KHÓA 25
KHÓA QUYẾT CHIẾN TẤT THẮNG
____________________________________________
Năm 1968, sau cuộc tổng tấn công của Cộng Sản miền Bắc vào miền Nam Việt Nam bị thất bại , toàn thể dân chúng trên khắp 4 vùng chiến thuật đều sôi sục ý chí đấu tranh chống Cộng triệt để . Trước hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng , Tổ Quốc cần những thanh niên yêu nước gia nhập quân đội để chiến đấu chống lại sự xâm lăng của quân Cộng Sản .
Giữa tháng 8 năm 1968 , hơn 3000 thanh niên đầy đủ điều kiện văn hóa ( tối thiểu Tú Tài Toàn Phần Ban A hoặc Ban B ) trên toàn lãnh thổ đã nộp đơn xin gia nhập vào Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam .
Qua một kỳ thi tuyển văn hóa và gồm ba đợt tuyển chọn về sức khỏe 298 thanh niên đã trúng tuyển, chuẩn bị trở thành các Tân Khóa Sinh Khóa 25 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam .
Ðây là nét đặc biệt đầu tiên của Khóa 25 . Ðặc biệt bởi vì các TKS khóa 25 được tuyển chọn từ một số lượng đông đảo nhất trong lịch sử tuyển lựa các thanh niên để gia nhập vào Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam , sự sàng lọc trong số hơn 3000 thanh niên ưu tú nhất của đất nước lúc bấy giờ là một dấu hiệu đầy hy vọng cho Tổ Quốc mai sau .
NGÀY NHẬP TRƯỜNG
Trung tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Dã Chiến ở Trại Mát được dùng làm trại tạm trú cho các ứng viên trúng tuyển , nơi đây toàn thể các ứng viên được khám sức khỏe và thi thể lực tổng quát , một số ứng viên bị loại vì không đạt được mức điểm tối thiểu hạn định.
Khóa 25 nhập trường chia làm 4 đợt vì những khó khăn gia cảnh, phương tiện di chuyển, giao thông liên lạc chậm trễ. . . Ðây cũng là nét đặc biệt thứ hai của khóa 25 .
Ngày 10 tháng 12 năm 1968 , đợt đầu tiên đã trình diện với SVSQ Cán Bộ Khóa 23 trước Cổng Nam Quan theo nghi lễ truyền thống .
Vì Quân đoàn nhận danh sách đậu dự khuyết từ Bộ TTM trễ hơn việc loan báo trên đài phát thanh nên có năm ( 5 ) ứng viên từ Quân đòan I vào đến Ðà Lạt thì phái đoàn bác sĩ giám định y khoa đã trở về Sài Gòn , Thiếu Tá Trưởng Phòng Tuyển Thâu Ðồng Văn Chân chuyển các ứng viên này đến Bệnh viện Tiểu Khu để khám sức khỏe , kết quả chỉ còn lại ba ( 3 ) người đạt tiêu chuẩn ( TRẦN NGOC TÝ, TRƯƠNG ẤN , VĂN QUÝ M ẠNH )
Sau ba đợt nhập trường có kèn trống đón rước . Ngày 19 tháng 12 năm 1968 , ba ứng viên của Quân đoàn I nhập trường sau cùng .
Cho đến giờ phút này , đời sống quân trường mới bắt đầu, tất cả những thay đổi đột ngột về môi trường , những xao động tình cảm, phản ứng tinh thần có lẻ không cho họ một ý niệm nào về KHÓA 25 , một danh từ chung mới mẻ mà họ đã nhận .
Nhưng đây chính là thời gian đánh dấu cho một khóa được hưởng nhiều may mắn đặc biệt . May mắn được lựa chọn từ một số đông đảo ứng viên ưu tú trên toàn quốc. May mắn được thụ huấn trong một giai đoạn chuyển hướng toàn diện của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam , những cơ sở tối tân và đồ sộ được xây cất , chương trình được cập nhật hóa . Và , may mắn ở những kỳ vọng mà Tổ Quốc sẽ trao phó cho họ trong tương lai khi đất nước trải qua một giai đoạn mới .
TÂN KHÓA SINH KHÓA 25
Ngày 22 tháng 12 năm 1968 , lễ khai giảng Mùa Tân Khóa Sinh Khóa 25 được cử hành trọng thể tại Vũ Ðình Trường Lê Lợi TVBQGVN và khơi đầu từ đó ,các Tân Khóa Sinh bắt đâu những tháng ngày thực thụ làm lính quân trường .
Ðiểm đặc biệt thứ ba là Tân Khóa Sinh khóa 25 do SVSQ Khóa 23 năm thứ ba huấn luyện , không như các khóa về sau là do SVSQ năm thứ tư phụ trách .
Trong hơn 8 tuần huấn nhục , các Tân Khóa Sinh phải trải qua một quá trình lột xác thật sự , từ một thanh niên dân chính qua một quân nhân dũng mạnh . Ngoài những tục lệ truyền thống khắt khe của nhà trường lúc ban đầu , họ còn phải trải qua những thử thách đầy cam go và gian khổ , những chịu đựng dày dạn gió sương , tuân hành kỷ luật quân đội thật nhuần nhuyển . . .Mùa Tân Khóa Sinh cũng là mùa quân sự năm thứ nhất với Kỷ thuật cá nhân chiến đâu , Chiến thuật cấp Tiểu đội và vì trong thời gian huấn nhục nên cũng là thời gian vất vả nhất .Không một phút nào rổi rảnh , tinh thần luôn luôn căng thẳng , lúc nào cũng phải chuẩn bị để nghe lệnh và thi hành lệnh. Tân Khóa Sinh tuyệt đối thi hành , tuân lệnh mà không lý do , không khiếu nại . . .
Có một số bạn sức không kham nổi đoạn đường phải trở về dân chính . Riêng bạn VÕ BÁ VẠN thuộc TKS Ðại đội B đã qua đời trong mùa Tân Khóa Sinh .
Ngày 14 tháng 02 năm 1969 ,Tân Khóa Sinh khóa 25 đã phá vở truyền thống TVBQGVN, chỉ chinh phục đỉnh Lapbé Nord ( cuộc chinh phục đỉnh Lâm Viên bị huỷ bỏ vào giờ chót vì lý do an ninh ) . Sau khi 8 Ðại đội Tân Khóa Sinh tập họp trên đỉnh ngọn Lapbé Nord , Trung Tá Quân Sự Vụ Trưởng Bùi Trạch Dần có đưa ra một câu hỏi : Tất cả hãy tìm chung quanh đây xem có cái gì rất đặc biệt . Ai tìm được sẽ có thưởng ! Thế là toàn thể TKS Khóa 25 đổ xô đi tìm mà không biết tìm cái gì ! Thì ra đó chỉ là cái cột mốc xác định vĩ độ , kinh độ cũng như cao độ 1875 mét của đỉnh Lapbé Nord . Nó là cái ụ bằng xi măng cao khoảng 2 mét nằm giữa một khoảng sân bằng phẳng .
Buổi chiều là nghi lễ Trao Găng và Mũ tại từng phòng của Tân Khóa Sinh dưới ánh nến lung linh .
Buổi tối , tại Vũ Ðình Trường Lê Lợi , dưới sự chủ tọa của Chỉ Huy Trưởng , các Sĩ Quan Cán Bộ và thân nhân , 260 Tân Khóa Sinh Khóa 25 được chấp nhận là Sinh Viên Sĩ Quan năm thứ nhất và được các SVSQ Cán Bộ Khóa 23 gắn lên cầu vai cặp Alpha màu đỏ .
NĂM THỨ NHẤT ( 1969 )
Sau khi gắn Alpha , khóa 25 hoàn tất thêm 2 tuần lễ trả nợ mùa Quân Sự năm thứ nhất. Cũng có thể xem như thêm hai tuần huấn nhục , có người suốt tám tuần lễ Tân Khóa Sinh vẫn vững vàng nhưng đã phải ngất xỉu trong giai đoạn này !
Bốn khóa 22B, 23 , 24 và 25 bắt đầu mùa Văn Hóa với chương trình giảng dạy của một trường đại học khoa học kỹ thuật ngoài dân chính để sau khi tốt nghiệp họ sẽ được nhận lãnh văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng . Khóa 25 được coi như những SVSQ ưu tú và họ được đòi hỏi phải học hành trong một chương trình đầy đủ với những tiêu chuẩn khắt khe .
Kết quả rất đáng khích lệ và sau kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt , Trung Tướng Lâm Quang Thi , Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN , lần đầu tiên đã cấp phép đặc biệt cho 20 SVSQ/K25 đạt điểm văn hóa cao nhất về thăm gia đình. Kể từ mùa Văn Hóa đầu tiên ấy đã chứng tỏ khóa 25 có rất nhiều triển vọng .
Ngày 11-11-1969 , Khóa 22B mãn khóa .
Tháng 12-1969 , đón nhận Tân Khóa Sinh Khóa 26 nhập trường .
Tuy nhiên cuối năm thứ nhất khóa 25 chỉ được một tuần phép , không như dự kiến nên cả khóa đồng loạt bảo nhau đi trễ , ngay các bạn ở tại Ðà Lạt cũng vào trễ ( không biết đây là một sự đoàn kết hay chống đối đầu tiên của khóa 25 ! ) . Kết quả là đầu năm thứ hai cả khóa 25 bị Ðại Tá Nguyễn Văn Sử Quân Sự Vụ Trưởng phạt ở Vũ Ðình Trường Lê Lợi !
NĂM THỨ HAI ( 1970 )
Năm thứ hai , ngoài chương trình Văn Hóa và Quân Sự , toàn thể khóa 25 đã được gởi đi du hành vào đầu tháng 11 năm 1970 tại các Trung Tâm Huấn Luyện và đơn vị lớn trong lãnh thổ Quân khu II và Quân khu III để học hỏi và gặt hái những kinh nghiệm về tổ chức và chỉ huy, đồng thời quan sát tiềm năng của quốc gia .
Ðầu năm thứ hai , SVSQ.K25 PHẠM MINH TÂM là người Việt Nam đầu tiên đã được tuyển chọn sang Mỹ theo học Trường Võ Bị West Point và sau khi tốt nghiệp khóa USMA.74 bạn đã trở về làm Sĩ quan Cán Bộ của Trường .
