- Anh Trai Biên Hòa, Em Người Cà Mau
- Cọp Rằn Chương Thiện
- Má! Hương Vị Ngọt Ngào
- Đứa Con Bất Hiếu
- Người Em Tuổi Cọp
Anh Trai Biên Hòa, Em Người Cà Mau
Quỳnh tên một cô em Cà Mau bé nhỏ, bé nhỏ như dáng người của cô, Quỳnh làm việc chung với bà xã tôi rất gần gũi và chúng tôi coi như người trong gia đình, vì Quỳnh sinh hoạt làm ăn với gia đình chúng tôi lâu nhất, lại là tình đồng hương vì Dũng chồng Quỳnh là người Biên Hòa, nhà ở gần khu chợ nhỏ trên đường đắp mới trại Bạch Đằng ngày xưa. Quỳnh nhỏ hơn tôi hơn 2 con giáp nhưng vì đã gọi bà xã tôi bằng chị nên Quỳnh xưng hô anh, em với tôi. Nhìn đôi mắt Quỳnh đôi khi tôi liên tưởng đến một người, ở miền đất tận cùng đất Việt tên gọi Cà Mau của những ngày đầu Xuân Ất Mão 1975.
Những ngày đầu Xuân 1975, trước tình hình chiến sự miền Trung càng ngày càng xấu đi, nhưng không làm nản lòng và làm mất tinh thần những người lính sư đoàn 21 bộ binh. Áp lực địch rất nặng nề, trung đoàn 31 Sư đoàn 21 Bộ Binh đang trấn đóng ở Chương Thiện, tiểu đoàn 2/31 sấu thần đơn vị thân thương của tôi là tiểu đoàn trừ bị được đưa xuống Cà Mau. Sau những ngày quần thảo ác liệt với Cộng quân đối diện với thương vong, người lính chúng tôi coi rất nhẹ, bị thương là coi như được phép về thăm nhà còn ngược lại chết trận là đi phép vĩnh viển. Tiểu đoàn chúng tôi chuyển quân về gần chợ Quận.Thới Bình là một chợ quận nhỏ nhưng an ninh, đêm nay tiểu đoàn tôi tạm dừng quân, lính và quan có được những giây phút thoải mái tạm gọi là hậu phương. Đời lính chiến ai có biết được, có biết chăng là những bản nhạc đã vẽ vời cho lính. Lần đầu tiên đời lính đêm nay tôi được ngủ trong một căn nhà xưa cổ kính. Chú hai Lâm người chủ nhà phải nói là hết lòng thương lính đã dành cho tôi và Tiểu đoàn Trưởng Đại úy Phan Hùng Dũng mỗi người một bộ ván gõ qua đêm sau khi đã chiêu đãi chúng tôi một chầu rượu đế. Sáng sớm tỉnh dậy tôi cảm thấy có sự ấm áp hơn những ngày thường, thì ra trên mình tôi ngoài tắm chăn mỏng nhà binh lại được phủ thêm một cái mền bông ấm với mùi thơm thoang thoảng. Chú hai Lâm vui vẻ nói:
-Tối qua sợ Thiếu úy lạnh nên sai con Tím lấy mền cho Thiếu úy.
-Ông vẫn có người lo lắng hơn tôi. Đại úy Phan Hùng Dũng khóa 24 mỉm cười bảo với tôi.
Ngày hôm ấy tiểu đoàn nghỉ chân tại đây và tôi đã có dịp nói chuyện với người con gái đã dành cho tôi sự ấm áp đêm qua. Được biết chú hai Lâm người vợ đã mất sớm, có 4 người con Hồng, Xanh, Đỏ, Tím. Hồng người con gái lớn có chồng về Rạch Giá, Xanh trai cả hiện là lính địa phương quân đóng ở Năm Căn, Đỏ anh kế đi lính không quân đóng ở Cần Thơ, chỉ cònTím nghỉ học ở nhà phụ với chú trông coi việc kinh doanh và ruộng nương. Tím một cô gái nhà quê mặc áo bà ba bới tóc thả đuôi gà, hương sắc không mặn mà kiêu sa nhưng mộc mạc cũng có chút gì đưa đẩy. Đời lính chiến sống nay chết mai, tôi đã bỏ lại Biên Hòa hết rồi. Cô em hàng xóm thân quen với lời chưa tỏ. Cô bạn học đành dành lại cho thằng bạn thân với tình yêu cao thượng hay vì mặc cảm. Người tình École Pasteur cùng ngồi Continental hay vào Rex xem “ Mùa Hè 42” tập tành những cảm giác đầu đời của thằng con trai mới lớn…
-Quê Thiếu úy ở đâu? Tím đã kéo tôi về với thực tại.
-Biên Hòa.
-Biên Hòa là ở đâu. Tím chưa hề nghe đến.
-Biên Hòa ở trên Sài Gòn đó.
- Biên Hòa chắc đẹp hơn Cà Mau rồi. Biên Hòa có gì đẹp Thiếu úy?
- Có Bưởi, có nhà thương điên và trại cùi Bến Sắn.
- Điên và Cùi… bộ người Biên Hòa???
-Tím định nói người Biên Hòa điên và cùi hết sao. Không đâu nhà thương và trại cùi được dành nuôi dưỡng và chửa trị dân tứ xứ.
- Gặp Thiếu úy một lần chắc ai đó cũng muốn điên quá.
- Sao vậy cà. Ai vậy?
- Còn phải hỏi. Đôi má Tím chợt ửng hồng và vội bỏ ra nhà sau.
Chú Hai Lâm cũng thể hiện sự vui mừng khi thấy chúng tôi nói chuyện với nhau. Thời gian còn lại Tím bắt tôi kể cho nghe về đời lính, đương nhiên là không phải chuyện oai hùng như trong nhạc trong phim, chỉ là sự bình thường để yêu đời lính, tôi kể về Thiếu uý Dương văn Anh khóa 26 Đà Lạt quê Long An, chuẩn uý Nguyễn Phương( Đồng Đế) quê Đà Lạt.Tôi về Bạc Liêu học chính trị một tuần, Dương văn Anh đã nắm Đại đội trưởng thế tôi, khi trở lại đơn vị thì Anh và Phương đã vĩnh viển nằm lại chiến trường ChươngThiện. Anh và Phương đã chết thế cho tôi. Tím đã khóc thay tôi cho bạn bè của tôi, những giọt nước mắt sao thương quá. Tôi và Tím đã nói với nhau những điều muốn nói.
Tin tức đoàn quân tháo chạy đã được đài BBC đưa tin hằng đêm. Tiểu đoàn 2/31 chúng tôi phải đi trong đêm, đoàn xe GMC đã đưa chúng tôi về Chương Thiện. Tạm biệt Cà Mau tạm biệt Lê thị Tím.
