở lại nữa là êm chuyện. Nhưng nó nghĩ chẳng lẻ tới đây rồi lại về không, không mua được món nầy, cứ dạm hỏi thêm, biết đâu lại mua được món khác. Nó ôn tồn nói:
-Thưa bà, Thành thật cháu xin lổi , cháu cũng không biết được bức tranh nầy quý hiếm như vậy, chắc cháu không mua mỗi. Mong bà thông cảm.
Nghe nó nói, nét mặt của bà chủ nhà có vẻ dịu đi. Bà ngồi lại xuống ghế, hơi thở vẫn còn nặng nhọc. Chờ một lát cho bầu không khí bớt căng thẳng, nó mới lên tiếng:
- Thưa bà, trước khi ra về, xin hỏi bà có gì khác bán không, biết đâu bà không bán được cái nầy sẽ bán được cái khác?
- Cậu nói sao? Bộ cậu nghĩ tôi hết tiền nên cần bán đồ lắm hả? Cậu là ông nào mà phách lối dữ vậy?
Nó giật mình, mới thấy mình thật là ngu! Cũng với ý đó nhưng nó đổi câu nói “ biết đâu tôi không mua được món nầy sẽ mua được món khác “ có phải hay hơn không, sẽ không chạm tự ái người .
Lấy thêm hơi, bà chủ nhà nói to như hét vào tái nó:
- À...mà tôi muốn bán đó! Tôi là con dâu của Chú Hoả đây. Tôi muốn bán toà dinh thự ở số 97 đường Phó Đức Chính, gần chợ trời cậu bán đó, liệu cậu có đủ sức mua nỗi không? Bà không nhìn nó, mắt bà như đang hướng về cỏi xa xăm vừa thở hổn hển tỏ vẻ tức giận.
Thì ra bà là con dâu của Chú Hoả- người nỗi tiếng giàu nhất ở miền Nam từ thời Đệ Nhất Cọng Hoà. Trước đây nó nghe nói sau năm 1975, nhiều dinh thự, nhà cửa của Chú Hoả bị cọng sản tịch thu. Trong đó có hai dinh thự lớn nhất, đó là dinh thự ở đường Nguyễn Trãi Quận 5, cọng sản tịch thu để làm căn cứ Tổng Đội Thanh Niên Xung Phong và dinh thự số 97 ở đường Phó Đức Chính. Và nó cũng được nghe nói con cháu của Chú Hoả có mấy dãy nhà sát nhau ở đường Hồng Thập Tự quận Nhất. Hôm nay tình cờ nó mới biết là nơi nầy.
Trước cử chỉ nóng giận của bà nó chẳng những không có chút nào khó chịu mà tự nhiên lòng dâng lên niềm xúc động khó tả. Ai có ngờ đâu từ một đại gia đình bề thế, tiền rừng bạc biển mà nay phải đi bán từng món đồ nhỏ để có tiền độ thân! Rồi chạnh nghĩ đến hoàn cảnh vô cùng bi đát của gia đình mình hiện giờ....Bất giác, nước mắt nó như muốn ứa ra.
Sau một hồi lâu yên lặng, dằn cơn xúc động, nó mới ôn tồn nói:
- Thưa, bà hiểu lầm cháu rồi. Ý cháu muốn nói bà thấy có cái gì thừa thải, không cần dùng đến, bà bán cho cháu. Coi như giúp cháu có miếng cơm vậy mà. Bà nghĩ cao quá, tội nghiệp cho cháu.
- Ừ, cậu nói như vậy tôi còn nghe được, chứ đừng có bày đặt...Hơn nữa, trông cậu có vẻ hiền lành, hơi sức đâu giận cậu.