Và cũng rất đặc biệt , ngay khi còn là SVSQ , Khóa 25 đã có con chim đầu đàn HUỲNH KIM QUANG nêu gương hy sinh và đã gục ngã trên chiến hào trước cổng Nam Quan để bảo vệ Trường Mẹ . Ðêm 29 tháng 4 năm 1970 , lợi dụng đêm tối dày đặc sương mù , Cộng quân đã đột kích đánh phá Bộ Chỉ Huy nhà trường . Toàn thể Trung đoàn SVSQ đã kiên cường đẩy lui nhiều đợt tấn công của Cộng quân , SVSQ K25 HUỲNH KIM QUANG đã anh dũng hy sinh tại vọng gác trên đường ra sân bắn số 1 trước Hội Quán SVSQ . Oai hùng thay người SVSQ năm thứ hai ra đi khi còn quá trẻ , mới 21 tuổi đời , nhưng đã để lại trong tâm hồn các SVSQ Khóa 25 một tấm gương cao quý với những tiếc thương khôn cùng .
- Ngày 18-12-1970 , Khóa 23 mãn khóa .
Cũng trong năm thứ hai , nhà trường được Quân đội và Bộ Tổng Tham Mưu giao phó cho nhiệm vụ mới : đào tạo những sĩ quan hiện dịch cho cả ba binh chủng Hải , Lục và Không quân . Khóa 25 đã may mắn trở thành khóa LIÊN QUÂN CHỦNG đầu tiên của TVBQGVN .
Ngày 24 tháng 12 năm 1970 , Hội Ðồng Tuyển chọn Quân chủng đã nhóm họp tại Văn phòng Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng, trong phiên họp này Trung Tá Trưởng phòng Nghiên cứu Thành tích đã trình bày thể thức tuyển chọn thành phần SVSQ Khóa 25 chuyển sang thụ huấn Quân chủng để Hội đồng quyết định .
Kể từ ngày 26 tháng 12 năm 1970 TVBQGVN ngoài tám Ðại đội SVSQ còn có thêm hai Trung đội tân lập là :
- Trung đội Hải Quân : 32 SVSQ khóa 25
- Trung đội Không Quân : 30 SVSQ khóa 25
đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của các Sĩ quan Cán bộ Quân chủng do BTL Hải quân và BTL Không quân biệt phái đến trường .
- Ngày 27-12-1970 , Tân Khóa Sinh Khóa 27 nhập trường .
NĂM THỨ BA ( 1971 )
Mùa quân sự năm thứ ba , ngày 26 -12-1970 , 32 SVSQ K25 thuộc Hải Quân và 30 SVSQ K25 thuộc Không Quân được gởi về thụ huấn chuyên nghiệp tại Trường Sĩ Quan Hải Quân và Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân tại Nha Trang . Tại đây các SVSQ K25 Hải Quân được học hỏi về lý thuyết hải hành và đi thực tập trên những chiến hạm ngoài khơi Thái Bình Dương . Các SVSQ K25 Không Quân được học hỏi về lý thuyết căn bản phi hành với loại máy bay T.41 .
Trong khi đó, những SVSQ K25 Lục Quân đã theo học khóa 214B Nhảy Dù từ ngày ( 25 tháng 02 năm 1971 đến ngày 13 tháng 03 năm 1971) tại trại Hoàng Hoa Thám Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Sài Gòn .
Năm thứ ba , khóa 25 đã cùng khóa 24 được gởi về thủ đô Sài Gòn tham dự diễn hành ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1971 và đã vinh dự đoạt giải nhất diễn hành trước hàng trăm đơn vị thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .
Ngày 11 tháng 12 năm 1971 đánh dấu thêm một bước trưởng thành của Khóa 25 . Khóa 25 đã tổ chức LỄ TRAO NHẨN TRUYỀN THỐNG rất trọng thể và thân mật . Ðây là lễ đeo nhẩn lần đầu tiên được tổ chức trong lịch sử TVBQGVN và kể từ khóa 25 , Lễ Trao Nhẫn đã trở thành một nghi lễ truyền thống mới của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam .
Cuối năm 1971 , với quân số khóa 26 tăng cường ( 22 SVSQ Hải Quân và 15 SVSQ Không Quân ) Trung đội Không Quân trở thành Ðại đội I ,Trung đội Hải Quân trở thành Ðại đội K . Kể từ đó , Trung đoàn SVSQ bao gồm 10 Ðại đội SVSQ .
Ðại đội I và Ðại đội K vì quân số ít ỏi nên mỗi Ðại đội chỉ có hai (2) trung đội , không như các Ðại đội khác của Trung đoàn SVSQ . Ðại đội I Không quân gồm một Trung đội ở cuối Ðại đội B và một Trung đội ở đầu Ðại đội C . Ðại đội K Hải quân gồm một Trung đội ở cuối Ðại đội F và một Trung đội ở đầu Ðại đội G .
Trong năm thứ ba , khóa 25 nhận thêm 4 SVSQ mới đáo nhậm . Ðó là 4 SVSQ khóa 24 vì thiếu điểm văn hóa nên chuyển tiếp vào khóa 25 để hoàn tất hai năm sau cùng . Cuối năm thứ ba , Bộ Chỉ Huy xóa tên khỏi khóa 25 SVSQ NGUYỄN VĂN HOAN vì thời gian điều trị quá lâu tại Tổng Y Viện Cộng Hòa ( từ ngày 30 tháng 04 năm 1969 ) .
Ngày 17-12-1971 , Khóa 24 mãn khóa . Khóa 25 được chọn 24 SVSQ về Trại Hoàng Hoa Thám Sài Gòn thực tập nhảy dù để biểu diển trong ngày mãn khóa của K24 . Sau khi toán 1 nhảy , vì gió quá mạnh nên toán thứ hai không biểu diễn được .
Ngày 28-12-1971 , khai giảng mùa Tân Khóa Sinh khóa 28 .
Theo truyền thống , mỗi đại đội đều có Phòng Văn Khang riêng , thường là ở mặt sau lầu hai đối diện Kho Vũ khí Ðại đội , thuần tuý chỉ để sách báo linh tinh . Khóa 25 vào năm thứ ba thì có việc thực hiện các Phòng Văn Khang dưới gầm các batiment , nổi bậc nhất là gầm đại đội A và D có cả bàn bi da , cà phê , thuốc lá . . .
Theo phong trào Hướng Ðạo Sinh Quân Ðội lúc bấy giờ , khóa 25 thành lập Gia Ðình Phật Tử CÂUNALA sinh họat mỗi Chủ nhật tại Niệm Phật Ðường Quang Trung , tập trung con em ở các Trại Gia binh Quang Trung , Tôn Thất Lễ và Trường Chỉ Huy Tham Mưu . Phụ trách bởi các SVSQ là huynh trưởng khi còn là dân sự , sinh hoạt đều đặn và do các SVSQ khóa kế tiếp đảm nhiệm khi khóa đàn anh rời Trường .
NĂM THỨ TƯ ( 1972 )
Trong mùa quân sự năm thứ tư , SVSQ Lục Quân chia ra làm hai toán thay phiên nhau ở lại Trường huấn luyện TKS Khóa 28 và đến Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ Quốc Gia Vạn Kiếp tại Vũng Tàu để thực tập chỉ huy . Các SVSQ Hải Quân và Không Quân được gởi trở lại Nha Trang để hoàn tất chương trình huấn luyện chuyên nghiệp .
SVSQ NGUYỄN PHÁT TẤN rời Trường với cấp bậc Chuẩn Úy sau mùa huấn luyện TKS Khóa 28 .
Ngày 13 tháng 03 năm 1972 , tất cả SVSQ Khóa 25 trở lại Trường để hoàn tất mùa Văn Hóa năm thứ tư . Tổng kết điểm Văn Hóa cuối năm , Khóa 25 chia tay thêm bạn TẠ SỸ NGUYÊN .
Giữa năm 1972 , thực hiện dựng tượng bán thân Cố SVSQ Khóa 25 HUỲNH KIM QUANG trước Hội Quán SVSQ ( nơi bạn hy sinh ) . Tượng do điêu khắc gia Mai Chửng thực hiện bằng đồng đen .
Ngày 15 tháng 12 năm 1972 ,trong Lễ Mãn Khóa hết sức trọng thể tại Vũ Ðình Trường Lê Lợi do Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm chủ tọa , 260 SVSQ Khóa 25 ( bao gồm 4 SVSQ khóa 24 lưu nhiệm ) đã tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy và được trao Văn Bằng Tốt Nghiệp TVBQGVN có in lời xác nhận : Văn bằng này có gía trị tương đương với Văn Bằng Kỹ Sư Tốt Nghiệp Trường Cao Ðẳng Kỹ Thuật Dân Chính .
Khóa 25 đầu tiên phá vở thêm truyền thống Võ Bị , người Thủ khoa được gắn lon Hải quân mang gạch trên vai áo mà không là hoa mai nở , phải chăng báo trước một điều chẳng lành cho tương lai đất nước !
Khóa 25 được mang tên Khóa QUYẾT CHIẾN TẤT THẮNG .Nói đến Khóa 25 /SVSQ/ HD là nói đến một giai đoạn đặc biệt của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam . Chương trình bốn năm bắt đầu từ khóa 22B nhưng khóa 25 là khóa hoàn tất giai đoạn chuyển tiếp . Sự hiện diện của khóa 25 trước khúc quanh quan trọng của nhà Trường và trước diển tiến đặc biệt của đất nước là một may mắn cho bước đầu binh nghiệp của họ . Nhưng điều đáng hãnh diện là khóa 25 đã không ngừng đem hết nhiệt thành của tuổi trẻ để học hỏi, phát huy khả năng văn hóa và lãnh đạo chỉ huy , đồng thời cũng không hổ thẹn nối gót đàn anh trong việc xây dựng những truyền thống tốt đẹp cho Trường Mẹ .
GIAI ÐOẠN CHIẾN ÐẤU ( 1973 - 1975 )
Sau 14 ngày phép ngắn ngủi tiếp theo ngày Mãn Khóa , 260 tân Thiếu Úy Khóa Quyết Chiến Tất Thắng đã đồng loạt trình diện Bộ Tư Lệnh các Quân Binh Chủng và Sư Ðoàn khắp bốn vùng chiến thuật . Nơi đâu có Quân lực VNCH là có bóng dáng người sĩ quan xuất thân từ khóa 25 TVBQGVN .