- Cô Quỳnh nầy! cô quê ở Cà mau, có biết quận Thới Bình không?
- Không nhà em ở ngay thị xã. Sau vài năm má em cho em lên Rạch Giá ở với Dì hai, sau đó cùng dì hai vượt biên. Anh Hạnh biết Cà Mau à!
- Vậy là tôi biết Cà Mau nhiều hơn cô rồi.
Nghe Quỳnh nhắc đến Rạch Giá, hình ảnh những ngày đầu tháng 4 năm 1975 đã trở về với tôi. Trong thời gian nầy, tiểu đoàn trấn đóng từ Vàm Răng đến Vàm Rầy trên con đường huyết mạch đến Kiên Lương Hà Tiên. Lỳnh Quỳnh nơi tôi đóng quân một chiều ảm đạm theo những tin tức chiến sự miền Trung, ngồi buồn nhìn từng chiếc xe đò xuôi ngược, những khuôn mặt hối hả không dấu sự sợ hãi. Những chị vợ lính đã đến tìm chồng, trong những tà áo ấy tôi chợt thấy một tà áo bà ba với mái tóc thả đuôi gà.
- Tím! Trời ơi sao em lại tìm đến được đây, ba em có khoẻ không?.
- Ba em vẫn khỏe. Em qua Rạch Giá thăm chị em chị Hồng. Lại nghỉ đến anh tình cờ gặp mấy anh lính mang phù hiệu Sấu thần đang chuẩn bị đồ tiếp tế, em mới biết anh đang ở Lỳnh Quỳnh và tìm đến anh.
- Tím! Em có biết là nguy hiểm lắm không? Đêm qua đặc công Việt Cộng đã đánh đại đội 3 của Trung úy Quang tại xã Tri Tôn, nhưng xui cho chúng đụng phải sư đoàn 21 đành phơi xác, toàn là bắc kỳ không hà.
- Trung úy Quang có sao không anh? Phải Trung úy Quang anh đã kể cho em nghe có người tình Gia Long ở Sài gòn xuống thăm người yêu là lính, đôi tình nhân đã tắm và cùng vui đùa trong nước hố bom nước mặn phèn chua?
- Đúng rồi. Nhưng đêm nay thế nào Việt Cộng cũng không để yên cho tiểu đoàn anh, bây giờ không còn xe làm sao em về Rạch Gíá được.
- Anh…(Tím nủng nịu nhìn tôi).
Đêm hôm đó tôi đành giữ Tím lại căn cứ, để Tím nghỉ trên chiếc chiếu của tôi trong hầm trú ẩn, tôi ra ngoài ngủ chung với người lính mang máy truyền tin. Nửa đêm căn cứ đón nhận hàng loạt đạn pháo của cộng quân, nhưng các đơn vị pháo binh bạn phản pháo kịp thời, mọi sinh hoạt đều chìm vào bóng đêm tỉnh lặng, tôi đích thân theo dõi tình hình của các đứa con tiền đồn và trong căn cứ. May mắn là vô sự.
-Em sợ quá anh à.
- “Cò ỉa miệng ve” mà Tím. Mạng người cũng khó mất lắm.
- Nhưng em vẫn lo và sợ mất anh.
Tím chợt ôm chầm lấy tôi, hơi nóng và mùi da thịt của Tím đã tỏa qua người tôi. Từ giây phút ấy chúng tôi đã là của nhau. Rải rác trong đêm tiếng pháo địch vẫn bắn vào căn cứ.
Tôi đã đưa Tím lên xe đò để trở về Rạch Giá để Tím còn về Cà Mau. Trục lộ Rạch Giá Hà Tiên sau đó dường như bỏ ngỏ. Hai tuần lễ cuối cùng của tháng 4, trung đoàn 31 của sư đoàn 21 được chuyển về Vũng Liêm, Trà Ôn Tỉnh Vĩnh Long, những trận chiến với chiến thắng lẫy lừng, Trung đoàn dự định sẽ tổ chức triển lảm những chiến lợi phẩm thu được tại Quận Bình Minh Vĩnh Long. Nhưng chỉ một lời kêu gọi buông súng của Tổng Thống Dương Văn Minh tất cả đành sụp đổ.
Cái giá của tôi phải trả là gần 6 năm trong ngục tù Cộng sản, sống sót trở về chỉ biết làm lại bài toán tình yêu với con số không to tướng, người Biên Hòa tôi không dám màng nghỉ tới, làm sao dám xuống Cà Mau tìm lại người xưa, người con gái với chiếc áo bà ba. Vĩnh biệt Tím như chôn một chuyện tình thời chinh chiến.
Một ngày bà xã tôi bảo:
- Con Quỳnh có mấy nốt ruồi sao cũng giống ông.
- Bà làm như tôi với Quỳnh cùng một cha một mẹ sinh ra vậy.
- Cách ăn uống cũng giống ông nữa. Có gì thì nói hết nha ông.
- Rõ là vớ vẫn. Bà biết tôi mà.
Quỳnh nhờ tôi mang khai sinh của cô đi công chứng và dịch sang tiếng Anh. Đọc lướt những hàng chữ trên tờ khai sinh, tôi sững sờ xúc động như tìm được một báu vật. Lê thị Lỳnh Quỳnh sinh ngày 25 tháng 12 năm 1975, cha vô danh, mẹ lại là Lê Thị Tím…
- Má em tên là Lê thị Tím? Tôi vội vả hỏi Quỳnh.
- Dạ. Hình như anh Hạnh có nói là quen nhiều người ở Cà Mau.
- Chắc là trùng tên… trùng tên. (tôi tự nhủ một mình)
- Còn ba em
- Em không có ba, khi lớn lên nghe má nói ba đã chết trận trong chiến tranh.
- Chết trận trong chiến tranh (tôi lẩm bẩm một mình…)
- Quỳnh! Nếu không gì trở ngại có thể cho tôi số điện thoại của má Quỳnh.
- Chèn đét ơi chi vậy?
-Để hỏi thăm Cà Mau bây giờ có gì lạ không mà.
Lòng tôi bồi hồi khi chờ tiếng nói tin rằng quen thuộc từ Cà Mau.
- Alô ! Ai vậy.
- Chào chị Tím. Tôi là Hạnh, Quỳnh con gái chị đã cho tôi số phone của chị.
- Đúng rồi… anh vẫn còn sống… người trai Biên Hòa của Tím.
...................................................................................................................
- Ai vậy ông ? Tiếng của bà xã tôi vang ra.
- Ngưòi bạn hỏi chuyện họp Ngô Quyền đó mà. Tôi vội vã trả lời.
Tôi nghe tiếng nấc nghẹn ngào của Tím và đường dây cũng mất…
Những tuần sau đó Quỳnh đã trao cho tôi một bức thư từ Cà Mau.
Cà Mau ngày… tháng… năm…
Anh trai Biên Hòa thương nhớ!!!
