Thời kỳ dựng nước (Thời kì Hùng vương 2900 TCN)
- Thời kì này các kinh nghiệm phòng bệnh và chữa bệnh được truyền miệng.Ông cha ta đã biết dùng gừng, riềng,tỏi… để làm thức ăn, gia vị chữa bệnh
- Thời kỳ đấu tranh giành độc lập lần thứ nhất năm 111TCN-938 SCN
Gần 1000 năm bị phong kiến phương bắc đô hộ,nền y học dân tộc vẫn được phát huy với việc sử dụng các vị thuốc trong nước, đồng thời tiếp thu nền y học Trung Quốc giao lưu sang nước ta. Từ thời kì này trở đi, nền y học cổ truyền nước ta bao gồm các kinh nghiệm phòng bệnh, chữa bệnh của dân tộc và những kn của YHCT Trung Quốc áp dụng sáng tạo ở nước ta.
- Thời kỳ độc lập giữa các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ( 939-1406
Không thầy tài liệu ghi chép về tình hình y học dưới thời Ngô, Đinh, Lê chỉ còn lại lịch sử y học dưới thời Lý, Trần, Hồ
· Thời nhà Lý (1010- 1225): ở triều đình có Ty thái y chăm lo việc bảo vệ sức khoẻ cho vua và quan lại.Trong nhân dân có thầy thuốc chuyên chữa bệnh và phát triển các nơi trồng thuốc mà di tích còn lại như là Đại Yên nay thuộc quận Ba đình- hà nội.
· Thời nhà Trần 1225-1400 : ở triều đình có viện thái y, triều đình có chủ trương phát thuốc cho dân trong các vùng có dịch, tổ chức trồng thuốc dùng cho quân đội và nhân dân. Thời kỳ này đã xuất hiện 1 số danh y và 1 số tác phẩm y học trong đó nổi tiếng nhất là danh Y Tuệ Tĩnh.
· Thời nhà Hồ 1440- 1407: Nhà hồ đẩy mạnh cải cách xã hội, mở rộng các cơ sở chữa bệnh cho dân và đã sử dụng châm cứu để chữa bệnh.
- Thời kỳ đấu tranh giành độc lập lần thứ 2 năm 1407-1427
Nước ta bị phong kiến nhà Minh – Trung Quốc xâm lược.Chúng thu các tài liệu thuốc quý và bắt các danh y Việt Nam về Trung Quốc phục vụ. Thời kì này y học không phát triển.
- Thời kỳ độc lập dưới các triều đại Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn (1428-1876)
- Thời nhà hậu Lê (1428-1789): có nhiều chủ trương tiến bộ trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân.Bộ luật Hồng Đức đưa ra các quy chế về nghề y, đề cao y đức,có quy chế về vệ sinh thực phẩm, quy chế pháp y, quy định tuổi thành hôn đối.Nghiêm cấm phá thai và hạn chế hút thuốc lào. Tổ chức y tế: ở triều đình có thái y viện, ở các tỉnh có tế sinh đường là cs chữa bệnh cho dân.Mở các kỳ thi tuyển lương y. Hiệu đính và tái bản các trước tác y học, biên soạn các sách y học mới. Thời kỳ này xuất hiện danh y Lê Hữu Trác.
- Thời nhà Tây Sơn |( 1788-1802): Triều đình đã tổ chức Cục Nam Dược nghiên cứu thuốc chữa bệnh cho quân đôij và nhân dân.
- Thời nhà Nguyễn ( 1802-1885):triều đình có Thái Y Viện, các tỉnh có Ty lương y. mở dạy thuốc ở huế năm 1850.Các trước tác y học cũng được tái bản thời kỳ này.
- Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta( 1884-1945)
Năm 1905 thực dân Pháp đã loại bỏ YHCT ra khỏi bộ máy y tế bảo hộ nhà nước và chỉ xây dụng một tổ chức y tế hạn chế, tập trung ở nhà thành phố thị xã, chủ yếu phục vụ cho giai cấp thống trị.Việc chữa bệnh cho người dân đặc biệt vùng nông thôn và miền núi là do các lương y phụ trách, do đó nhân dân vẫn tín nhiệm YHCT.
- Thời ký Việt Nam dân chủ cộng hoà
Cách mạng tháng 8/1945 thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc và một hướng phát triển mới cho YHCT dân tộc qua 2 thời kỳ.
· Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1945-1954: để bảo vệ sức khoẻ cho cán bộ chiến sĩ,nhân dân ta trong cuộc kháng chiến và giải quyết vấn đề thiếu thuốc do thực dân pháp phong toả, việc tìm kiếm và thay thế bằng nguồn dược liệu trong nước đã phát triển tại các vùng kháng chiến, đặc biệt là ở Nam Bộ.
· Thời kỳ xây dụng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và thống nhất nước nhà đến nay ( 1954- nay): Hồ Chủ Tịch đã quan tâm tới vấn đề kết hợp YHHD và YHCT để xây dựng nền YH Việt Nam. Trong bức thử gửi cho Hội nghị ngành Y tế ngày 27/2/1995 Người viết: “ Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc.Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu phối hợp thuốc đông và thuốc tây”.
VẤN ĐỀ KẾT HỢP YHCT-YHHD VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ YHCT LÀ XU HƯỚNG CHUNG CỦA THỜI ĐẠI
YHCT là thuật ngữ đề cập tới những cách bảo vệ và phục hồi sức khoẻ ra đời tồn tại trước khi có yhhd và nó được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.Trong đó các phương pháp chữa bệnh dùng thuốc và không dùng thuốc.
Mặc dù khác nhau về hình thức nhưng YHCT là một phần trong hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ở Trung Quốc,Nhật bản,Triều Tiên,Việt nam…
Với trên 5000 năm lịch sử, YHCT Trung quốc đã có nhiều ảnh hưởng tới nền YHCT của nhiều nước trong khu vực.Các học thuyết lý luận YHCT cũng như thuốc YHCT được du nhập đến các nước láng giềng như Nhật bản, triều tiên,việt nam.Sau đó tại những nước này YHCT Trung quốc đã được thừa kế và phát triển mang đậm màu sắc văn hoá đặc trưng của từng quốc gia.
Vai trò cũng như giá trị sử dụng của thuốc YHCT và châm cứu đang được thừa nhận rộng rãi trên khắp thế giới.Với tiềm năng và bề dày kinh nghiệm sử dụng thảo mộc trong trị liệu của YHCT, đặc biệt ở các nước phương dông và trên cs khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giời( t10/1991) “ hãy quan tâm đúng mức đến hệ thống YHCT của nước mình.Nghiên cứu và đánh giá một cách hệ thống các cây thuốc đã được các lương y và nhân dân sử dụng.Kết hợp YHCT và YHHD.Đặc biệt là sử dụng các bài thuốc YHCT có căn cứ khoa học,an toàn và hiệu quả”.
3.1 Về tổ chức.
Năm 1957 hội đông y được thành lập với mục đích đoàn kết giới lương y và những người hành nghề Y – Duọc cổ truyền.Cũng trong thời gian này Vụ Đông y trực thuộc Bộ y tế, viện đông y hà nội đã được thành lập.
Năm 1961 viện dược liệu được thành lập
Nam 1982 viện châm cứu trung ương được thành lập
Năm 1994 viện y học cổ truyền quân đội được thành lập
Hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đều có bệnh viện YHCT
3.2 Về đào tạo
Các trường đại học Y, Dược trong cả nước đều có khoa và bộ môn YHCT và Dược học cổ truyền.Các sinh viên y khoa và dược khoa đều phải học qua một chương trình 1-3 tháng về YHCT hay Dược cổ truyền. Năm 2005 Học Viện Y, Dược học cổ truyền Việt Nam được thành lập.