Ba mươi hai ( 32 ) Hải quân Thiếu Úy Hiện dịch K 25 sau khi trình diện Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã được bổ nhiệm ngay xuống 32 chiến hạm , huấn thị đầu tiên là . . . tất cả đều nhận đơn vị biển , không có đơn vị bờ . .! Những sĩ quan này may mắn hơn đàn anh của họ những khóa trước vì ngay sau khi tốt nghiệp Trường VBQGVN . họ đã có kiến thức hải hành căn bản và sẳn sàng thi hành nhiệm vụ của một sĩ quan ngành Chỉ huy của Hải Quân mà không cần phải qua một khóa huấn luyện nào khác .
Sau thời gian hải vụ , họ đã được thuyên chuyển về các Giang đoàn và Vùng Duyên Hải . . . Ba ( 3 ) trong số 32 sĩ quan này đã được Bộ Tư Lệnh Hải Quân gởi đi du học Hoa Kỳ trong các chương trình Cao học Kỹ thuật vào năm 1974 .
Ðặc biệt khóa 25 có HÀ THAM là người đầu tiên đảm nhận chức vụ Hạm Phó Tuần duyên hạm Tiên Mới HQ.601 và TRẦN VĂN MINH trở thành Sĩ quan Tùy viên cho Tư Lệnh Hạm Ðội .
Ba mươi ( 30 ) Thiếu Úy Không Quân tuy đã hoàn tất chương trình huấn luyện phi hành căn bản tại Nha Trang và Ðà Lạt trước tháng 12 năm 1972 nhưng để trở thành những phi công chiến đãu họ đã được gởi đi các trường huấn luyện phi hành ngay sau khi trình diện Bộ Tư Lệnh Không Quân . Mười lăm ( 15 ) người học bay tại Hoa Kỳ và ( 15 ) người kia được huấn luyện tại Phan Rang .
Phi đoàn Huấn Luyện 920 Phản lực T-37 đầu tiên đã chính thức khai sinh nơi đây với quân số là 1 Sĩ quan Không quân thuộc khóa 24 và 13 Sĩ quan Không quân của khóa 25 . Chưa đủ phi cơ huấn luyện nên học bay một ngày , học địa huấn một ngày , thiếu thốn đủ mọi thứ từ sách vở đến dụng cụ nhưng được học bằng tiếng Việt và do người Việt Nam dạy . Mỗi người chỉ có duy nhất một bộ đồ bay . . .
Sau khi hoàn tất chương trình huấn luyên , tất cả đã trở thành những phi công phản lực (A-37 hoặc F-5 ) hay trực thăng của Không Quân VNCH .
Cũng như các khóa đàn anh , khóa 25 đã có những sĩ quan trẻ phục vụ tại tất cả các Sư Ðoàn Bộ Binh trên khắp bốn vùng chiến thuật và mọi binh chủng nổi danh như Nhảy Dù , Biệt Ðộng Quân , Thủy Quân Lục Chiến , Biệt kích 81 , Nha Kỹ Thuật , Pháo Binh , Thiết Giáp... Thời gian sau đó , mười ( 10 ) người trong số các sĩ quan Lục Quân này đã được gởi về theo học Khóa Cao Ðẳng Công Binh và một người đi du học Hoa Kỳ .
Khóa 25 phục vụ Binh chủng Thiết Giáp gồm 10 sĩ quan , trong thời gian thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Thiết Giáp Long Thành , dù học chung cùng rất nhiều sĩ quan tốt nghiệp từ Trường Võ Khoa Thủ Ðức nhưng những sĩ quan khóa 25 luôn được Chỉ Huy Trưởng tín nhiệm chọn làm Sĩ quan Tuần Sự , nhờ vậy các binh sĩ Thiết Giáp được nếm mùi kỷ luật quân trường theo đúng tiêu chuẩn TVBQGVN. Sau thời gian thực tập và huấn luyện , PHẠM ÐÔNG AN khóa 25 là Thủ khoa khóa Huấn Luyện Thiết Giáp 1 - 1973 . NGUYỄN XUÂN THẮNG được Thiếu Tướng Lâm Quang Thi Tư Lệnh Phó Quân Khu 1 chọn làm Sĩ quan Tuỳ Viên .
Binh chủng Pháo Binh cũng đón nhận 10 Sĩ quan Khóa 25 , sau sáu tháng huấn luyện cho Sĩ quan Pháo binh qua hai môn chính là Tác xạ , Ðiều chỉnh Tác xạ và Bảo trì Quân xa , tất cả đều phải đi làm Tiền Sát Viên . Thủ khoa cũng là NGÔ XUÂN HOA khóa 25 .
Tuy thời gian phục vụ ngắn ngủi ( hai năm bốn tháng ) nhưng khóa 25 đã chứng tỏ một tinh thần can trường và khả năng phục vụ .
Hàng chục sĩ quan khóa 25 đã được thăng cấp Ðại Úy đặc cách tại chiến trường , trong số đó có những Ðại đội Trưởng Trinh Sát ưu tú cấp Tiểu đoàn hay Sư đoàn . Một ví dụ điển hình là Ðại đội Trưởng Trinh Sát của Sư đoàn 18 là một sĩ quan khóa 25 . Anh đã trở thành con cưng của Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo Tư Lệnh Sư đoàn 18 và đã hơn một lần được các phóng viên chiến trường hết lời ca ngợi ( Xem Fighting is an Art . The ARVN Defense of Xuan Loc . April 9-21- 1975 by G.J. Veith and M.I Pribbenow và Người Lính Lẫm Liệt Giữa Tháng Tư Hung Hãn của Phan Nhật Nam ).
HY SINH VÌ TỔ QUỐC
Chung phần số với các khóa đàn anh và đàn em , khóa 25 đã trả nợ sông núi bằng mạng sống của mình , trong số đó có sự đóng góp máu xương ở cuộc hải chiến Hoàng Sa vào đầu năm 1974 . Xin một phút mặc niệm , thắp nén hương lòng tưởng nhớ các bạn đã nằm xuống , các bạn đã hoàn thành nghĩa vụ của một người trai thời chiến đối với Tổ Quốc và đồng bào . Cầu chúc hương linh các Tử Sĩ Khóa 25 Võ Bị được thanh thản nơi Cõi Vĩnh Hằng.
1 . VÕ BÁ VẠN , chết trong mùa Tân Khóa Sinh .
2 . HUỲNH KIM QUANG , tử trận tại Hội Quán SVSQ khi VC tấn công Trưòng VBQGVN ngày 29-04-1970 .
3 . TRẦN VIỆT DOANH , Biệt Ðộng Quân , cố Trung Úy đầu tiên của khóa 25 . Tử trận ngày 23-03-1973 .
4 .NGUYỄN VĂN BẢO ( Bảo lăn ) , Tiểu đoàn 9 , Sư đoàn Nhảy Dù . Tử trận tháng 04- 1973 .
5 . NGUYỄN VĂN HÁT , Sư đoàn 1 BB . Tử trận năm 1973 .
6 . NGUYỄN VĂN ÐỒNG ( Trầm Kha ) , Hải Quân . Tử trận trong trận Hải chiến Hoàng Sa ngày 19-01-1974 trên chiến hạm HQ.5
7 . LẠI NGOC CHÍNH , Sư đoàn 25BB . Tử trận đầu năm 1974 .
8 . TRẦN VĂN KHÉT , Sư đoàn 25BB . Tử trận đầu năm 1974 .
9 . NGUYỄN NHIÊN , ÐÐT/ ÐÐ2 /TÐ2 /TrÐ6 Sư đoàn 22 BB. Tử trận tháng 06-1974 .
10 . VÕ THIỆN THƯ , ÐÐT/ ÐÐ34 /TÐ3 Sư đoàn Nhảy Dù . Tử trận tại mặt trận Thường Ðức tháng 09-1974 .
11 .NGUYỄN NGOC PHƯỚC , Tiểu đoàn 8, Sư đoàn Nhảy Dù . Tử trận tại mặt trận Thường Ðức .
12 . NGUYỄN VĂN HAI ( Hai cương ), Tiểu đoàn 11 , Sư đoàn Nhảy Dù . Tử trận đồi 1062 mặt trận Thường Ðức tháng 10-1974 .
13 . HUỲNH MINH THANH , Trung đoàn 44 , Sư đoàn 23BB . Ðược ghi nhận là bị sát hại do tố cáo tham nhũng .
14 . DƯƠNG PHÙNG THIỆN . Bị lính vô kỷ luật bắn chết .
15 . NGUYỄN BÌNH RIÊN , Sư đoàn 22BB . Tử trận tháng 02-1975 .
16 . NGUYỄN VĂN HAI ( Hai lông ) , Chi đoàn phó Chi đoàn 1, Thiết đoàn 3 Kỵ binh . Tử trận ngày 15-03-1975 tại Cheo Reo Phú Bổn trên đường di tản theo đường số 7 .
17 . NGUYỄN H ỮU CHẤT , Không Quân , mất tích trên đường di tản ở phi trường Ðà Nẳng cuối tháng 03-1975 .
18 . NGUYỄN MINH CHÁNH , Sư đoàn 2BB , mất tích trên đường di tản tại căn cứ Chu Lai cuối tháng 03 -1975 .
19 . LÊ ÐÌNH H ỢI , chết ở bãi biển Ðà Nẵng trên đường di tản vào tháng 03 -1975 .
20 . VY VĂN ÐẠT , tuẩn tiết cuối cuộc chiến .
21 . NGUYỄN ÐÌNH GIANG , ÐÐT Trinh Sát Trung đoàn 50, Sư đoàn 25BB .Tuẩn tiết ngày 30 - 04 - 1975 .
22 . TRẦN HOÀNG PHƯỚC . Tử trận .
23 . HUỲNH VĂN ÐẢNH . Tử trận .
24 . HÀ VĂN LẠC . Tử trận .
25 . HUỲNH VĂN TƯ . Tử trận .
26 . ÐINH VĂN QUẾ . Tử trận .
27 . HUỲNH XUÂN QUANG . Tử trận .
28 . ÐỖ HOÁT . Tử trận .
29 . NGÔ XUÂN HOA , Pháo binh . Tử trận khi làm Tiền Sát Viên .
30 . NGUYỄN CÔNG THOAN . Tử trận .
31 . TRẦN VĂN PHƯƠNG . Tử trận .