Không có niềm vui nào diễn tả được, có thể nói là không thể nào vì Tím đinh ninh rằng anh đã không còn trên đời nữa, sau ngày thảm họa của đất nước 30 tháng 4 năm 1975 và hơn 30 năm không có một chút gì tin tức của anh. Còn gì vui hơn khi nghe Lỳnh Quỳnh con gái em nói lại anh đang ở Mỹ và có một gia đình hạnh phúc. Có lẽ định mạng đã an bài cho anh trai Biên Hoà và em người Cà Mau, cũng như cuộc đời đã gắn liền với tên em, tên màu Tím. Sau 30 tháng 4 năm 1975, đất nước miền Nam hiền hòa đã bị chiếm đoạt bởi những người miền Bắc, gia đình em đã mất đi anh Xanh, anh đã chiến đấu hiên ngang đến giây phút cuối cùng bên cạnh những đồng đội của anh. Nhà cửa ruộng vườn cũng như cửa tiệm ở Thới Bình của ba em cũng bị họ tich biên vì bị kết tội địa chủ và gia đình chế độ cũ. Anh Đỏ bị bắt vào Thanh niên Xung Phong và đã bỏ mạng bên Cam Bốt với tham vọng cuồng điên của Việt Cộng. Sau cùng ba em cũng mất vài năm sau đó, ông ra đi trong sự uất ức và đói nghèo. Hơn 30 năm, em đã khô giòng lệ vì khóc hết cho cả gia đình và khóc cho anh. Nhớ anh nhưng không biết Biên Hòa ở đâu, cũng như anh chắc gì còn sống…
Con gái em Lỳnh Quỳnh được may mắn trong ngày xuống thăm chị Hồng ở Rạch Giá, đã theo anh chị vượt biên. Lỳnh Quỳnh dự định hoàn tất hồ sơ bão lãnh cho em, nhưng bây giờ em đã quyết định ở lại Thới Bình ở lại Cà Mau để được gần nơi hương khói cho ba má và 2 anh của em. Hơn nữa để anh còn giữ mãi hình ảnh đẹp của Tím ngày xưa, cô gái nhà quê mặc áo bà ba và bới tóc thả đuôi gà. Cũng may là biết tin anh bây giờ, nếu gặp khi những năm tháng đen tối sau thời gian nổi trôi, em với thân gái một con làm sao thoát được những đôi mắt khát tình của những kẻ từ bưng biền trở về đầy quyền lực, làm sao giữ trọn được tình anh vì em đã có một quá khứ… quá khứ rất nặng nề, gặp rồi chắc chỉ biết nghẹn ngào nói với anh: nếu anh có hỏi em có trao thân cho ngườì khác không? Tím xin thưa rằng có. Nếu anh bão rẳng Tím lăng loàn phản bội, thì Tím xin thưa Tím không phản bội lăng loàn. Chỉ sang đò một thân xác phù du... Một điều anh không biết tên con Lỳnh Quỳnh, em đặt là để nhớ về anh với đêm cuối cùng tại Lỳnh Quỳnh. Em vẫn còn nhớ lời nói của ba em nói với đứa con gái không chồng lại có mang “Con hãy giữ đứa con của Thiếu úy”. Lỳnh Quỳnh là con gái của chúng ta đó… Chiến Tranh và định mạng đã an bài, em nay đã là cô phụ, anh đã có một gia đình ấm êm. Khi hay tin Quỳnh có chồng người Biên Hòa em đã mỉm cười tự nhủ, chắc vong hồn anh dẫn dắt nên lá rụng về cội, của Biên Hòa đã trả lại cho người Biên Hòa. Như một sự nhiệm mầu Quỳnh hiện thời lại gần gủi bên anh. Quỳnh là đứa con gái hiếu thảo. Hai ta không trách gì nhau, trách chăng là “giải phóng”. “Giải phóng” đã cướp đi ruộng vườn, sinh mạng ba và 2 anh của em, đồng thời “giải phóng” đã cướp em ra khỏi đời anh. Bây giờ có những ngày sống gần gủi và làm việc chung với Lỳnh Quỳnh, (chúng ta đã có cháu ngoại rồi đấy), nhìn Quỳnh anh cứ tưởng như có em đang kề cận.
Cám ơn anh, người trai Biên Hòa đã cho em một kỷ niệm tình rất đẹp.
Em Người Cà Mau
Tím ơi! Hãy cho anh một lời tạ tội. Với em với con cũng như những người dân miền Nam. Anh và đồng đội đã nghe lời vị Tư lệnh tối cao buông súng đầu hàng để miền Nam rơi vào tay Cộng Sản. Anh đã thiếu trách nhiệm của một người lính, người làm cha, với người tình chân quê Lê thị Tím. Anh cũng xin tạ tội với những cô em gái quê của những vùng đất hiền hòa, Vĩnh Long, Đồng Tháp, SócTrăng, Bạc Liêu đang chịu kiếp làm dâu đoạ đày nghiệt ngã tha phương Nam Hàn, Đài Loan, Trung Quốc.v.v… nếu anh và đồng đội giữ được miền sông Hậu các em sẽ không có thảm cảnh như ngày hôm nay. Cám ơn đấng thiêng liêng đã mang người con gái Lê thị Lỳnh Quỳnh về với anh, phải chi người Cộng Sản biết trả lại miền Nam dân chủ cho người dân miền Nam hiền hòa, để người dân cả nước cùng hát ca lại bài ca tự tình dân tộc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương ngày nào…
Em gái Bắc Ninh
Anh trai Biên Hòa
Em người Cà Mau…
Tưởng nhớ mùa Xuân Ất Mão.
Nguyễn Hữu Hạnh
Cọp Rằn Chương Thiện
“Cọp Rằn Chương Thiện” tên một vỡ kịch, được ban kịch Trần Hùng dàn dựng ờ hãi ngoại nói về cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng ChươngThiện đã bị tử hình sau khi đã chiến đấu đến giây phút cuối cùng, khi miền nam thất thủ 1975. Ông xuất thân từ lính cọp “Biệt Động Quân”, cũng có thể ông tuổi Dần sinh năm 1938. Lịch sử đã sang trang, nhưng thời gian vẫn chưa xoá mờ được sự tôn kính và thương nhớ vị anh hùng đã nằm xuống, cho bao oan khiên và tức tưởi của dân tộc. Trong khuôn khổ đặc san xuân Canh Dần, thay vì bàn chữ “canh cô mồ quả” của tuổi Canh Dần lận đận lao đao của bạn bè cùng trang lứa, xin dành một sự trân trọng nhưng không thần thanh hoá một nhân vật, chỉ mong ghi lạì tinh cảm riêng tư nhớ về người anh, người lính trung hậu, nghĩa tình. Hồ Ngọc Cẩn “Cọp Rằn Chương Thiện”.