Đào tạo chuyên sâu: đào tạo Bs YHCT, Dược sỹ dược học cổ truyền,sau đại học đào tạo Bs chuyên khoa 1, chuyên khoa 2, bs nội trú, thạc sỹ và tiến sỹ.
Phát hành tạp chí chuyên ngành YHCT nhằm tăng cường phổ biến kinh nghiệm, truyền bá học thuật, hướng dẫn nghiệp vụ cho các thầy thuốc YHCT.
Nghị quyết của chính phủ về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân trong thời kỳ 2000-2010 đã khẳng định : “ YHCT là một di sản văn hoá của dân tộc, cần được bảo vệ phát huy và phát triển.Triển khai mạnh mẽ việc nghiên cứu ứng dụng hiện đại hoá YHCT, Kết hợp yhhd nhưng không làm mất đi bản sắc YHCT Việt nam”
VẤN ĐỀ HIỆN ĐẠI HOÁ YHCT VÀ GIỮ GÌN BẢN SẮC YHCT Ở NƯỚC TA
- YHCT cần được hiện đại hoá để trở thành một khoa học phục vụ cho yêu cầu của xã hội hiện đại.
- Hiện đại hoá YHCT là dùng các kiến thức, công cụ và phương pháp nghiên cứu khoa học, kỹ thuật hiện đại để hiểu và chứng munh cơ sở khoa học của lý luận và phương pháp chữa bênh YHCT.
- Hiện đại hoá YHCT kết hợp YHCT vs yhhd cần dược xem xét trong bối cảnh toàn cầu hoá với sự kết hợp những mặt tích cực của hai nền văn minh phương đông và phương tây. Nhằm phát huy vai trò của YHCT trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ.
Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA SỰ KẾT HỢP YHCT VỚI YHHD VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ YHCT Ở NƯỚC TA
- Là một cuộc cách mạng khoa học trong y học, để tăng cường khả năng phòng bệnh và chữa bệnh cho nhan dân, xây dụng một nền y học việt nam có đầy đủ tính khoa học, dân tộc và đại chúng.
- Thống nhất và đoàn kết được toàn bộ cán bộ y tế Việt Nam, động viên thừa kế được các kinh nghiệm tốt trong nhân dân, phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc.
- Mang đầy đủ tính chất độc lập tự chủ, phát huy nội lực và kết hợp với thế giới.
TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KẾT HỢP YHCT VỚI YHHD VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ YHCT
- tăng cường nhận thức tư tưởng đi đôi với tổ chức kết hợp YHCT với yhhd và hiện đại hoá YHCT từ trung ương tới cơ sở.
- đẩy mạnh và nâng cao đào tạo cán bộ chuyên ngành YHCT từ quy mô đào tạo, chất lượng tuyển chọn, chất lượng các cơ sở thực hành.
- đẩy mạnh công tác nghiên cứu kế thừa, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu kết hợp YHCT với yhhd và hiện đại hoá YHCT.
- giải quyết tốt vấn đề dược liệu và hiện đại hoá trong khâu nghiên cứu bào chế sản xuất đông dược
- đẩy mạnh tuyên truyền sử dụng các phương pháp điều trị của YHCT
- tăng cường hợp tác YHCT với các nước trong khu vực và trên thế giới
a. Định nghĩa :
- Học thuyết âm dương là triết học cổ đại phương Đông, nghiên cứu sự vận động và tiến hoá không ngừng của vật chất. Học thuyết âm dương giải thích nguyên nhân phát sinh, phát triển và tiêu vong của vạn vật.
- Học thuyết âm dương là nền tảng tư duy của các ngành học thuật phương Đông đặc biệt là Y học, từ lý luận đến thực hành, trong chẩn đoán cũng như trong điều trị, bào chế thuốc và dùng thuốc, tất cả đều dựa vào học thuyết âm dương.