32 . PHẠM THẾ DŨNG, ÐÐT/ ÐÐ22 /TÐ2,Sư đoàn Nhảy Dù .Vượt ngục bị bắt, chống lại việc bọn quản giáo dùng cờ VNCH may quần đùi nên bị tử hình .
33 . NGUYỄN AN PHONG . Vượt trại Cây cày A , Tây Ninh , mất tích vào tháng 08 - 1977 .
34 . NGUYỄN NGOC BỬU , TQLC , vượt ngục tại trại tù Xuân Phước bị bắn chết tại ấp Tây Sơn , Ðắc Lắc ngày 19-11-1980.
35 . ÐỖ VĂN ÐIỀN , vượt ngục trại tù Xuân Phước , mất tích .
36 . VÕ VĂN QUANG , Sư đoàn 22BB .Ra tù CS , vượt biên và chết trên đường tìm tự do .
37 . NGÔ ÐÌNH HẢI , Sư đoàn Nhảy Dù . Mất tích trên đường vượt biên bằng đường bộ .
38 . HOÀNG TẤN , Hải Quân . Vượt ngục , bị bắt và hành quyết tại Dalat .
39 . NGUYỄN VĂN SƠN (AET ) , Sư đoàn 23BB . Bị bắt làm tù binh đưa ra Bắc . Sau 1975 được trả về quê ở Mỹ Tho và chết vì bệnh điên .
40 . NGUYỄN QUANG BÌNH . Mất tích , không có tin chính xác .
41 . NGUYỄN VĂN NGẪU . Mất tích . Không có tin chính xác .
TỪ GIÃ BẠN BÈ
Với tuổi đời trên dưới 65 , khóa 25 luôn tìm đến nhau trong vòng tay ấm áp thân tình . Tháng năm trôi qua , một số bạn đã từ giã cuộc chơi về với quê hương cội nguồn dân tộc :
1 . CHUNG KIÊM . Chết bệnh .
2 . NGUYỄN HOÀNG LƯƠNG . Chết bệnh .
3 . NGUYỄN TRIỆU HOÀNG . Chết vì bị xe tông .
4 . HÀ NGŨ LÝ . Chết bệnh .
5 . PHAN ÐẠM TÍN . Mất ngày 09-08-2005.
6 . LÊ ÐỨC TUẤN . Mất ngày 07-03-2010 .
7 . TRẦN SỸ THIỆN . Mất ngày 01-04-2010 .
8 . ÐỖ VĂN QUÝ . Mất ngày 31-12-2010 .
9 . PHẠM HỮU TÀI . Mất ngày 25-01-2011.
KHÓA 25 HIỆN NAY
Khóa 25 ngày nay là một gia đình thân thương hiện diện khắp năm châu bốn biển và thường xuyên liên lạc với nhau qua hai phương tiện truyền thông hữu hiệu nhất .
Trước hết , NET25 là một diễn đàn điện tử nơi đó có khoảng 100 cựu SVSQ Khóa 25 và gia đình trao đổi hàng ngày những mẫu chuyện vui buồn , những kỷ niệm khó quên và tất cả những gì có thể chia sẻ được . Kinh nghiệm cho thấy rằng egroups NET25 đem lại nhiều niềm vui và nụ cười , đồng thời là phương tiện truyền thông nhanh nhất để loan báo những tin khẩn cấp như trường hợp cứu trợ bạn bè ở xa khi gặp hoàn cảnh nan giải cần giúp đỡ cấp kỳ .
Ðặc san NAM QUAN được xuất bản và phát hành mỗi năm một số vào ngày kỷ niệm khóa 25 ra trường, theo khổ cở và hình thức như Ðặc San Ða Hiệu của Tổng HộI Cựu Sinh Viên Sĩ Quan TVBQGVN nhưng Nam Quan chỉ mang tính cách gia đình thân mật .
Nam Quan số 1 đến số 5 được thực hiện và phát hành tại Bắc Cali do bạn Hồ Ngọc Hiệp làm chủ bút với sự đóng góp bài vở của K25 toàn thế giới .
Nam Quan số 6 phát hành tại Sydney , 7 SVSQ Khóa 25 và gia đình tại Úc Châu đảm trách với Cao Văn Thi làm chủ bút .
Nam Quan số 7 phát hành tại Houston Texas bạn Nguyễn Anh Dũng và Nguyễn Ðông Mai phụ trách .
Nam Quan số 8 phát hành tại San Jose Cali , vẫn do bạn Nguyễn Anh Dũng và Nguyễn Ðông Mai chăm sóc .
Nam Quan số 9 và 10 phát hành tại San Jose , bạn Cao Văn Hải và Bùi Văn Chiến phụ trách .
Nam Quan số 11 và 12 phát hành tại Houston Texas , bạn Văn Quý Mạnh và Nguyễn Ðông Mai phụ trách .
Nam Quan số 13 vẫn do Houston Texas phát hành nhưng chăm sóc bởi bạn Nguyễn Xuân Thắng .
Nam Quan số 14 do ê kíp Texas Nguyễn Tấn Hiệp phụ trách nhưng do Hồ Ngọc Hiệp và các bạn Bắc Cali phát hành nhân dịp Tết Quý Mão 2013 , kỷ niệm 45 năm tình bạn khóa 25 .
Kinh nghiệm cho thấy Ðặc San Nam Quan đã và đang thắt chặt mối tình thân của toàn thể Khóa 25 , cho tất cả những bạn chưa có phương tiện internet .
Một phương tiện khác Khóa 25 đã và đang thực hiện để chứng tỏ tình gia đình là Quỹ Xã Hội K25 .Quỹ này do sự đóng góp tuỳ khả năng và tùy tâm của mọi thành viên K25 . Mục đích của quỹ này là để cấp học bổng trung học và đại học cho con em của các bạn bè khóa 25 thiếu phương tiện tại quê nhà và các sự hổ trợ tài chánh cho gia đình những bạn gặp hoàn cảnh khó khăn nan giải . Quỹ này cũng đã và đang là nguồn tài chánh để chu cấp chi phí hàng tháng đủ nuôi sống hai Thương Phế Binh K25 là bạn PHAN THẾ DUYỆT và TRƯƠNG MINH TÂN từ đầu thập niên 1980 cho đến nay . Ban Xã Hội tại Việt Nam thường xuyên thăm viếng và điện thoại thăm hỏi hai bạn Duyệt , Tân và các bạn bè có người trong gia đình đau yếu hoặc từ trần . Chuyến thăm viếng và cứu trợ gia đình các Cựu SVSQ nạn nhân bão lụt miền Trung không phân biệt khóa của Ban Xã Hội K25 thờI gian trước là một thành quả của Quỹ Xã Hội K25 và là niềm vinh dự cho cả khóa .
Trên phương diện nghệ thuật , khóa 25 hãnh diện với tác phẩm video Khóa 25 - 30 năm nhìn lại , một video dài hơn 120 phút do Cựu SVSQ H À THAM và một số bạn bè K25 Nam Cali thực hiện nhân dịp kỷ niệm 30 năm nhập trường của khóa 25 . Video trình chiếu hình ảnh của SVSQ K25 và gia đình trong Trường và hiện tại . Bạn HÀ THAM cũng đã thực hiện việc chuyển Sách Lưu Niệm Khóa 25 sang dạng dĩa CD đọc trên máy computer .
Cứ hai năm một lần vào những dịp Ðại Hội do Tổng Hội Cựu SVSQ TVBQGVN tổ chức , Khóa 25 cũng tổ chức họp khóa để bạn bè và gia đìnhcó dịp gặp gỡ và sinh hoạt khóa.
Tổ chức của Khóa 25 hiện có Ban Ðại Diện Khóa tại Việt Nam và Hải Ngoại , nhiệm kỳ là hai năm . Tại mỗi vùng có Ban Ðại Diện Vùng . Riêng tại California có Ban Ðại Diện của Bắc và Nam Cali . Nhờ có các Ban Ðại Diện mà những công việc của Khóa được đôn đốc và thực hiện tốt đẹp .
Ước mong tình tự Khóa 25 sẽ mãi mãi tồn tại . Cũng ước mong tinh thần phục vụ đồng bào và nhân quần xã hội của Khóa 25 không những luôn thăng tiến mà còn lưu truyền xuống thế hệ con em .
Đỗ Ngọc Châu thực hiện
Ở cuối thập niên 60, những thanh niên trong lứa tuổi chúng tôi đều là những thư sinh ngày ngày cắp sách đến trường lo chuyện học hành, thi cử. Có lẽ không mấy ai có ý tưởng rằng mình sẽ chọn con đường binh nghiệp cho tương lai. Nào ngờ hoàn cảnh và định mệnh đã xui khiến cho chúng tôi gặp gỡ nhau trên con đường binh nghiệp, mặc dù con đường này đầy chông gai và đã không được trọn vẹn!
Cuộc tấn công vào thành phố của cộng quân trong những ngày Tết Mậu Thân (1968) đã làm thay đổi rất nhiều cuộc đời. Thảm họa thật là khủng khiếp, nhà cháy, người chết nằm phơi dưới nắng cho ruồi nhặng bâu, mùi thuốc súng khét lẹt ... Chúng tôi đã trưởng thành sau cái Tết tang thương ấy!
Xưa ta dáng dấp thư sinh,
Ðâu nào nghĩ đến việc binh có ngày.
Yên vui ngày lại qua ngày,
Ðâu ngờ giặc đỏ xéo giày quê hương.
Bao nhiêu đau khổ đoạn trường,
Bao nhiêu oan trái nhiễu nhương dân lành.
Xuân về giữa buổi chiến tranh,
Cửa nhà tan nát sao đành nhìn thôi.
Bút nghiên xếp lại cho đời,
Nhập Trường Võ Bị nên người tài danh.
Sao cho đáng mặt hùng anh,
Sao cho tên tuổi lưu danh với đời.
Năm ấy, có hơn năm ngàn thanh niên trong lứa tuổi từ 18 đến 22, từ ải địa đầu Bến Hải cho đến mũi Cà Mau, tất cả đều cùng chung một chí hướng, một hoài bảo, cùng nộp đơn dự thi vào Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử của Trường Võ Bị có một số thí sinh dự thi đông đảo đến như vậy.
"Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung."
Hai câu thơ của bà Ðoàn Thị Ðiểm đã diễn tả được bối cảnh lịch sử và tâm trạng của chúng tôi trong lúc ấy.