Vùng đất mang tên anh
Chương Thiện nổi tiếng một thời “ Tam Kiến Nhứt Chương”. Bao gồm 4 Tỉnh thuộc miền T ây Nam Phần, gồm Kiến Hòa, Kiến Phong, Kiến Tường và Chương Thiện. Đặc biệt là với người lính khi ra trường, muốn về miền Tây gạo thơm cá ngọt, đều phải “ lạnh giò” khi nghe nói đến “ Tam Kiến Nhứt Chương”. Chương Thiện là một địa thế hiễm nghèo, sông rạch chằng chịt quằn quèo và lung lác đầm lầy. Nằm giữa Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Rạch Giá. Nơi chuyển quân của VC đánh phá vùng Hậu giang và cũng là nơi dừng quân của bộ đội Miền Bắc, xâm nhập vào miền Nam qua ngã Kampuchia. Khu Trù mật Vị Thanh, Hỏa Lựu được cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm thành lập, trên Tỉnh Chương Thiện vào cuối thập niên 50, hầu tạo sự trù phú cho người dân quê nghèo ở đây. Nhưng vì là vị trí chiến lươc, VC đánh phá ngày đêm, cuộc sống ngườì dân ở đây càng khốn khó, trong thành phố lính nhiều hơn dân. Ai đã qua Chương Thiện một lần, mới biết thương người dân, người lính, như ngườì viết đã không nở bỏ người lính của mình. Chiến tranh và mất mát,không biết bao nhiêu người đã nằm xuống tại Chương Thiện, trong đó có những người con của Biên Hòa thân yêu ( Cố chuẩn uý Thanh khóa 8/72 quê Tân Hạnh, sau về Hóa An).
Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, là vị Tỉnh Trưởng lâu đời nhứt của Chương Thiện, vớì một trách nhiệm đầy khó khăn. Vì bao gồm 5 Quận, Quận Đức Long nằm ngay Tỉnh lỵ, Quận Long Mỹ nằm trên con đường độc đạo nối liền từ ngã 3 Cái Tắc, mỗi buổi sáng Quân Đội đều phải mở đường, xe cộ mới di chuyển đươc về Cần Thơ; còn 3 Quận Kiên Hưng , Kiên Long và Kiến Thiện, các viên chức muốn di chuyển phải chờ có phương tiện Không Quân, con đường nối liền từ Hỏa Lựu,vể Gìồng Riềng Rạch Giá cũng không xử dụng được.Về mặt Hành quân lãnh thổ, ngoài các đơn vị địa phương luôn cần sự trợ lực của BĐQ, SĐ 21 và SĐ 9 Bộ Binh. Sau mùa hè đỏ lửa 72, các đơn vị BĐQ đươc điều động ra Miền Trung, chỉ còn lại Trung Đoàn 31 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Một mặt lo toàn vẹn lãnh thổ, trong điều kiện đồn bót thu hẹp, đạn dược khó khăn, phài lo an dân học sinh có điều kiện đến trường, dân chúng có điều kiện canh tác, tiểu thương có nơi buôn bán. Nổi lo của dân hiền lành cũng là nổi lo của ông quan đầu Tỉnh có tấm long với dân với nước trên” vùng đất mang tên anh”.
Năm Dần Kỹ niệm
Với cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn,tôi là ngườì Biên Hòa, không phảì là đồng hương, không phải là khóa đàn em của Trường Thiếu Sinh Quân hay Quốc Gia Nghĩa Tữ, cũng không phải là quan, lính thuộc quyền. Nhưng tôi có duyên với 2 lần gặp gỡ, bằng tình cảm thâm trầm, của một ngườì anh dành cho một đưá em, chắc hẵn suốt đời không bao giờ quên được.
“ Hạnh đây phải không? Cố gắng nha em”
Đây là lời nói của lần gặp gỡ lần 2 cũng là sau cùng của Đại Tá Hồ Ngọc Cẫn. Cũng vào năm Dần cuối năm 1974, tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương SĐ21 BB Chương Thiện. Tôi và một số chiến hữu khác được Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam Tư Lệnh Quân khu IV, gắn anh dũng bội tinh cấp Quân Đoàn tại mặt trận. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn tách rời hàng Sĩ Quan cao cấp, đến bên tôi bằng cái vỗ vai thân mật, như một người anh dành cho một đứa em, ông có trí nhớ rất tốt, vì vẫn còn nhớ tên tôi một Sĩ Quan cấp thấp, không dưới quyền và chỉ gặp một lần. Riêng Thiếu Tướng Nguyễn khoa Nam, tôi đã từng nghe tiếng là một cấp chỉ huy nghiêm minh và đạo đức, khi ông là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 BB tại Đinh Tường. Năm Dần kỹ niệm với sự gặp gỡ 2 vị Sĩ Quan cao cấp và xứng đáng của QLVNCH, vì cả hai ông đều chọn cho mình mỗi cái chết, như lời Tuyên Thệ trong Lễ ra Trường “Tổ Quốc,Danh Dự vàTrách Nhiệm.” Năm Dần kỹ niệm, trong buổi lễ gắn huy chương, không quân-cách, không vòng hoa của các em nữ sinh, không tiệc ăn mừng, nhưng lòng vẩn vui vì đón nhận huy chương từ cấp chỉ huy cao cấp tại mặt trân, đến tôi một người lính quần nhuộm phèn, áo không tên với mùi thuốc súng
Những ngày tháng sau cùng, vì áp lực nặng nề của địch quân, đơn vị tôi trãi dài tuyến đường xi măng Hà Tiên Rạch Giá, sau rút về Trà ôn Vĩnh Long bão vệ vòng đai Cần Thơ, rồi buông xuôi theo vận nước. Nhớ lại năm Dần kỹ niệm, vẫn khắc ghì hình ảnh 2 vị chỉ huy khã kính kiên cường trong chiến bại.
Người Lính
Tiểu Đoàn 2/31 Sư Đoàn 21 BB là đơn vị của tôi, từ lúc ra trường đến ngày mất nước, chắc nhờ ơn đất nước Đồng Nai hay mang tuổi Canh Dần, nên tôi là một Sĩ Quan trẻ lại sống thọ nhất đơn vị. Dù đã có 2 chiến thương bội tinh và bước chân hành quân qua các vùng Sông Hậu, đứng bên giòng sông Trẹm rừng U Minh Cà Mau, nhớ đến tiểu thuyết của Dương Hà:
“Giòng sông Trẹm muôn đời vẫn đục
Rừng U Minh muôn thuở còn xanh”
Hay cất tiếng ca hành quân với gót chân rướm máu, bước mòn trên kinh xáng Thị Đội, nối dài thẳng tấp từ Cờ Đỏ Cần Thơ về Kiên Bình Rạch Giá.