Từ cử chỉ và lời nói tỏ ra nóng giận tột cùng, bỗng nhiên bà dịu dàng trở lại, như quả bóng quá căng bất ngờ bị xì xẹp lép. Có lẻ bà cũng biết ở thời buổi ăn toàn bo bo, khoai lang, củ mì, khi mà hầu hết mọi người lâm vào hoàn cảnh túng thiếu, dễ thường có mấy ai chịu bỏ hơn một cây vàng để mua loại hàng xa xỉ như một tấm tranh . Những người giàu có như bà khó thích nghi trước sự biến động đột ngột của xã hội. Chắc trong thời gian qua bà phải chịu nhiều ức chế nên tính khí dễ thất thường.
Tự nhiên nó cảm thấy chán nản, không còn thiết tha mua hàng nữa . Nó định chào bà chủ nhà ra về thì bất ngờ bà cầm chân nó lại:
- Này, tôi có bộ lư đồng ở bên phòng thờ. Cậu có mua không, tôi bán cho?
Nghe tới đó, nó đứng khựng lại, liền nghĩ biết đâu lại là loại lư đồng xưa?. Nếu gặp may mua được loại lư đồng cổ mà người bán không biết giá trị là coi như nó “ trúng mánh một vốn bốn lời”.
Bà chủ hướng dẫn nó:
- Cậu đi đến cuối phòng nầy, đẩy hai cánh cửa lớn ra, cậu sẽ thấy bộ lư đồng trên bàn thờ ở phòng bên đó.
Thấy chủ nhà vẫn ngồi yên, không đi cùng nên nó chần chừ. Như hiểu ý, bà đánh tan sự e ngại của nó:
- Không sao đâu, cậu cứ tự nhiên vào xem một mình đi, lát nữa ra nói chuyện mua bán cũng được.
Nó đi đến cuối phòng, nơi có hai cánh cửa cao và to thông qua phòng bên. Hai cánh cửa làm bằng gỗ quý được chạm trổ rất đẹp. Khó khăn lắm nó mới mở được hai cánh cửa nặng hé mở vừa đủ một người lách qua. Vào bên trong phòng nó phải đứng yên một lát để quen ánh sáng. Trong phòng tối mờ mờ nhờ một ít ánh sáng xuyên qua hàng song gỗ cửa trên cao. Trong phòng âm u lạnh lẻo, thoang thoảng mùi ẩm mốc.
Từ từ quen dần ánh sáng, nó nhìn thấy mọi vật rõ hơn. Màng nhện phủ giăng đầy đó đây. Muốn bước tới trước phải lấy tay quơ quơ phía trước phá màng nhện. Dường như lâu lắm rồi chẳng có ai bén mảng vào đây.
Nó đảo mắt nhìn quanh: ngoài cùng là một bàn gỗ màu đen dài khoảng ba mét, chắc dùng để chưng bày đồ cúng. Kế đến có một khoảng trống đường đi và ở trong cùng là bàn thờ. Bộ lư đồng đặt ngoài cùng trên bàn thờ, kế đến là những bài vị viết bằng chữ Hoa và nhiều khung hình thờ người quá cố. Từ chổ nó đứng tới bàn thờ cách khoảng bốn, năm mét mà sao thấy như sâu hun hút.
Nó lần mò đi vào trong, tới đứng gần bộ lư để quan sát cho rõ: đó là bộ lư đồng loại số một- loại lư đồng to nhất. Đặc biệt cái lư được cẩn xà cừ rất đẹp . Đúng là bộ lư đồng loại đồ cổ.
Nó quơ tay phá màng nhện trên cây chân đèn, bất ngờ thấy trên dĩa cây chân đèn có một túi vải nhỏ đầu buộc túm lại. Nó cầm cái túi vải lên, sao thấy nặng quá! Nghi hoặc, nó liền tháo sợi dây buộc miệng túi và đổ vật bên trong xuống bàn thờ. Một mớ vật màu vàng lóng lánh từ trong túi tuông ra.