Hôm đi thi, có mấy ông Sinh Viên mặc quân phục rất đẹp nói chuyện sơ về Trường Võ Bị nghe sướng mê tơi. Này nhé, Trường Võ Bị là một trường đại học quân sự số một của Ðông Nam Á. Trường tọa lạc trên một khu đồi núi rất đẹp ở Ðà Lạt, một thành phố của tình yêu và du khách, nơi có các cô gái má đỏ hây hây, trong dáng áo dài thướt tha đi dạo bên bờ Hồ Xuân Hương đẹp như trong tiểu thuyết. Ðược lãnh lương mỗi tháng, và nhất là khi ra trường thì được làm Thiếu Úy và một năm sau là lên Trung Úy ngay.
Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ làm cho tôi háo hức. Thế thì còn gì bằng, đi trọ học bốn năm không những không phải trả tiền, mà còn được lãnh lương rồi sau khi tốt nghiệp lại được làm quan nữa chứ! Thế cho nên sau khi trúng tuyển, tôi đứng ngồi không yên, chỉ mong đến ngày trình diện để được đưa lên Ðà Lạt "trọ học".
Chiếc máy bay quân sự đưa chúng tôi đến phi trường Cam Ly. Nhìn quanh, tôi thấy đồi núi chập chùng, chỗ nào cũng đầy hoa, cây lá xanh mướt, không khí thì mát lạnh và trong lành. Tôi hít một hơi dài như muốn thu cả Ðà Lạt vào trong phổi. Ðà Lạt và tôi hôm nay là một.
Chúng tôi được đưa vào Trại Mát để chờ các bạn khác chưa trình diện, cũng để được khám sức khoẻ và điền giấy tờ cá nhân. Những ngày ở Trại Mát chán phèo, nằm giường hai từng, đêm lạnh phải quấn mình vào chiếc chăn có mùi ẩm mốc, nên cũng rủa thầm những thằng trình diện trễ làm cả đám phải nằm đây chờ. Sau cùng thì hơn 260 Tân Khóa Sinh đã trình diện đủ và chuẩn bị nhập trường.
Tôi còn nhớ mãi cái cảm giác đầu tiên khi nhìn thấy cổng Trường Võ Bị. Cổng trường có tên là Cổng Nam Quan, với lối kiến trúc mới như hai cánh tay giang rộng ra để chào đón chúng tôi. Chung quanh là những đồi thông xanh ngát, với những con đường đất đỏ vòng quanh rất đẹp.
Ra đón chúng tôi trước cổng là một hàng Sinh Viên Cán Bộ mặc quân phục kaki vàng, đeo găng tay trắng, trên đầu đội cái nón nhựa bóng loáng che gần nửa mặt trông rất là nghiêm trọng. Trống kèn dồn dập và chúng tôi thì nhốn nháo, ồn ào như cái chợ vỡ. Mỗi đứa chúng tôi được phát một cái bảng tên để đeo vào cổ, mà ông Sinh Viên Cán Bộ bảo là để dễ nhận diện sau khi "bước qua Cổng Nam Quan".
Một lúc sau có một ông đen sì, to lớn được giới thiệu là Sinh Viên Sĩ Quan Cán Bộ Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn Tân Khóa Sinh, bước lên cái bục gỗ sơn màu xanh lá cây có vẽ một vòng tròn trắng với số 25 ở giữa. Cái đám chúng tôi vẫn cứ nhốn nháo, ồn ào, nên tôi chỉ nghe loáng thoáng ông đen sì nói là rất "hãnh diện" được đón tiếp chúng tôi, những người "con yêu của Tổ Quốc" và những "nhà lãnh đạo tương lai" của quân đội...
Sau này tôi mới biết công dụng của cái bảng tên trên cổ ấy! Tôi cứ thắc mắc không hiểu sao mỗi lần nói đến câu "bước qua Cổng Nam Quan", các ông cán bộ lại làm ra vẻ rất quan trọng, cứ làm như chúng tôi là những cô dâu sắp "bước vào nhà chồng" không bằng. Nửa giờ sau thì nỗi thắc mắc của tôi đã được trả lời một cách rất là "thỏa đáng"!
Nam Quan đây cổng trường tôi,
Hiên ngang giang cánh tay mời khoá sinh.
Thoáng như có dáng oai linh,
Hồn thiêng sông núi ẩn hình đâu đây.
Xếp hàng trình diện cho ngay,
Trống kèn chào đón hăng say lòng người.
Nhìn quanh cây cỏ xanh tươi,
Sinh viên cán bộ đón mời trang nghiêm.
Trong văn chương của Trung Hoa, nếu tôi nhớ không lầm thì ngày xưa có chuyện ông Tô Ðông Pha một hôm chống gậy đi dạo trong rừng, chợt nghe thấy tiếng cọp rống rất lớn, quá sợ hãi nên làm rơi cây gậy và ruột gan thì rối bét cả lên, bởi thế mới làm ra hai câu thơ để đời:
"Hốt văn Hà Đông sư tử hống
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên"
Ngày xưa có nghe các cụ bảo đó không phải là cọp rống mà là tiếng rống của bà Tô, thế cho nên câu "Sư Tử Hà Ðông" là để chỉ người vợ dữ. Nghe thế thì chỉ biết thế, vì ngày ấy tôi còn nhỏ, chưa có “dzợ”, và cũng chưa từng nghe cọp rống bao giờ. Cho đến ngày nhập trường hôm ấy và suốt cả năm thứ nhất, các tiếng rống cuả SVSQ cán bộ lúc nào cũng lùng bùng trong lỗ tai, nhất là những tiếng rống ngay sau khi "bước qua Cổng Nam Quan"!
Trước khi đi trình diện, chúng tôi đã được căn dặn rằng không cần mang nhiều đồ đạc cá nhân vì nhà trường sẽ cung cấp đầy đủ. Thế mà cũng có những tên tay xách nách mang hai ba cái va li đầy ắp. Chỉ chừng nửa tiếng sau thôi là trên sân cỏ Trung Ðoàn đã như một bãi chiến trường. Va li vung vãi mỗi nơi một cái. Ðồ đạc cá nhân và quần áo bay tứ tung. Thân người quần áo tả tơi đầy bùn đất nằm ngất xỉu la liệt đủ kiểu trên sân cỏ, dưới rãnh nước, nơi góc tường, trong vũng bùn ...
À! thì ra cái bảng tên trên cổ là để các cán bộ đi "nhận diện" và "thu nhặt" đàn em cuả mình một cách dễ dàng đấy thôi! Bấy giờ thì tôi đã hiểu rõ cái ý nghiã của câu "bước qua Cổng Nam Quan". Nhưng đây mới chỉ là phút thử sức, những giây phút đầu tiên cuả "Tám Tuần Sơ Khởi"!!!
Bỗng nghe tiếng rống vang rền,
Chim teo rút lại, bi lên cổ nằm.
Người đâu mặt mũi hầm hầm,
Tiếng như hổ rống, ầm ầm như voi,
To như sét nổ ngang trời,
Lùng bùng lỗ nhĩ rối bời ruột gan.
Cắm đầu chạy dọc chạy ngang,
Bò, lê, lăn, lộn ngổn ngang sân cờ.
Vũng bùn "nhúng dấm", "lăn bơ",
Thân người ngất xỉu nằm trơ giữa trời.
Trong cơn hỗn loạn tơi bời,
Áo thư sinh đã tả tơi lúc nào.
Ðứng nghiêm, ưỡn ngực, tay chào,
Bữa cơm buổi sáng đã trào tuôn ra.
Quay cuồng vạn cánh sao sa,
Thân ta đổ xuống như là gạch rơi.
Tưởng như lở đất sập trời,
Tưởng như ta đã xong đời từ đây.
Ta đang như tỉnh như say,
Bỗng đâu nước lạnh đổ ngay lên người.
Mơ màng ngước mắt nhìn trời,
Tiếng kèn dục dã chào tôi nhập trường.
Chúng tôi được chia đều ra cho tám Đại Đội từ A đến H. Kể từ cuối năm thứ hai của khoá 25 về sau thì trường đổi chương trình huấn luyện thành Liên Quân Chủng, và có thêm hai Đại Đội I và K cho Hải và Không Quân ở "ké" Đại Đội A và F, nhưng hai năm đầu vẫn chỉ có tám đại đội bộ binh mà thôi. Ðến cuối năm thứ hai thì chia ngành và được huấn luyện riêng.
Khu doanh trại dành cho Sinh Viên nằm trên một ngọn đồi lớn gồm bốn dẫy "ba-ti-măng" ba từng, đứng dọc theo hai bên sân cỏ Trung Ðoàn. Mỗi "ba-ti-măng" là hai Ðại Ðội. Cuối doanh trại là Phạn Xá còn gọi là "nhà ăn" hay "nhà bàn". Giữa cổng Nam Quan và doanh trại là khu Văn Hóa và Bộ Chỉ Huy. Tổng số Sinh Viên bốn khóa trong trường lúc nào cũng khoảng trên dưới một ngàn người, và khóa em út lúc nào cũng là khóa cực nhất, với "nhiệm vụ giữ gìn vệ sinh" hành lang, phòng tắm và phòng vệ sinh.
Tuy cùng trường nhưng mỗi đại đội lại có một sắc thái riêng. Ðại đội C là đại đội "lè phè", G là "hắc ám" và A vừa là "bột NAP" vừa là kiểu mẫu của trường, vì từ ngoài đi vào là gặp Đại Đội A trước nhất, và "kỹ thuật" dùng bột NAP để đánh bóng sàn gạch bông thì Đại Đội A đứng vào bậc nhất.
Khi tôi đang học năm thứ hai thì lần đầu tiên Trường Võ Bị bị Việt Cộng đột kích ngay trong đêm canh gác của Ðại Ðội G. Tuy chúng tôi hạ được một tên và đẩy lui được đám đặc công này, nhưng lại mất đi bạn Huỳnh Kim Quang là người ở cùng lầu ba với tôi ở Ðại Ðội G. Sau này khoá 25 dựng tượng bán thân của bạn trước Hội Quán Sinh Viên, và hội quán cũng được đổi tên là Hội Quán Huỳnh Kim Quang.