Nói đến người lính, không làm sao quên đươc chân tình của cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, đối vớì lính cũng như các đàn em xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân, ông luôn hướng dẫn và giúp đở các khoá đàn em, trở thành những cấp chỉ huy tài ba và gương mẫu. Cũng không bỏ thân xác đàn em nằm lại chiến trường; cố Thiếu Tá Nguyễn vũ Địch ( Thiếu Sinh Quân) là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/31 SĐ 21 BB, trong cuộc hành quân chạm địch nặng tại Chương Thiện ông đã tữ thương nhưng thì thể không đươc mang ra khỏi trận chiến, dù không thuộc phạm vi trách nhiệm, nhưng khi được tin tức không tốt của đàn em, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã dùng trực thăng trong chuyến bay đêm mong tìm thân xác của đàn em. Cuối cùng ông cũng cố gắng vận động người dân địa phương, mang về thi thể của Thiếu Tá Địch từ vùng tạm chiếm. Còn Chuẩn uý Trần vĩnh Khiêm cũng xuất thân từ Thiếu Sinh Quân, cùng đơn vị Tiểu Đoàn 2/31 với tôi, giờ ở phương nào có còn nhớ đến người lính “ anh cã Hồ Ngọc Cẩn”.
Lần đầu vẫn nhớ
Dưởng thương được 2 tuần lể, tôi rời Biên Hòa xuống Sài Gòn rồi trở lại trình diện đơn vị tại Chương Thiện. Vì la cà với những người bạn học củ Đại Học Minh Đức Sài Gòn, hơn nữa đời lính sống nay chết mai, mê chơi nên trể phép. Nhờ sự trể phép tôi mới có cái duyên gặp được Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn.
Nhờ có sự quen biết với Cãi Lương, được đi trên chuyến xe nhà tốc hành, của đoàn Kim Chung khởi hành vào buổi chiều, trên đường đi đến Chương Thiện. Chúng tôi gồm 4 người Bác Hưởng ngườì Bắc lớn tuổi, một thân hữu người Bắc của Tiểu khu BH, soạn giã Ngọc Điệp và tôi. Chúng tôi đến Chương Thiện vào 9 giờ đêm, trong lúc đoàn Kim Chung đang trình diễn tại nhà lồng chợ.Xe chúng tôi đến và chạy thẳng vào dinh Tỉnh Trưởng, một vị Sĩ quan cấp Tá của Tiểu khu ra tiếp đón, trong khi tôi mặc đồ lính mang lon chuẩn uý của SĐ21 BB. Được biết Bác Hưởng trong Ban quản trị Công ty Kim Chung, còn soạn giả Ngọc Điệp đi theo tập tuồng, cho đoàn Kim Chung đang hát ở đây.Lúc đầu tôi cứ nghỉ Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn là người Bắc, chắc hẵn quan liêu và khó khăn, nhưng khi được mời ra ăn cơm tối với ông bà Tỉnh Trưởng, nghe được tiếng người miền Nam của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, không biết có sự liên hệ ân tình nào, Đại Tá Cẩn luôn gọi Bác Hưởng, người Bắc có một chân khập khểnh một Đại Ca hai Đại ca. Giọng nói của Đại Tá Cẩn nhẹ nhàng và tình cảm, bà Đại Tá có khuôn mặt nhân hậu nhưng kín đáo. Trong buổi ăn tối gồm ông bà Đại Tá Cẩn, 4 người chúng tôi, Nữ Nghệ sĩ Mỹ Châu và người chị tên Hồng Châu. Suốt buổi ăn, Đại Tá Cẩn luôn tìm cách hỏi chuyện từng người một, ông khen Tiểu đoàn của tôi đánh giặc giỏi, nhắc đến tên các vị Tiểu Đoàn Trưởng tài ba, như Đại uý Lành, Đại uý Lừng, Đại uý Robert, đồng thời cũng nhắc đên Tướng Lê văn Hưng từng là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Sấu Thần 2/31.Riêng về nữ Nghệ sĩ Mỹ Châu, Đại Tá Cẩn hỏi về cảm nghỉ đường xá, haì chị em Mỹ Châu lái xuống Chương Thiện, cũng như vai chính trong vỡ tuồng cô trình diễn. Sau 1975 nữ Nghệ sĩ Mỹ Châu có nhiều vỡ diễn, đối diện với những vai Sĩ Quan Ngụy xem là “ Cực kỳ hung ác” chắc chắn cô sẽ không tìm thấy qua hình ảnh “ Cọp Rằn Chưong Thiện” Hồ Ngọc Cẩn. Buổi ăn vẫn kéo dai hơn nữa đêm, vì biết thân mình cấp thấp, lại vừa uống xong 1 chai Courvoirsier, tôi xin phép vào phòng nghỉ sớm.
Một hình ảnh trung hậu và nhân ái của cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tôi vẫn nhớ và thường kể cho những người bạn tôi nghe. Đêm đó chúng tôi ngũ trên lầu trong dinh Tỉnh Trưởng Chưong Thiện, sang ra đã thấy Đại Tá Cẩn với quân phục chỉnh tề, từ dưới cầu thang bước lên đich thân mang thau nước nóng và khăn mời Bác Hưởng người Bắc rửa mặt,( vì lúc bấy giờ không có vòi nước nóng) dù rằng có bà Đại Tá và nhiều người giúp việc. Hình ảnh đó có thể nói lên con người của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, dù đầy quyền uy nhưng vần giữ tình nghĩa thuở cơ hàn, bằng chân tình chân thật của mình.
Còn riêng tôi nặng nợ hơn, chỉ gặp nhau lần đầu Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã dành cho tôi một tình cảm đặc biệt. Khi tôi xuống từ biệt xách balô ra đơn vị, Đại Tá Cẩn mĩm cười và đã chuẩn bị riêng cho tôi một phong thư, hơn 35 năm trôi qua tôi vẫn còn nhớ nằm lòng lời viết của ông. Ngoài bìa thư ông gửi cho Tiểu Đoàn Trưởng của tôi:
Kính gữi : Đại uý Trần Ngọc Điêp
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/31
Bên trong thư bỏ ngỏ như sau:
Kính gửi Anh Điệp.
Tôi có thằng em là Chuẩn uý Nguyễn Hữu Hạnh đang phục vụ dưới quyền anh.
Kính mong được anh giúp đở và xem nó như một đứa em.
Hẹn gặp. Anh em mình sẽ nói chuyện nhiều hơn.