Ố! Mắt nó ho lên. Đó là vàng! Để xác định mình không nhìn lầm, nó cầm lên từng món, nhấc nhấc cái tay xem nặng nhẹ thế nào. Tất cả gồm có : ba lá vàng hiệu Kim Thành có hình cái núi, một tấm lắc, một sợi dây chuyền có xỏ mặt cẩm thạch hình trái tim, một xâu buộc khoảng mười cái nhẩn. Tất cả đều là vàng thật! Tất cả ước chừng khoảng năm lượng vàng.
Nó khấp khởi mừng thầm, nghĩ đây là của trời cho, mình có lấy số vàng nầy chẳng ai hay biết. Chắc chắn là như vậy vì có người đã bỏ quên số vàng ở đây. Căn phòng cho thấy lâu lắm không có ai vào, chứng tỏ họ đã quên. Chứ không có ai lại đi cất của khơi khơi ở ngoài như vậy.
Bỗng nhiên tim nó đập mạnh, cảm thấy vừa hồi hộp vừa lo lắng. Nó đứng thừ người trong giây lát với bao suy tính xuay trong đầu: “ Mình sẽ lấy số vàng nầy và chuồng đi cho lẹ. Sau nầy họ có nhớ thì mọi chuyện cũng xong rồi. Hơn nữa đâu có chứng cớ gì. Ra khỏi nhà nầy mọi chuyện coi như xong.”
Còn nữa, một lát gặp bà chủ sẽ nói gì với bà đây để chứng tỏ nó là người đàng hoàng. Dễ thôi, nó sẽ hỏi bà chủ nhà bán bộ lư giá bao nhiêu, chỉ hỏi cho có lệ rồi nói mình không rành giá loại đồ cổ nên không biết mua. Bà ta nghe chắc sẽ vui lòng . Đó là cách rút lui êm thắm nhất. Nó tự nhủ cần phải bình tỉnh, thật bình tỉnh!
Trong phòng vắng lặng như tờ. Ở phòng bên ngoài cũng chẳng có động tịnh gì.
Kế hoạch rút lui nãy ra rất nhanh, như sắp xếp sẵn rrong đầu: “mình chỉ việc gọm số vàng cho vào lại túi vải, rồi bỏ vào túi quần, bước ra ngoài thản nhiên. Việc làm nầy dễ dàng quá, có gì phải lo”.
Nó vội vàng cúi xuống nhặt từng món bỏ nhẹ vào túi vải, cố tránh gây tiếng động. Số vàng khoảng năm cây nầy đối với nó là cả một gia tài. Nó sẽ bỏ ra bốn cây mua căn nhà một lầu ở mặt tiền đường Nguyễn Cư Trinh, Quận Nhất (thời buổi nầy nhà bán rẻ như bèo, nhiều nhà lo bán thốc bán tháo để đi vượt biên), số vàng còn lại cho thêm vào vốn luyến buôn bán. Nó khấp khởi mừng thầm, nhưng sao cảm thấy hồi hộp, lo lo. Rồi nó tự trấn an: chủ nhà nầy giàu có kếc xù- thuộc gia đình của Chú hoả mà- mất chừng nầy có nghĩa lý gì, như con mèo rụng sợi lông, nhằm nhò gì. Thật ra, nó biết mình không phải vì lương tâm cắn rức mà mang tâm trạng của người gian manh sắp phạm tội.
Nó tiếp tục gom hết số vàng cho vào túi rồi buộc lại miệng túi cẩn thận.
Chỉ còn động tác cuối cùng là bỏ túi vải vào túi quần rồi mạnh dạn đi ra phòng ngoài, nhưng, nó vẫn đứng ỳ ở đó.
Tâm thần nó tự nhiên bấn loạn, tim đập mạnh hơn bao giờ hết, như có một khối nặng đang đè trên người.
Bất chợt nó nhìn lên vùng bóng tối mờ mờ trước mặt thấy có những cặp mắt đang âm thầm nhìn nó. Á!..nó la lên, hồn vía bay bổng chín tầng mây. Một luồng hơi lạnh chạy từ dưới xương sống lên tới gáy rồi lạnh toát cả người.