Trường Võ Bị có lẽ được xem là một "thắng cảnh" của Ðà Lạt, cho nên cứ vài tuần lại có một phái đoàn quan khách vào thăm, mà chỗ vào thăm thì luôn luôn là lầu một Ðại Ðội A! Tôi có cái "hân hạnh" là đã nếm đủ mùi: năm thứ nhất ở Ðại Ðội C, năm thứ hai ở Ðại Ðội G và hai năm cuối ở Ðại Ðội A, nhưng cũng may mắn là cả bốn năm đều "trụ trì" lầu ba nên cũng dễ thở.
Có lần vô tình nghe thấy một người đàn em năm thứ nhất cuả Ðại Ðội A than với bạn: "Ở nhà cha mẹ mình cứ tưởng mình đi học làm quan được ở nhà lầu sung sướng. Ổng Bả đâu biết ngoài chuyện học hành ra lúc nào mình cũng phải lau với chùi, không phải chỉ phòng mình ở mà còn ngoài hành lang và cầu tiêu, nhà tắm, như mấy đứa ở đợ. Còn cái phòng mình ở thì nay phái đoàn này tới dòm, mai quan khách kia tới ngó không khác gì cái sở thú!". Vào Trường Võ Bị chúng tôi được dạy lại tất cả từ cách mặc quần áo, đi đứng, xưng hô, chào hỏi, ăn uống. Ở đây chúng tôi sống theo thời khóa biểu, theo tiếng kèn và hai mùa chính là Ðông và Hè biểu lộ rõ bằng quân phục mùa Ðông và quân phục mùa Hè. Sạch sẽ và vuông vắn là một trong những quy luật bất thành văn của Trường Võ Bị, vì những điều luật này chẳng thấy ghi chép ở đâu cả, vậy mà hết khóa này đến khóa khác đều tuân theo triệt để. Nói về "vuông vắn" thì cái gì cũng vuông. Trong năm thứ nhất, muốn quẹo cũng phải quẹo thành một góc vuông. Ngồi vào bàn ăn thì thân mình và đùi phải làm thành một góc vuông, khi ăn cơm phải nâng bát cơm thẳng lên, rồi mới đưa vào miệng để làm thành một góc 90 độ. Suốt bốn năm trời, mỗi sáng làm giường thì các góc cạnh đều phải nắn vuốt cho thật vuông vắn. Quần áo, kể cả những đôi vớ và quần áo lót cũng phải xếp cho thật vuông vức như mấy cái bánh chưng rồi mới để vào tủ, vì tủ dù có cửa hẳn hoi nhưng không bao giờ được đóng lại. Còn giầy dép, phòng ốc lúc nào cũng phải sạch và bóng. Lần đầu tiên nhìn thấy đôi giầy bóng loáng cuả cán bộ tôi cứ tưởng là đồ giả!
Sáng ra là phải làm giường,
Lau sàn cho bóng như gương soi mày.
Chùi cho sạch mấy đôi giầy,
Áo quần thẳng nếp đôi giầy như gương.
Anh nào dở dở ương ương,
Hai chục hít đất là thường đấy thôi.
Vệ sinh sạch sẽ xong xuôi,
Ðã nghe tiếng gọi thúc thôi dưới cờ.
Nhanh nhanh đừng có chần chờ,
Tà tà, bê bối phải bò phải lăn.
Tám tuần như thể tám năm,
Sáng ra sạch sẽ, chiều bằm như tương.
Kỷ luật quân đội là kỷ luật tuyệt đối. Thế cho nên chúng tôi được huấn luyện ngay từ lúc đầu là phải tuân lệnh tuyệt đối, dù đó là lệnh "ăn chuối Võ Bị", vẫn phải "vui vẻ" mà thi hành. Chuối Ðà Lạt rất ngon, trái to có đốm nâu với hương vị ngọt ngào, nhưng "chuối Võ Bị" lại là loại nhỏ xiú màu xanh hoặc đỏ mà tiếng "bình dân" gọi là quả ớt và châm ngôn Võ Bị có câu:
Ớt nào là ớt chẳng cay?
Ăn chuối Võ Bị có ngày sưng môi!
Trong "Tám Tuần Sơ Khởi" thì chúng tôi bị phạt như cơm bữa. Những hình phạt ở đây hầu hết có tác dụng của việc huấn luyện thể chất như "nhảy xổm", "hít đất", "tấn công", "đi vịt", "bò", "lăn" ...
Những "hình phạt" đó làm chúng tôi ăn như hổ đói và thèm đồ ngọt vô cùng. Có những tên nổi tiếng "bú chim" vì chỉ cần 5 phút là "bú" hết một hộp sữa đặc hiệu con chim. Có tên lúc ngủ say mà miệng vẫn còn ngậm đầy kẹo. Tập nhiều, ăn nhiều nên chỉ vài tuần lễ mà thân hình đã vạm vỡ hẳn ra. Sau khi lên Sinh Viên tất cả đều được "đem lên bàn cân" để xem kết quả ra sao thì tên nào ít nhất cũng lên được 5 kí-lô mà nhiều thì trên 10 kí-lô.
Có những "hình phạt dã chiến" có kèm theo đồ "phụ tùng" và được đánh số như: dã chiến số 1 thì chỉ mang súng đạn, dã chiến số 2 thì có thêm ba-lô, ... hình như cho đến số 6 thì phải khiêng luôn cả cái nệm nữa thì phải?
Nhưng cái gì cũng có ngoại lệ! Tên nào "ba gai" hay cứng đầu quá thì cũng có cách làm cho mềm ra. Nếu đến số 6 vác cả nệm để chạy mà còn chưa chịu nghe lời, thì xuống đến số không nghiã là không có gì hết, chỉ có người và súng, cả súng dài lẫn súng ngắn!!!
Ðêm nay dã chiến số không,
Mình ta ôm súng tồng ngồng dưới trăng.
Làm cho tất cả cung Hằng,
Một bầy tiên nữ cắn răng nhịn cười.
Trăng đêm mờ tỏ thân người,
Sương đêm cỏ ướt đón mời thân ta.
Nghe chừng buốt lạnh thịt da,
Nghe chừng sắt thép cũng là hiện thân.
Gồng mình đứng vững như đồng,
Tồng ngồng ta đứng trời trồng trong đêm.
Ðêm nay có phải là đêm?
Trêu ta trăng chiếu ngay trên chỗ này.
Mai sau kể lại chuyện này,
Hỏi trăng có nhớ ngày này năm xưa?
Có những cảm giác mạnh khó quên thí dụ như lần đầu tiên bắn súng. Cái khẩu súng "Garant" nặng chình chịch, tiếng nổ chát chúa và sức giật hậu làm rêm cả vai. Lần đầu bắn bia thì cứ "gửi đạn cho đào", nghiã là bia thì không trầy trụa tí nào vì đạn thì cứ đi đường "mô" đường "tê" hết cả. Thế là lại "nhẩy xổm", "hít đất". Thực ra thì hai tay mỏi rời và chưa quen với cách xử dụng súng nên mới tệ như vậy. Bắn ngày đã dở ẹt, thế mà lại còn bắn đêm nữa thì đúng là "bù trất".
Hôm nay tập bắn bia đêm,
Dang chân nằm vững trên thềm đất đen.
Súng này nòng đã hướng lên,
Bia kia lại bị màn đêm lấp mờ.
Loay hoay chẳng biết đường rờ,
Bóp cò cho súng bắn bừa trong đêm.
Vài viên thì nhắm đã quen,
Theo đường đạn lửa vẽ trên sương mù.
Hàng bia khi tỏ khi mờ,
Như bầy ma quái vật vờ trong đêm.
Từng tràng đạn lửa vụt lên,
Xé không gian tiếng vang rền đạn bay.
Trong mùa quân sự thời Tân Khóa Sinh vì việc huấn luyện nào cũng nhắm vào thể chất nên người lúc nào cũng có vẻ mệt mỏi, thiếu ngủ. Có hôm sau một buổi sáng học chiến thuật khi thì tấn công lên đồi, lúc thì bò dưới dàn hỏa lực, ... chúng tôi được dừng lại để dùng cơm trưa và sau đó được nghỉ ngơi lấy sức trong mấy phút. Người thì mỏi tứ bề, bụng thì no, thông reo vi vu, gió thổi hiu hiu, và rồi mí mắt cứ từ từ sụp xuống lúc nào không hay. Sau này mới biết đây cũng là một bài học ( dù không có ghi trong chương trình huấn luyện ), là mai sau dắt lính đi hành quân thì đừng có bạ đâu ngủ đấy. Vừa mới học bài tấn công địch trong yếu tố bất ngờ xong là đã "gác cẳng lên súng ngáy khò khò" rồi!
Dừng chân tựa gốc Anh Ðào,
Trăm con chim mộng đưa vào cơn mơ.
Mây bay nhè nhẹ hững hờ,
Thông reo vi vút lời thơ êm đềm.
Dường như có lũ vành khuyên,
Xôn xao riú rít chân chuyền ngọn cây.
Nhẹ nhàng gió thổi hây hây,
Tưởng như đã đến chốn này Thiên Thai.
Chợt nghe tiếng rống bên tai,
"Anh này ngủ gật nằm dài ngáy to."
Thế là "nhẩy xổm", "lăn", "bò",
Thế là lại bị phạt cho tơi bời.
Phải chăng đây chuyện răn đời,
Cõi tiên dăm phút tơi bời tấm thân.
Ngày xưa Lưu, Nguyễn về trần,
Chắc là bị phạt nát bầm như tương!
Sau bốn tuần thì cán bộ đợt một bàn giao chúng tôi lại cho cán bộ đợt hai, vừa đi học bằng "rừng núi sình lầy" ở trường Biệt Ðộng Quân Dục Mỹ về. Khi huấn luyện khóa đàn em thì một nửa khóa đi học quân sự chuyên môn, nửa kia ở lại phụ trách phần huấn luyện, bốn tuần sau đó thì thay đổi. Nhìn cán bộ đợt hai thấy ông nào ông nấy mặt mũi xạm đen vì cháy nắng, làm chúng tôi đứa nào cũng ngán ngẩm không hiểu số phận mình sẽ ra sao?.