Ký tên
Hồ Ngọc Cẩn
Ba mươi năm nhìn lại, cũng là 35 năm ngày giổ của anh, công và tội sẽ được lịch sữ ngàn năm phán xét, là người có niềm tin vững mạnh, luôn tin tưởng vào quyển năng của Thượng Đế, nơi cỏi vĩnh hằng chắc anh đã tha thứ cho họ những người đã cướp đi mạng sống của anh. Anh ra đi trong tiếng thét gầm của họ, ngoài xa pháp trường cũng còn dân lành nhỏ lệ tiếc thương anh. Nếu anh linh của anh còn luyến tìếc về những ưóc mơ chưa thành đạt cho dân cho nước, cho vùng đất Chương Thiện mang tên anh. Hãy dùng tâm hồn nhân ái soi sáng và dẫn dắt họ tìm con đường ích nước lợi dân. Thương nước thương dân luôn là tấm lòng nhân ái của “ Cọp Rằn Chương Thiện”.
Nguyễn Hữu Hạnh
(Đặc san Biến Hòa California 2010)
Má! Hương Vị Ngọt Ngào
“Má nhớ con lắm…nhưng con đừng về…”
Mỗi lần gọi điện thoại về thăm má, tôi đều được nghe như vậy, giọng nói của má tôi cách xa một đại dương cũng đủ để lại trong tôi một nổi đau trong niềm nhớ, tôi cũng muốn trở thành môt đứa trẻ trong vòng tay của má ngày nào, để còn được nhõng nhẽo và nói với má tôi rằng “con cũng nhớ má lắm.” Thương quá má tôi, đang âm thầm quên đi nỗi nhớ con, còn luôn miệng dặn dò con bao chuyện, phải cố chăm lo mấy đứa nhỏ, phải lái xe cẩn thận v.v…để rồi nghe tiếng má nghẹn ngào: “con nghe má chớ má không nghe được tiếng con.” nhưng biết làm sao hơn vì đôi tai má tôi không còn nghe được nữa… đã lâu lắm rồi!
Như một cánh chim di nhớ về tổ cũ, nơi đó có người má già nua nhưng “Hương vị ngọt ngào.”
“Hương vị ngọt ngào” từ gìòng sữa ngọt lúc nằm nôi, những món ăn do bàn tay má nấu, đã ấp ủ trong tôi cả biết bao niềm hạnh phúc! Hạnh phúc đến nỗi, ngày nay dù đang sống tại Mỹ, cái ăn cái uống dư thừa, có đủ điều kiện để thưởng thức các món ăn ngon, nhưng sao tôi vẫn thấy thèm, phải nói là thật thèm món ăn do bàn tay má nấu, nhất là món thịt nọng kho rục và cá trê dầm nước mắm mỡ hành. Đã sống trong một gia đình nghèo lại đông anh em, do đó lúc bấy giờ mua sắm thức ăn hằng ngày là cả một vấn đề xa xỉ. Nhưng với bàn tay nấu nướng khéo léo của má tôi, từ miếng thịt nọng dành cho người nghèo hầu như chỉ toàn là mỡ, được ướp nước mắm hành tiêu, kho riu riu với lửa nhỏ, từng thớ mỡ trở nên mềm rụm là cả gia đình tôi có bữa ăn ngon. Hôm nào khá hơn má tôi mua về một con cá trê nho nhỏ, cá được chiên lên dầm nhỏ cùng với nước mắm mỡ hành, nếu vào một ngày trời mưa với bát cơm nóng được chan nước mắm mỡ hành là gia đình tôi có bữa ăn thịnh soạn rồi. Phải chăng sinh mạng của tôi gắn liền cuộc đời của má, vì khi má sanh tôi ra ông Bác sĩ Tứ thời bấy giờ đã quyết định cứu má bỏ con, má bị động kinh và sanh khó; nhưng một sự nhiệm mầu tôi đã trở mình bật khóc và sau nầy cũng với tiếng khóc của tôi một lần nữa đã giữ chân má, khiến má từ bỏ con đường má chọn thời bấy gìờ, để an phận làm má, tiếp tục chăm sóc đàn con.
Nhớ những ngày ấu thơ, nhất là những ngày Tết tôi đã nhìn thấy được những giọt nước mắt được che dấu của má tôi, khi anh em chúng tôi không có quần áo mới để mặc ba ngày Tết. Ngày tôi vào lính, khi ra đơn vị tác chiến được một tuần, má tôi được tin tôi bị thương tại chiến trường Hậu Giang, má đã từ Biên Hòa xuống thăm tôi, vượt qua những đường dài đầy nguy hiễm để đến được bệnh viện Tiểu khu Chương Thiện vào đêm, nhưng không gặp được thằng con trai, vì đêm đó tôi đã được các đàn em đưa về hậu cứ say sưa không về bệnh viện, để lại má tôi nắm trên giường bệnh giữa những tiếng rên la của các thương binh, sáng ra má nhìn tôi bằng đôi giòng nước mắt. Sau ngày 30/4/1975, lòng má nặng trĩu với đứa con trai, cũng với chiếc nón lá chống đở nắng mưa cùng với giỏ thức ăn, má đã đi thăm nuôi tôi qua những trại tù từ Phú Lợi, Thành Ông Năm, Kà Tum, Long Giao, Phước Long đến Z30D Hàm Tân. Với tình thương của má ấp đầy hương vị ngọt ngào: “ có túi cơm khô má đã ngào đường con ăn đỡ đói và có chất ngọt nghe con”. Giữa những ngày bo bo được thay cho gạo, không biết má tìm đâu cơm để phơi khô. Ngày được ra khỏi tù nghề nghiệp không có, việc làm cũng không, đôi tay gầy guôc của má lo cả gia đình. Ngày ngày, má ra đi từ sáng sớm, bương chải vất vả làm công nhân cho hãng tôn Đồng Nai, chiều đến cả nhà đều chờ má mang về bịch cơm công nhân, từ hãng đem về hấp lại cho cả nhà cùng ăn. Có một ngày má dẫn tôi xuống bác thợ may tại ngã ba Bình Đa để sửa cho tôi cái áo. Má bảo: “Cái áo nầy của cậu Tư con, cậu Tư đi tù ông Ngoại lấy mặc, khi con còn ở trong tù ông Ngoại chết, má không chôn theo, bây giờ lấy ra sửa lại cho con”.
Vận mệnh đất nước và cuộc đời đã đẩy đưa tôi rời xa má, cuộc sống tất bật nơi xứ người đã khiến tôi có những phút giây quên mình có má, tệ hại hơn còn vô tình tự mãn với chính mình khi thỉnh thoảng gửi về má vài trăm đô, một hai thùng sửa, một vài lọ thuốc là nghĩ đã lo tròn cho má. Cũng như tôi đã quên rằng, trong nghèo khổ túng thiếu má đã lo cho cả đàn con, các con nay đã trưởng thành, chắc hẵn cuộc đời còn lại má sẽ không cần nhiều thứ. Nhưng thứ má cần là núm ruột từ máu và xương thịt của mình . “Má nhớ con lắm…nhưng con đừng về…”
Mẹ là một kho tàng quý báu cao cả do thượng đế ban phát, mẹ vẫn là đề tài muôn thủa của văn nhân và thi sĩ; Nhưng má tôi chỉ là một người bình thường đã trang trải tấm lòng và cho tôi cả cuộc đời của má. Ngày nay, má tựa như ngọn đèn dầu trước gió, nếu một mai ngọn đèn tắt đi, e rằng cuộc đời còn lại của tôi sẽ mang nhiều ân hận và tiếc nuối. Ân hận vì không có những giây phút kề cận bên má lúc tuổi già, tiếc nuối vì không còn được một lần ăn lại món thịt nọng kho, cá trê chiên dầm nước mắm mỡ hành và nghe giọng nói của má với “ Hương vị ngọt ngào”.