- Âm – Dương là hai mặt, hai thuộc tính của một sự vật, luôn luôn mâu thuẫn nhưng thống nhất với nhau, làm cho sự vật luôn biến đổi, phát sinh và phát triển không ngừng theo quy luật tự nhiên
b. Các quy luật cơ bản trong học thuyết âm dương :
- Âm dương đối lập nhau
Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai mặt âm – dương mà thống nhất tồn tại trong mọi sự vật và hiện tượng tự nhiên.
VD: ngày – đêm, trên – dưới, nước - lửa , quá trình đồng hóa - dị hóa ,
hưng phấn - ức chế, thiện - ác. Tuy mỗi sự vật và hiện tượng đều có 2 mặt âm – dương, nhưng trong dương có âm và trong âm có dương.
- Âm dương hỗ căn
Hỗ căn là sự nương tựa lẫn nhau. Hai mặt âm – dương tuy đối lập nhau nhưng phải nương tựa vào nhau mới tồn tại được. Cả 2 mặt âm – dương đều trong quá trình phát triển của sự vật, không thể đơn độc phát sinh, phát triển được.
VD: Có đồng hóa thì mới có dị hóa. Hưng phấn và ức chế đều là quá trình tích cực của hoạt động vỏ não .
- Âm dương tiêu trưởng
+Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển, nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương.
VD: khí hậu 4 mùa luôn luân chuyển: từ lạnh sang nóng là “âm tiêu dương trưởng”, từ nóng sang lạnh là “dương tiêu âm trưởng”.
+Vận động của 2 mặt âm dương có tính chất giai đoạn, tới một mức độ nào đó sẽ chuyển hóa sang nhau gọi là âm sinh cực dương, dương sinh cực âm.
VD: bệnh ở phần dương (sốt cao) gây ảnh hưởng đến phần âm (gây mất nước).
- Âm dương bình hành :
+ Hai mặt âm – dương luôn tồn tại và giữ được thế cân bằng giữa 2 mặt.
+ Bình hành là song song vận hành và giữ cân bằng giữa 2 mặt âm dương. Sự mất cân bằng giữa hai mặt âm dương là cơ sở sinh ra bệnh tật.
VD: Trong cơ thể luôn phải duy trì thế cân bằng giữa hai quá trình đồng hóa và dị hóa. Nếu đồng hóa mạnh hơn dẫn đến thừa cân béo phì và ngược lại dễ dẫn đến chứng tiêu khát trong YHCT.
c. Ứng dụng học thuyết âm dương trong y học
Nền tảng tư duy của YHCT dựa trên học thuyết âm - dương , mang tính chỉ đạo xuyên suốt từ lý luận đến ứng dụng thực tiễn trên lâm sàng qua các mặt:
* Phân tích tính chất âm dương trong cơ thể ( cấu tạo và sinh lý ) :
- Cấu tạo cơ thể
Cấu tạo cơ thể
Âm
Dương
Tạng- phủ
Tạng: tâm, can, tỳ, phế, thận
Phủ: Tiểu trường, đại trường, đởm, vị, bàng quang, tam tiêu
Kinh lạc
Kinh âm: thiếu âm tâm, thái âm phế-tỳ, quyết âm can-tâm bào
Kinh dương: thiếu dương đởm- tam tiêu, thái dương tiểu trường-bàng quang, dương minh vị-đại trường
Khí- huyết
Khí
Huyết
Biểu- lý
Phần lý: gồm các tạng phủ bên trong cơ thể
Phần biểu: da cơ, cân, khớp, lông, tóc, móng, lưng
Nửa người bên trái
Nửa người bên phải
Tinh, huyết, tâm dịch, dinh khí
Khí, thần, vệ khí
- Sinh lý :
+Vật chất dinh dưỡng thuộc âm
+Cơ năng hoạt động thuộc dương
Ví dụ: quá trình tiêu hóa (dương) thức ăn (âm). Thức ăn là âm,nhai là dương, biến thức ăn thô thành nhuyễn để vào dạ dày là âm, tiêu hóa ở dạ dày là dương, cặn bã là âm; lạnh là âm, nóng là dương trong cơ thể, nếu lạnh và nóng cân bằng thì nhiệt độ cơ thể 37oC là bình thường. nếu nóng tăng lấn át lạnh sinh trong người nóng hoặc sốt nóng, nếu lạnh tăng lấn át nóng sinh trong người lạnh hoặc có cảm giác rét run.