Phải mất vài giây nó mới hoàn hồn, nhận ra không có ai nhìn nó cả mà chẳng qua đó là những cặp mắt trong hình ở bàn thờ. Rồi nó lại nghe rõ ràng có tiếng động nhỏ, hình như có người đang bước nhẹ sau lưng nó. Nó quay phắc lại, không thấy ai cả. Nhìn xuống nền nhà nơi gây ra tiếng động, nó thấy con mèo mới lách vào cánh đang tinh nghịch với miếng vải.
Cùng lúc đó nghe tiếng nói:
- Bà ơi, vào đây xem! Có ai bỏ túi vàng ở đây nè!
Nó không thể tin được đó là tiếng nói của chính mình. Người nó ngẩng ngẩng, ngơ ngơ. Một sự thúc dục từ sâu thẳm nào đã buộc nó nói lên lời đó? Không! Nó không có một ý nghĩ nào cả mà nói từ vô thức.
Bên ngoài có tiếng dép lẹp xẹp chạy vào phòng:
- Đâu, đâu? Cậu nói túi vàng ở đâu?
Thoáng một cái, bà chủ nhà đã chạy tới bên nó. Bà thấy túi vải ở trên bàn thờ liền chụp lấy, miệng ấp úng không nói nên lời:
- Ồ, ồ...
Nó bước lui một bước. Thế là hết. Bây giờ thì không sao đụng đến túi vàng được nữa.
- Bà hãy xem kỹ lại đi, đâu còn nguyên đó.
- Ờ, ờ...cám ơn cậu quá, cám ơn cậu quá!
Vừa nói, một tay bà cầm túi vàng, tay kia cầm tay nó đi ra khỏi phòng thờ với cử chỉ thiện cảm.
Tại phòng khách, bà mời nó ngồi xuống chiếc ghế nhỏ của bộ trường kỷ-một cử chỉ lịch sự đầu tiên từ lúc nó tới đây.
Bà ngồi đối diện, vội vàng mở túi vải đổ vàng bên trong ra mặt bàn. Hai tay bà run run, người giàu có như bà bắt được vàng cũng run!
Bà đếm đi đếm lại, xem chùng có đủ đâu vào đó mới ngẩng đầu lên:
- Tui đã để quên túi nầy trong đó, gần cả năm nay đi kiếm hoài, tưởng đã mất rồi.
Nó ngồi thừ người ra, hai tai lùng bùng. Bà chủ nhà còn nói gì nữa nó cũng chẳng màng để ý. Nó tự trách: tại sao mình quá nhát gan như vậy, như còn tiếc rẻ cái túi vàng nằm trên mặt bàn thờ, trong bóng tối mờ mờ...
Để tỏ lòng biết ơn, bà chủ nhà biếu nó bốn tấm tranh sơn mài có hình mai, lan, cúc trúc được lấy trên cây cột treo ở giữa nhà. Bà cùng người giúp việc tiễn chân nó tới tận cổng ra vào.
Cánh cửa sắt được khép lại. Đứng ở ngoài đường tâm trí nó mới dần dần bình tỉnh lại. Ánh sáng chói chang của buổi trưa như xua tan bóng tối mờ ảo ở trong bàn thờ mà nó mới rời khỏi. Bên kia cổng sắt là hư ảo, là mơ. Nó trở về với thực tại, cảm thấy dễ chịu như vừa trút bỏ một gánh nặng. Nó hít vào một hơi dài, tận hưởng luồng gió mát thổi trên vầng tráng nóng và cái lưng ướt đẩm mồ hôi.
Nó thấy thèm hút một điếu thuốc. Chậm rải châm điếu thuốc lá, nó rít một hơi dài rổi thả làn khói bay lên cao. Thuốc lá ngon tuyệt! Hồn nó lâng lâng. Một niềm vui nhè nhẹ và thầm lặng len lỏi vào tâm hồn nó, có lẻ là niềm vui vừa thoát được sự cám dỗ.