Viết cho má tôi.
Nguyễn Hữu Hạnh
Đứa Con Bất Hiếu
Khi tình cờ đọc được đoạn ngắn bằng Anh ngữ của con trai tôi viết về Welcome America: “gia đình tôi gồm 5 người ba má anh em tôi đến Mỹ vào cuối năm 1994 trong một chương trình nhân đạo của chính phủ Hoa Kỳ, vì ba tôi là 1 sĩ quan của nam Việt Nam, ông đã vào tù khi đất nước bị xâm chiếm bởi Công Sản, chúng tôi đến Mỹ để được học hành, cám ơn đất nước Hoa kỳ, nhưng thương nhất vẫn là ba của tôi…” tôi đã sững sờ ngạc nhiên và xúc động, ngạc nhiên vì con tôi đến Mỹ lúc bấy giờ mới 7 tuổi không biết gì về quá khứ của tôi, xúc động vì tình cảm nhỏ bé của người con đã dành cho tôi, chợt nhớ ba tôi đã qua đời hơn 23 năm qua, tôi chỉ là một đứa con bất hiếu để quảng đời còn lại của tôi bao ân hận và tiếc nuối vì chưa một lần nói với ba rằng “con thương ba lắm” trong việc làm hay trong tâm tưởng…
Nghe bà Nội kể lại rằng gia đình đông con, ba đời trước, ông cố, ông sơ từ Cát Lái Giồng Ông Tố rồi về Tân Vạn giàu có 3 đời, nhưng đến đời ông bà nội đã nghèo khổ, đến đời ba và các cô tôi phải đi ở đợ cho người giàu có, ba tôi rất thương gia đình hôm nào về thăm nhà là mua thêm thịt quà bánh cho hai em cũng không quên cho ông Nội 2 xị rượu đế. Ba tôi đã lớn lên trong thời loạn lạc nhiểu nhương, ban ngày Tây lùng, ban đêm Việt Minh kiếm, ba tôi phải trốn ngày trốn đêm, mấy ông Việt Minh về hoạnh hẹ đủ điều, cùng cực ba tôi phải đầu quân cho ông cò Pa Rem(?) ở bót cây Điệp cùng thời với ông Ách Rép. Ách Nhuận, Đội Phương. v.v… với một thời ngang dọc lẫy lừng. Dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ba tôi được đưa về sư đoàn 21 tại Hậu Giang và giải ngũ 1965. Ba tôi đã dùng số tiền truy lãnh giải ngũ mua mãnh vườn nhỏ tại quê Ngoại Bình Đa. Chính nhờ mảnh đất nầy gia đình anh em tôi sống đắp đổi trong thời kỳ đen tối của đất nước. Nhớ thời ba tôi còn mạnh, sinh hoạt và làm ăn tại Hoá An, luôn về nhà với những thực phẩm hằng ngày cho gia đình chúng tôi. Thời gian qua đi, trong 1 đêm về, ba tôi bị tai nạn xe trên xa lộ Biên Hòa phải đưa xuống nhà thương Chợ Rẩy, vết thương ở đầu đã ảnh hưởng đến thần kinh… Ba tôi đã kéo dài cuộc sống trải dài qua cuộc đổi thay của đất nước. Cuộc sống khó khăn với tính tình thất thường của ba tôi khi có rượu vào, ba tôi luôn đập phá gây kinh hoàng cho cả gia đình, trước mắt, má tôi là người gánh chịu nhiều nhất. Ngày tôi ra khỏi tù trở về chung sống với gia đình, tôi cùng các em đã đứng về phía má, trong một cơn chấn động vì thương má tôi đã nặng lời với ba đến nổi có nhiều ngày cha con không nói chuyện với nhau. Tôi nhớ lại vào một buổi sáng sớm, ba tôi đã đánh thức tôi dậy pha sẵn 2 ly cà phê, kế đến ba đã nói lời xin lỗi với tôi, chưa đợi ba tôi dứt lời tôi đã quỳ xuống sụp lạy ba với đôi hàng nước mắt…
Tôi biết ba tôi cũng có một thời tuổi trẻ hiên ngang, sau nầy tôi có gia đình và lên chợ Biên Hòa làm ăn, ba tôi vẫn thỉnh thoảng đạp xe qua bến đò Kho, vòng Cù Lao Phố qua thăm tôi, tình cờ gặp anh Lê Ngọc Sâm (hiện ở Virginia) là con trai thầy giáo Hai dạy ở Bến Gỗ, lúc bấy giờ đang bán vé số cạnh thùng nước đá của tôi, anh Sâm nhắc lại những kỷ niệm xưa một già một trẻ, thầy giáo Hai, thầy đội Xường đôi bạn tâm đắc và lịch lãm; anh Sâm thời bấy giờ chỉ là đứa bé chạy đi mua rượu, thầy giáo Hai đã mất lâu rồi nay gặp lại cố nhân, anh Lê Ngọc Sâm chỉ biết đãi phần cơm trưa đạm bạc của mình nhưng đậm đà hương vị, không biết làm sao lúc bấy giờ chúng tôi thấy rượu đế uống ngon không thể tả được …
Ba tôi mất năm 1987, ông đã ra đi một cách an bình trong đêm sau buổi chiều ăn uống với mấy đứa em tôi, sự ra đi đột ngột không để lại một lời trăn trối và không hành xác những người thân. Ba tôi đã ngủ yên, riêng má tôi vẫn còn thổn thức, phải chăng nghĩa vợ chồng không trọn; đành rằng má tôi là người gánh chịu khổ đau, nhưng biết đâu đó cũng có vài lần nặng lời xúc phạm đến ba tôi, đã tạo cho ba tôi nhiều ẩn ức, đến nổi chỉ có rượu vào mới phát ra được, đơn thuần vì má làm việc vất vả chạy cơm gạo cho gia đình, hơn nữa má đã quá nặng tình cảm với chị em má, trong lúc khó khăn đói kém má đã mang hết chia xẽ cho cậu cho dì trong sự thèm khát của ba tôi…
Riêng tôi vẫn mãi là đứa con bất hiếu, nếu con người mất đi còn lại linh hồn, ba hãy tha thứ tội cho con, để con được an tâm đứng thẳng làm người. Kính mong ba tôi để lại cho con tấm lòng của ba. Vì ba tôi nghèo lắm không tiền tài của cải, ba tôi chỉ có một tấm lòng với tha nhân. Trong nửa đêm đám tang ba tôi, dù trời mưa trời gió vẫn có 2 vị bô lão đạp xe đạp từ Long Bình Tân, Bến Gỗ thắp cho ba tôi 2 nén nhang với lời khấn vái nghẹn ngào: “thắp cho thầy Đội nén nhang chúng tôi mang ơn thầy Đội” cũng đủ để ba tôi mĩm cười trước khi ra đi. Và lời nói chân tình của anh Lê Ngọc Sâm vẫn còn giữ mãi trong tôi hình ảnh của một người ba “Thắp cho chú Sáu nén nhang!!! Mầy đã mất đi một người cha đáng thương. Tao đã mất đi người chú đáng kính”
Con trai Đội Xường
Nguyễn Hữu Hạnh
NGƯỜI EM TUỔI CỌP
“Canh Dần”. Theo ông bà xưa truyền lại, rằng người mang tuổi Dần luôn cao số, gian nan; càng gian nan hơn khi rớt vào chữ Canh, nôm na theo nghĩa bình dân là “canh cô mồ quả” đơn độc xa gia đình và nhiều nỗi truân chuyên. Lời bình của thế gian như “dao vết ngọt đâm” theo cả một đời người, cho dù nhiều người mang tuổi Dần vẫn tin rằng “đức năng thắng số”, trong đó có em tôi “Hưng” người em gái mang tuổi Cọp.