* Quan niệm về quá trình phát sinh bệnh :
- Bệnh tật phát sinh do sự mất cân bằng về âm dương trong cơ thể , được biểu hiện bằng sự thiên thắng hay thiên suy
+Thiên thắng : do âm thịnh hoặc dương thịnh
. Dương thắng gây chứng nhiệt : sốt , mạch nhanh, đại tiện táo , nước tiểu đỏ.
. Âm thắng gây chứng hàn : người lạnh , chân tay lạnh , mạch trầm , ỉa lỏng .
+Thiên suy :
. Dương hư sinh ngoại hàn : gặp trong bệnh lo suy
. Âm hư sinh nội nhiệt : gặp trong trẻ chậm phát triển .
- Sự mất thăng bằng âm dương còn gây ra chứng bệnh ở những vị trí khác nhau của cơ thể ví như :
+Dương thịnh sinh ngoại nhiệt : sốt người nóng , chân tay nóng.
+Âm thịnh sinh nội hàn : ỉa lỏng , người lạnh, chân tay lạnh
+Dương hư sinh ngoại hàn : người cao tuổi sợ lạnh, chân tay lạnh
+Âm hư sinh nội nhiệt :mất nước khát nước , họng khô , táo bón.
* Về chẩn đoán bệnh
- Dựa vào tứ chẩn : 4 phương pháp khám bệnh của yhct ( vọng , chẩn , vấn , thiết ) để khai thác các triệu chứng của bệnh thuộc tạng hay phủ , thuộc hàn hay nhiệt , thuộc âm hay dương.
- Dựa vào quy nạp bát cương để đánh giá tổng quan về bệnh tật : Biểu - Lý , Hàn - Nhiệt , Hư - Thực , Âm - Dương . Trong đó hai cương lĩnh Âm -Dương mang tính chất tổng quát chỉ xu thế cơ bản của bệnh tật
- Thông qua quy nạp bát cương , để chẩn đoán sâu hơn , cụ thể hơn người ta đi vào sự thiên thắng , thiên suy của từng tạng phủ như : thận dương hư, tỳ vị hư hàn, can dương vượng.
* Về điều trị và các phương pháp chữa bệnh
Về nguyên tắc điều trị của YHCT bằng phương pháp dùng thuốc hay không dùng thuốc đều là nhằm mục đích điều hòa lại sự mất cân bằng về âm dương trong cơ thể .
- Về dùng thuốc : dương dược chữa bệnh hàn , âm dược chữa bệnh nhiệt
- Về châm cứu : nhiệt thì châm, hàn thì cứu..
- Về nguyên tắc điều trị : Thể trạng bệnh nhân hàn lương phải dùng phương pháp điều trị ôn nhiệt . Thể trạng bệnh nhân ôn nhiệt phải dùng phương pháp điều trị hàn lương . Nếu hàn nhiệt không rõ thì dùng phép bình.
* Về phòng bệnh :
- Nguyên tắc : luôn giữ cho âm dương trong cơ thể được cân bằng và điều hòa : Trời lạnh phải mặc quần áo ấm, trời nóng mặc quần áo thoáng mát.