Nó đạp xe chậm rải đi giữa đường phố vắng, miệng huýt sáo một bảng nhạc quen thuộc, tâm hồn thơ thới. Tất cả đã bỏ lại sau lưng.
Về lại chợ trời, nó san lại bốn bức tranh sơn mài cho người bạn hàng chuyên bán loại nầy được mười đồng. Họ cho giá bao nhiêu, nó bán bấy nhiêu, không hề kì kèo mặc cả. Cả túi vàng kia còn không lấy, hơi đâu kì kèo giá cỏn con nầy.
Trở lại sạp của mình, nó ngồi dựa lưng vào bức tường cố chợp mắt một chút cho khoẻ, nhưng bao ý nghĩ hỗn độn luôn quay cuồng trong đầu nó. Phải chăng vì tiếc nuối: nó cứ bỏ túi vàng vào túi quần rồi tự nhiên đi ra khỏi phòng thờ thì giờ nầy nó khấm khá rồi. Sao việc chỉ đơn giản thế mà nó không làm được? Nếu lúc ấy nó là kẻ gian thì chẳng lấy gì ngạc nhiên, đáng xấu hổ. Còn bây giờ nó là người lương thiện cũng không có gì để tự hào .
Không! Hoàn toàn lúc đó nó không có một chút ý niệm gì về danh dự, tự trọng, điều nào tốt, điều nào xấu, điều nào nên làm, điều nào không nên làm. Giữa hai cái mâu thuẩn ấy ranh giới là đường tơ kẻ tóc.
Gần bốn mươi năm qua...Thời gian như vó câu qua cửa sổ, sự việc ngày nào tưởng chừng như mới xảy ra. Tất cả chỉ còn là dấu ấn-một dấu ấn khó quên trong cuộc đời.
Khi còn ở trong nước, có những lúc tận cùng khốn khổ, nó nhớ lại chuyện ấy mà không hề nuối tiếc. Trước đây, nhiều lần nó tự hỏi tại sao nó đã có phản ứng đó? Tại nhác gan chăng? Hoàn toàn không phải , vì nó biết rằng nếu cho trở lại như lúc ban đầu, hay có trường họp tương tự , nó cũng cũng có hành động như thế thôi.
Ánh sáng chiếu qua lăng kính cho ra bảy màu. Hành động trong cuộc sống cũng qua nhiều “lăng kính” lắm. Đó là sự giáo dục từ gia đình, từ trường học, trường đời...
Nhưng đối với nó, ấn tượng nhất là sự tôi luyện từ mái trường mà nó tự hào . Ở đó có điều tâm niệm : “ Danh dự là kim chỉ nam hướng dẫn mọi suy tưởng và hành động của người Sinh Viên Sĩ Quan”.
Lăng kính ấy vô hình nhưng luôn tồn tại. Trong ranh giới đường tơ kẻ tóc của sự chọn lựa, QUA LĂNG KÍNG ẤY nó loé lên, soi đường ta đi; ta làm theo mà nào hay biết.
M.25
@@@@@@@@@
Bác M.25 thân mến,
Cám ơn Bác đã gởi bài "Qua Lăng Kính Ấy" cho HH xem. Bài viết hay và đầy thuyết phục bởi đây là câu chuyện thật 100% trong thời cả nước cùng khổ! Đây là điểm son của nền giáo dục nhân bản của nhà trường trước năm 75 trong hai nền cộng hòa mà chúng ta may mắn được tôi luyện. Thêm vào đó là sự giáo dục của gia đình, tôn trong danh dự và đạo đức của con người.
HH rất ngưỡng mộ Bác đã làm một tấm gương sáng để các con cháu hãnh diện và noi theo. Mong sẽ có dịp được Bác chia sẻ thêm những bài văn thơ đầy ý nghĩa.
Thân chúc Bác và gia đình luôn an vui và hạnh phúc...
HH