Nhưng "Tám Tuần Sơ Khởi" hay "Tám Tuần Huấn Nhục" cũng qua nhanh. Ðể đánh dấu cho sự trưởng thành và trước khi được đeo đôi "An-pha" đỏ lên vai, theo đúng truyền thống của Trường Võ Bị, chúng tôi phải "chinh phục Lâm Viên", đỉnh núi cao nhất của Ðà Lạt. Khoá 25 không leo đỉnh Lâm Viên, vì năm đó tình hình không cho phép nên chúng tôi leo Lapbe Nord để theo đúng truyền thống mà thôi. Phải đợi cho đến khi huấn luyện khoá 28 tôi mới được leo đỉnh Lâm Viên cùng với mấy chú đàn em này. Khi lên đến đỉnh núi, chúng tôi cho thả một trái khói đánh dấu sự thành công, thì dân chúng Ðà Lạt biết ngay rằng một khoá mới vừa vượt qua giai đoạn Tân Khoá Sinh và sửa soạn lên Sinh Viên.
Núi cao triền dốc lên cao,
Lâm Viên đỉnh núi lẫn vào trong mây.
Tân Khoá Sinh chí hăng say,
Dốc cao chi mấy lòng này chẳng nao.
Leo lên tuyệt đỉnh mù cao,
Lâm Viên mở rộng tay chào Khoá Sinh.
Sau buổi "chinh phục Lâm Viên" là lễ gắn Alpha.
Trong đêm đó chúng tôi được các Sinh Viên Cán Bộ đến tận phòng trao "Mũ Mão Cân Ðai", gồm có mũ "cát kết", đai lưng màu đỏ, thắt lưng đại lễ, cùng đôi găng tay trắng. Sau đó, sẽ đọc lời hứa tôn trọng lá cờ của Trung Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan, và bảo vệ Danh Dự cuả TVBQGVN, mà chúng tôi vẫn gọi một cách vắn tắt và thân yêu là Trường Mẹ. Từ đây chúng tôi mới được chấp nhận là Sinh Viên Sĩ Quan của khoá 25 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Tám tuần huấn nhục trôi qua,
Ðêm nay lễ gắn An-pha đây rồi.
Trong ta dạ cũng bồi hồi,
Toàn trường im lặng ngoài trời tối đen.
Lung linh ánh nến hiện lên,
Chập chờn thấp thoáng trên nền đá hoa.
Chân quỳ nhận lãnh An-pha,
Từ nay mới được xưng là "Sinh Viên."
Ðời sống cuả Sinh Viên Võ Bị có khi bị chi phối và ám ảnh rất nhiều bởi tiếng kèn. Có tên cho rằng người đáng sợ nhất trong trường là anh "lính kèn"! Kèn tập họp, kèn đi ngủ, kèn thức dậy. Tiếng kèn đánh thức còn có cái tên nôm na là "kèn chạy sáng", vì sáng nào cũng phải chạy tập thể thao. Mùa Hè thì còn được, chứ mùa Ðông thì tiếng kèn chạy sáng cứ như là tiếng kêu của ma quái, vì chỉ cái chuyện chui ra khỏi chăn đã khó, chứ nói chi đến cái chạy cả vài cây số trong sương lạnh. Biết rằng chạy sáng là một môn thể thao tốt vào bậc nhất, thế nhưng quấn chăn nằm ngủ nướng thêm nửa giờ, trong buổi sáng mùa Ðông mù sương của Ðà Lạt, thì có lẽ phải được xếp vào hàng "thượng hạng".
Chương trình huấn luyện của trường phải nói là rất nặng, vì bao gồm cả ba bộ môn Văn Hóa, Quân Sự và Thể Chất. Ngoài ra, tám đại đội phải thay phiên nhau đi gác mỗi đêm, nên nhiều khi xong phiên gác là phải trùm mền học thi cho ngày hôm sau!
Có tên đã than phiền một câu có tính chất hài hước như sau:
"Tao tưởng đi lính chỉ học bóp cò. Ðâu dè phải học bù đầu sứt trán. Cái ...cái ...cái thằng VC vào đây, tao chỉ lấy sách đập nó cũng chết, chứ ... chứ ... chứ cần gì phải bắn cho phí đạn!".
Mặt trời chưa tỉnh phương Ðông,
Rền vang đã tiếng kèn đồng trổi lên.
Phá tan giấc mộng êm đềm,
Nhớ ơi là nhớ cái mền ấm êm.
Xỏ quần mặc áo nhanh lên,
Mang giầy vội vã chạy liền xuống sân.
Hành lang tiếng chạy rầm rầm,
Uà ra đường nhựa nhanh chân xếp hàng.
Bắt đầu chân chạy nhịp nhàng,
Sinh viên mỗi sáng rền vang chạy đều.
Vào, ra hơi thở dập dìu,
Một, hai chân chạy cho đều một, hai,
Một vòng Lê Lợi một, hai,
Trung Ðoàn sân cỏ một, hai chạy vòng.
Xa xa trời đã ửng hồng,
Muôn ngàn tia sáng rạng đông đón chào.
Ðạo Hàm, Lưu Chất là chi?
Tích Phân, Ðiện Tử là gì đó anh?
Kinh Tế, Quản Trị thực hành,
Chỉ Huy, Lãnh Ðạo học hành cho thông.
Này môn Kiến Tạo nhớ không?
Này môn sinh ngữ Anh văn sớm chiều.
Thể thao, võ nghệ cho đều,
Luyện thân, luyện trí sớm chiều đừng quên.
Hôm nay sau phiên gác đêm,
Chui vào "lô cốt" trùm mền học thi.
Nhọc nhằn mưa nắng ngại chi,
Ngày nay học tập mai thì thành danh.
Ðã mang dòng máu hùng anh,
Là trai Ða Hiệu rạng danh với đời.
Mỗi ngày, sau bữa cơm chiều là có hai giờ tự do từ 6 đến 8 giờ, sau đó là giờ “tự học” và 10 giờ là “kèn tắt đèn đi ngủ”. Trong hai giờ tự do này thì từng nhóm rủ nhau đi Câu Lạc Bộ ăn uống, ra Hội Quán Sinh Viên thụt “bi-da”, vào Thư Viện đọc sách, xuống gầm Hội Quán uống cà-phê và nghe nhạc, ban văn nghệ kéo nhau đi tập dượt, các tay võ sĩ rủ nhau đi “đấm đá”, dân thể thao thì chạy xuống sân sau để chơi bóng ... Còn một nhóm nữa thì mặt mũi cau có, buồn so vì phải sửa soạn đi gác đêm! Trong trường có nhiều loại bóng để chơi như bóng tròn, bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền và nhất là môn “bóng mát”. Môn bóng chuyền còn được gọi là “vô-lây mì” vì thông thường các trận đấu đều có đánh cá, từ vài gói cho đến vài thùng mì! Nhóm “bóng mát” là đông nhất, nhóm này quy tụ tất cả những tay “sợ nắng”, “sợ nước”, “lè phè”, không có “nghề”, hoặc không thích làm hội viên chính thức của một nhóm nào cả.
Cuối tuần, nhất là thứ Bảy, Cổng Nam Quan trở nên một nơi náo nhiệt như ngày hội, vì đây là ngày "thăm nuôi". Trong khu doanh trại, những tiếng gọi phát ra từ loa phóng thanh cứ chốc chốc lại vang lên, và các tên may mắn được “xướng danh” cũng vội vàng rảo bước ra Cổng Nam Quan để gặp người thân.
Có “bồ” vào thăm thì vui như Tết, nhưng cuối ngày thì mặt mũi cứ thờ thẫn như người mất hồn. Có thân nhân, gia đình vào “thăm nuôi”, lúc trở về phòng thì mặt mũi hớn hở, tay xách nách mang, quà cáp đầy ắp và tên bạn cùng phòng cũng cảm thấy vui lây vì sẽ được ... ăn ké.
Bên ngoài Cổng Nam Quan, ở bên phải có một Câu Lạc Bộ bán đầy đủ thức ăn như những tiệm ăn ngoài phố do nhà thầu phụ trách. Bên trái là Hội Quán Sinh Viên (sau này đổi tên là Hội Quán Huỳnh Kim Quang), có mấy bộ sa-lông và bàn ghế, để ngồi nói chuyện và nghe hát, do Ban Văn Nghệ Sinh Viên Sĩ Quan phụ trách. Gần bên Hội Quán, ở dưới thung lũng là một khu vườn đầy hoa và cây cối xanh tươi do Sinh Viên góp sức làm nên. Khu vườn này có nhiều tên gọi khác nhau như: "Vườn Bích Câu", "Vườn Ðịa Ðàng", "Vườn Con Thỏ", "Vườn Không Tên" và có lẽ còn nhiều nữa mà tôi không nhớ hết.
Chủ nhật là ngày Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) được xuất trại đi phố. Khi đó thì trường vắng hoe, và ngoài phố thì tràn ngập những chàng trai Alpha Đỏ trong bộ "vét" (mùa Ðông hay mùa Hè) sánh đôi cùng người yêu đi dạo phố. Gái Ðà Lạt, trai Võ Bị, và những thiên tình sử đủ cả ngọt bùi cay đắng, một thời đã được lưu truyền qua thơ văn trong tập san Ða Hiệu của trường. Hình ảnh một chàng Alpha Đỏ bên cạnh người yêu, đi dạo bên bờ Hồ Xuân Hương, là một trong những hình ảnh thơ mộng đặc sắc của xứ hoa Anh Ðào, nơi có những địa danh thơ mộng như Phố Hòa Bình, Hồ Xuân Hương, Hồ Than Thở, Rừng Ái Ân, Ðường Tình Ái, Suối Vàng, và Thác Cam Ly...
Mấy môn bóng rổ, bóng bàn,
Bóng chuyền, bóng đá chẳng màng bóng chi.
Bóng nào cũng tốn thùng mì,
Ngồi đây bóng mát ngủ khì khoẻ thân!
Cuối tuần trực Cổng Nam Quan,
Thân nhân thăm viếng rộn ràng thêm vui.
Ðây kia nhộn nhịp bóng người,
Xôn xao tiếng nhạc tiếng cười dòn tan.
Vườn hoa dạo bước thênh thang,
Chuyện xưa Lưu Nguyễn địa đàng là đây.
Ðến chiều là lúc chia tay,
Phút vui rồi cũng cuối ngày là đây.
Chàng ngoảnh lại và chàng chỉ thấy,
Thấy nàng đi ngúng nguẩy đôi mông.
Nàng về gối nệm chăn bông,
Chàng về phòng vắng mênh mông nhớ người.
Thả hồn theo ánh trăng soi,
Lách qua song cửa đến nơi khuê phòng.