- Ăn uống: ăn uống phải điều độ. Sự thái quá, bất cập trong ăn uống đều ảnh hưởng tới âm dương. Chọn thức ăn phù hợp với từng mùa
+ mùa nóng chú ý ăn đồ mát và bồi phụ tân dịch
+ mùa rét chú ý ăn đồ ấm
- tình cảm phải luôn cân bằng, tránh vui quá, buồn, lo âu quá mức gây rối loạn tình trí, ảnh hưởng đến cân bằng ầm dương
- Nơi ở phải thoáng, ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè
* Về bào chế thuốc :
- Bào chế thuốc: có thể biến đổi một phần dược tính bằng cách bào chế. Muốn thay đổi tính hàn nhiệt của vị thuốc ta dùng những phụ dược có tính đối lập
Ví dụ: sinh địa có tính mát có tác dụng thanh nhiệt lương huyết , khi qua chế biến thành thục địa tính ấm có tác dụng bổ huyết như dùng rượu, gừng,sa nhân tẩm vào sinh địa rồi chưng sấy nhiều lần thành thục địa
a. Định nghĩa
- Học thuyết ngũ hành Là vũ trụ quan của triết học Trung Quốc cổ đại dùng để mô tả mối tương tác giữa sự vật, các hiện tượng trong tự nhiên. Học thuyết ngũ hành là học thuyết âm dương, liên hệ cụ thể hơn trong việc quan sát, quy nạp và sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên. Trong y học, học thuyết ngũ hành được ứng dụng để quan sát quy nạp và nêu lên sự tương quan trong hoạt động sinh lý, bệnh lý các tạng phủ: để chẩn đoán bệnh tật, để tìm tính năng và tác dụng của thuốc , để tiến hành công tác bào chế thuốc men
- Quan điểm của người xưa : Ngũ hành là 5 loại vật chất cấu tạo nên mọi sự vật kể cả con người , gồm có : mộc , hỏa, thổ, kim, thủy .
b. Các quy luật của ngũ hành :
* Quy luật tương sinh:
- Tương sinh là hành nọ sinh ra hành kia thành một vòng kín.
- Quan hệ tương sinh là quan hệ hỗ trợ để sinh trưởng, thúc đẩy nhanh cùng phát triển
- Ngũ hành tương sinh là chỉ mối quan hệ sinh ra nhau một cách thứ tự, thúc đẩy nhau phát triển của thủy, hỏa, mộc, kim, thổ. Thứ tự tương sinh là: mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc. Sự tương sinh này cư lặp lại không ngừng. nếu đứng từ một hành mà nói thì sinh ra nó được gọi là “mẹ”,
do nó sinh ra được gọi là “con”.
- Trong cơ thể con người: can mộc sinh tâm hỏa, tâm hỏa sinh tỳ thổ, tỳ thổ
sinh phế kim, phế kim sinh thận thủy, thận thủy sinh can mộc
ví dụ: vận động tay chân (mộc) làm cho người nóng lên (sinh hỏa)
* Quy luật tương khắc:
-Tương khắc là hành nọ khắc hành kia, tức là chế ước hành kia thành một vòng kín.
-Quan hệ tương khắc là quan hệ ức chế nhau để giữ thế quân bình.
- Ngũ hành tương khắc là chỉ mối quan hệ lần lượt ức chế lẫn nhau của thủy, hỏa, mộc, kim, thổ. Thứ tự của tương khắc là: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc. Quá trình tương khắc này cũng tuần hoàn không ngừng.
- Trong cơ thể con người: can mộc khăc tỳ thổ; tỳ thổ khắc thận thủy; thận thủy khắc tâm hỏa; tâm hỏa khắc phế kim; phế kim khắc can mộc
+ ví dụ về tương khắc: cây lấy các chất dinh dưỡng từ đất nên mộc khắc thổ. Dòng nước bị đất làm cho uốn khúc nên thổ khắc thủy. nước làm tắt lửa nên thủy khắc hỏa. lửa làm đun chảy kim loại thạch cho nên hỏa khắc kim. Cây mọc ở đá rất khó khăn nên kim khắc mộc.