Sau khi dự đám cưới của một đứa cháu họ ở San Jose, tôi có điện thoại hỏi đứa em sắp lên chức chưa, được biết tụi nhỏ cũng muốn có cháu ẩm bồng, nhưng năm tới là năm Canh Dần, nên đành phải tránh. Điều nực cười là người đang nghe chuyện mang tuổi Dần, ngay trong gia đình cháu tôi, dì tư “ Hưng” cũng mang tuổi Cọp.
Hưng là con cô Tám, em ruột ba tôi, Vì tôi ỷ vai anh nên chưa từng tìm biết ai lớn tháng hơn ai. Thuở nhỏ chúng tôi rất gần gũi, dù rằng giữa Hóa An và Lò Heo cách nhau một con đò, tôi theo bà nội coi cải lương ở rạp Biên Hùng, tối về ngủ nhà ba má Hưng ở Lò Heo. Kỷ niệm chúng tôi không bao giờ quên, là trò chơi lịch sử, chị em Sửu, Hưng đóng vai hai bà Trưng, còn tôi đóng vai Tô Định. Những ngày trưởng thành sống bên bà nội, được nghe bà nội kể về Hưng, tôi biết rằng khi sinh Hưng ra, dượng Tám (tức ba của Hưng) có ý không muốn đón nhận đứa con gái mang tuổi Canh Dần, nhưng ba tôi là anh trai cả lại có uy thời đó (thầy Đội Xường) cương quyết giữ lại đứa cháu gái tuổi Dần (điều nầy chắc Hưng cũng chưa biết). Chuyện gì xảy ra giữa người lớn thì tôi không được rõ, chỉ biết rằng khi làm khai sinh, đứa con gái tuổi Dần mang họ mẹ không mang họ cha. Điều may mắn là “em Cọp” vẫn lớn lên trong một gia đình sung túc và hạnh phúc. Em Cọp lại là đứa con xinh đẹp và học giỏi nhứt nhà. Dượng Tám tôi đã mất cách đây vài năm, ông suốt một đời đã là một người chồng người cha gương mẫu.
Khi còn cấp sách đến trường, Hưng luôn có nhiều người theo đuổi, đương nhiên phải che dấu tuổi Cọp của mình. Hưng vẫn tin rằng lập gia đình trễ sẽ đánh tan cao số của tuổi Dần, sau khi tốt nghiệp Đại Học Khoa Học, lận đận tình duyên cuối cùng cũng tìm được bạn đời là chỗ thân quen cũng ở Biên Hòa. Đến năm 1975, trong khi chồng bị đưa vào trại tập trung, Hưng hạ sanh đứa con gái đầu lòng cũng là đứa con duy nhất, một mặt nuôi chồng một mặt dưỡng con bằng nghề bán cháo phổi của mình. Sau khi chồng được thả, Hưng được sống trong gia đình êm ấm, hạnh phúc; một gia đình biết bao người thèm muốn, nhưng không có được trong một hoàn cảnh xã hội đầy khó khăn. Những tưởng rằng em đã vượt qua tuổi cao số của mình, nhưng qua một thời gian biết rằng vợ chồng Hưng đã chia tay, tôi không biết lý do, vì em tôi không từ bỏ người chồng nầy để đến với người khác khá hơn, em vẫn ở vậy tiếp tục nghề dạy và nuôi con khôn lớn. Khi có chương trình định cư tại Hoa Kỳ, người chồng của em tôi có đến gặp Hưng, mong muốn vì tương lai của đứa con, gia đình nên sum hợp cùng nhau sang Hoa kỳ. Nhưng cuối cùng em tôi vẫn từ chối cùng con ở lại Biên Hòa. Không biết vì số phận nghiệt ngã, thân phận long đong, hay tuổi Dần của em tôi mang nhiều tự đại, tự cao và đầy ương ngạnh.
Em gái tuổi Dần không dừng lại ở đây, sau 10 năm trở về thăm quê hương, tôi có ghé thăm cô dượng Tám mới biết rằng cả hai mẹ con Hưng sẽ sang Mỹ theo diện hôn nhân, mẹ về Cali, con về Texas. Khi sang đến Mỹ, Hưng có đến thăm, tôi có hỏi sau lúc trước đi cùng chồng con không đi, giờ lớn tuổi rồi, cơ ngơi việc làm ở Biên Hòa tạm ổn sao lại đi. Câu trả lời ngắn gọn: “Hơn năm mươi tuổi mới tìm được tình yêu đích thực”. Em tôi lớn tuổi rồi, không biết có tìm được tình yêu đích thực hay không? Với bản tánh tuổi Dần tự cao không thuần phục ai, liệu rằng ông Niên Trưởng Đà Lạt có chịu nổi tánh tình người vợ tuổi Dần của em. Hay là đôi lúc xảy ra cảnh cơm không lành canh không ngọt, quyết định vội vàng rồi cho tuổi Dần cao số.
Canh Dần cao số, lận đận tha hương, nhưng so với nhiều người khác cùng tuổi, em tôi vẫn có một cuộc sống hạnh phúc và may mắn; nếu em biết giữ hạnh phúc đó. Vì tình yêu chân thật là sự chấp nhận những gì đang có, đã có và sẽ có.
Nguyễn Hữu Hạnh