Nghiêng soi xuống gối cùng chăn,
Hôn lên mái tóc hôn thầm lên môi.
Bóng trăng ngả xuống bên người,
Quyện trong hơi ấm cả trời tương tư.
Ðến Hè, sau khi thụ huấn chương trình quân sự, các SVSQ được về thăm gia đình hai tuần lễ. Trong mùa quân sự, ngoài phần quân sự căn bản, hai đại đội Không Quân và Hải Quân được đưa về Nha Trang để huấn luyện theo ngành, còn bộ binh thì được đi học nhảy dù.
Ở trung tâm huấn luyện nhảy dù có một cái chòi rất cao (có lẽ cao bằng cái nhà lầu 3 hay 4 từng), để tập thế nhảy ra khỏi cửa máy bay. Cái chòi này có tên là "chuồng cu", không hiểu nó có nghiã là chuồng của chim cu, hay là tại vì nhiều người vừa mới leo lên trên đó là đã "teo" rồi nên mới có tên như vậy!???
Ai về qua trại nhẩy dù,
Có còn nhớ cái chuồng cu năm nào.
Ai về cho gửi lời chào,
Áo hoa mũ đỏ năm nào còn đây.
Ai về hỏi gió cùng mây,
Không gian có nhớ gót giầy viễn du?
Trời cao nở cánh hoa dù,
Thiên thần mũ đỏ xuống từ thinh không.
Bên ngoài Cổng Nam Quan có một vị trí phòng thủ chiến lược rất quan trọng là Ðồi Bắc. Trên đồi có một đơn vị cơ hữu phòng thủ của trường trấn đóng. Ðứng trên "lô cốt" trên đỉnh đồi, thì sẽ nhìn thấy rõ ràng địa thế của trường cùng các ấp Thượng và Kinh ở rải rác chung quanh. Cứ mỗi tháng một lần chúng tôi lại thay nhau cử một trung đội lên gác trên ngọn đồi này. Trong suốt bốn năm trong trường có lẽ tôi chỉ gác trên ngọn đồi này không quá hai lần, nhưng vẫn nhớ cái cảm giác đầu tiên được nhìn một cách bao quát địa thế của trường, và thấu hiểu được tầm mức quan trọng của hai chữ "cao địa" trong các bài học quân sự.
Tay ôm khẩu súng đen ngòm,
Trợn trừng đôi mắt xuyên dòm đêm thâu.
Sương rơi lạnh buốt trên đầu,
Thông reo điệu nhạc u sầu ru đêm.
Dưới kia bạn đã ngủ yên,
Ta canh gác giặc trên triền dốc cao.
Trời đen không một vì sao,
Thoáng xa đom đóm bay vào sương đêm.
Bản xa thấp thoáng ánh đèn,
Thoảng nghe trong gió tiếng đêm thở dài.
Thoáng chốc mà bốn năm đã trôi qua, chỉ còn vài ngày nữa là đã đến ngày mãn khóa.
Một trong những nghi lễ truyền thống của ngày tốt nghiệp là Ðêm Truy Ðiệu. Có lẽ chúng tôi khó mà quên được những cảm giác đặc biệt của đêm hôm ấy.
"Lúc bấy giờ, bên con lạch nhỏ Ðồng Nai, trong đám rừng sâu Trung Việt,
phút chốc liệt vị đã trở nên người thiên cổ.
Sự nghiệp đang công theo đuổi, thôi cũng đành gián đoạn nửa đường..."
Câu mở đầu của bài truy điệu đã nói lên được những đau xót, ngắn ngủi nhưng hào hùng của người chiến sĩ, như hai câu thơ cổ được diễn Nôm trong Chinh Phụ Ngâm của bà Ðoàn Thị Ðiểm:
"Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa Hồng Mao"
Trong ánh lửa bập bùng trước Ðài Tử Sĩ, chúng tôi xin nghiêng mình trước anh linh các Niên Trưởng đã hy sinh cho Tổ Quốc một lần nữa, rồi mai kia sẽ chia nhau đi bốn phương trời xông pha trận mạc, mong đem lại an vui, thanh bình cho Tổ Quốc.
Màn đêm phủ xuống âm u,
Lửa đài Tử Sĩ lù mù tỏa ra.
Bỗng nghe rờn rợn làn da,
Anh linh Niên Trưởng hồn ma hiện về.
Chứng minh cho một lời thề,
Chúng tôi một dạ chẳng hề nao nung.
Noi gương bao đấng anh hùng,
Hiến thân báo quốc chẳng ngần ngại chi.
Sa trường da ngựa có khi,
Anh hùng đâu có ngại khi chẳng về.
Nghe trong gió thoảng bốn bề,
Hồn linh chứng nhận lời thề đêm nay.
Ngày hôm sau Ðêm Truy Ðiệu là Lễ Mãn Khoá. Ðây là một buổi lễ rất trang trọng, thường được chủ tọa bởi Tổng Thống hoặc Thủ Tướng, và có mặt rất nhiều tướng lãnh cùng các cựu thủ khoa của khoá đàn anh.
Người thủ khoa, đại diện khoá bắn bốn mũi tên đi bốn phương trời như bốn câu thơ trong bài Chí Làm Trai của Nguyễn Công Trứ:
"Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc,
Nợ tang bồng vay trả, trả vay.
Chí làm trai Nam Bắc Ðông Tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể."
Hôm nay là ngày "Mai Nở", hay là ngày "Xuống Núi" của Khóa 25 - Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Bốn năm chia xẻ ngọt bùi thoáng qua như giấc mộng. Kỷ niệm còn lại đây chỉ là những dòng chữ và những hình ảnh trong quyển sách lưu niệm của chúng tôi.
Bốn năm trước đây chúng tôi "bước qua Cổng Nam Quan" để nhập trường, giờ đây chúng tôi cũng sẽ bước qua Cổng Nam Quan để ra trường, với lời từ giã không biết đến bao giờ mới có dịp trở về thăm Trường Mẹ!
Bốn năm văn võ dùi mài,
Bốn năm tôi luyện chí trai kiêu hùng.
Hôm nay hoa cỏ tưng bừng,
Thư sinh năm ấy anh hùng tương lai.
Trên vai lấp lánh hoa mai,
Bốn phương mai sẽ tài trai vẫy vùng.
Mai kia vạn nẻo đường trần,
Gặp nhau hãy nhớ tình thân năm nào.
Ngước lên ta vẫy tay chào,
Giã từ Ðà Lạt, Anh Ðào, Xuân Hương.
Nam Quan thôi nhé cổng trường,
Trăm năm vẫn nhớ vẫn thương chốn này.
Chúng tôi ra trường vào tháng 12 năm 1972.
Đây là thời gian cộng quân mở chiến dịch "chiếm đất giành dân", hay “cắm cờ dành đất” nên đơn vị tôi không ở chỗ nào quá hai tuần.
Có những lần vừa bước xuống khỏi trực thăng là đã được lệnh chuẩn bị lên một chuyến trực thăng khác để đi tiếp.
Nhiệm vụ là đi nhổ cờ VC để cắm cờ Quốc Gia, và giải toả áp lực cuả những vùng bị VC tấn công, đóng "chốt", hoặc có ý định xâm chiếm.
Từ khi giáp mặt chiến trường,
Vào sinh ra tử chuyện thường sá chi.
Ðồng Soài, Bến Cát, Củ Chi,
Bình Long, An Lộc từng ghi dấu giầy.
Máu đào đã nhỏ nơi đây,
Vết thương năm đó nhớ ngày viễn chinh.
Chỉ vài tháng sau thì chiến trường khắp nơi đã trở nên sôi động trở lại.
Chưa đầy sáu tháng kể từ ngày ra trường mà bạn bè tôi nhiều người đã mất đi một phần thân thể, hoặc đã ngã xuống trên những trận chiến ác liệt ở những nơi xa xăm nào đó, mà địa danh vẫn còn quá xa lạ với người dân thành phố!
Doanh, Ðồng, Giang, Bảo than ôi,
Anh hùng vắn số tiếc đời xuân xanh.
Những mong công đạt danh thành,
Nửa đường gẫy cánh lìa cành chia xa.
Hương lòng một nén gọi là,
Nhớ người bạn cũ đã xa cõi trần.
Cuối tháng Tư năm 1975, miền Nam Việt Nam rơi vào tay CS. Chúng tôi một số ít may mắn thoát ra nước ngoài tránh được cảnh tù tội, còn lại đa số đã phải sống đời đày ải trong các trại "cải tạo" ở những nơi rừng thiêng nước độc!
Thấm thoát thế mà đã hơn 34 năm trôi qua kể từ ngày ra trường, K25 bây giờ tản mát khắp nơi trên thế giới, những chàng Alpha Đỏ ngày xưa giờ đã và đang vun xới cho thế hệ tiếp nối.
Ngày nay lại có dịp ”gặp nhau” ở trên "Nét", hoặc nếu có ở gần thì thỉnh thoảng cũng họp nhau lại để cùng nhau nhớ về Trường Mẹ, Cổng Nam Quan, Nhà Vòm, Phạn Xá...để nhắc lại chuyện Võ Bị ngày xưa, mà chuyện Võ Bị thì còn dài lắm, và có lẽ cả đời cũng không bao giờ phai nhạt...
Buồn vui bỏ lại nơi này,
Lên tàu vượt biển một ngày ra đi.
Lênh đênh biển sóng ầm ì,
Chân trời xa tắp thấy gì tương lai.
Dừng chân xin chọn nơi đây,
Dung thân đất mới vun bầy tương lai.
Bên ta, em nhẹ gót hài,
Cùng nhau đi trọn cuộc đời từ đây.
Ðôi khi bờ biển nơi này,
Nhìn con sóng vỗ nhớ ngày xa xưa.
Biết bao thương nhớ cho vừa,
Khi nao có dịp sẽ đưa em về.
Ði thăm vạn nẻo đường quê,
Ðến thăm Trường Mẹ lối về năm xưa.
Cùng nhau đi dạo dưới mưa,
Cùng nhau hát những lời thơ tuyệt vời.
Cùng em ta nhủ đôi lời,
Còn đây nỗi nhớ một đời không quên.
(Hình ảnh trong bài được cung cấp bởi các bạn cùng khoá Võ Bị)
California, Memorial Day,
Tháng 5 Năm 2007
Bùi Phạm Thành