* Quy luật tương thừa: hành này khắc hành kia theo quy luật tương khắc nhưng khắc quá mạnh
+ VD : bình thường can mộc khắc tỳ thổ, nếu can khắc tỳ quá mạnh gây các hiện tượng như đau vùng thượng vị (dạ dầy), đi ngoài nhiều lần (ỉa chảy do TK), khi chữa phải chữa bình can (hạ hưng phấn của can) và kiện tỳ (tăng chức năng kiện vận của tỳ).
* Quy luật tương vũ: là hành bị khắc, lại khắc ngược trở lại hành khắc nó do hành khắc quá yếu hoặc hành khắc quá mạnh mà khắc trở lại
+ VD : bình thường tỳ thổ khắc thận thủy, nếu tỳ hư không khăc được thận thủy sẽ gây: ứ nước (bệnh ỉa chảy kéo dài) gây phù dinh dưỡng, khi chữa phải kiện tỳ và lợi niệu (để làm mất phù )
c. Ứng dụng học thuyết ngũ hành trong y học
Dựa vào tính chất quy nạp theo ngũ hành và các hoạt quy luật hoạt động của ngũ hành mà có thể ứng dụng trong y học như sau
- Quan điểm YHCT về cấu trúc cơ thể con người là : cơ thể con người cũng cấu tạo bởi 5 hành và cũng có mối quan hệ tương sinh tương khắc với nhau
stt
Hiện tượng
Ngũ tạng
Can
Tâm
Tỳ
Phế
Thận
1
Ngũ hành
Mộc
Hỏa
Thổ
Kim
Thủy
2
Phủ
Đởm
Tiểu trường
Vị
Đại trường
Bàng quang
3
Ngũ thể
Cân
Mạch
Cơ
Da lông
Cốt
4
Ngũ quan
Mắt
Lưỡi
Miệng
mũi
tai
5
Tình chí
Giận
Mừng
Lo
Buồn
Sợ
- Trong sinh lý: Các cơ quan trong cơ thể đều tương ứng với những hành nhất định, có tương sinh tương khắc với nhau để đảm bảo cơ thể phát sinh phát triển được bình thường , đảm bảo thống nhất trong cơ thể và giữa cơ thể với môi trường bên ngoài
Tương sinh
Tương khắc
Can mộc sinh tâm hỏa
Can mộc khắc tỳ thổ
Tâm hỏa sinh tỳ thổ
Tỳ thổ khắc thận thủy
Tỳ thổ sinh phế kim
Thận thủy khắc tâm hỏa
Phế kim sinh thận thủy
Tâm hỏa khắc phế kim
Thận thủy sinh can mộc
Phế kim khắc can mộc
Khi nghiên cứu một tạng phủ phải nghiên cứu bản thân tạng (phủ) và mối quan hệ với các tạng (phủ) khác.
- Trong bệnh lý:
Ø Bệnh theo ngũ hành
+ Bệnh theo mùa: mùa xuân hay có bệnh ở can, mùa hè hay có bệnh ở tâm, mùa cuối hè hay có bệnh ở tỳ, mùa thu hay có bệnh ở phế, mùa đông hay có bệnh ở thận.
+ Bệnh theo khí hậu: phong hay gây bệnh ở can. Thử nhiệt hay gây bệnh ở tâm. Thấp hay gây bệnh ở tỳ. táo hay gây bệnh ở phế. Hàn hay gây bệnh ở thận.
+ Truyền bệnh giữa các tạng theo quan hệ tương sinh tương khắc:
. Bệnh tạng mẹ truyền sang tạng con.
Ví dụ: bệnh ở thận truyền sang can
. Bệnh tạng con truyền sang tạng mẹ
Ví dụ: bệnh ở phế truyền sang tỳ.
. Bệnh tạng thắng truyền sang tạng thua ( tương thừa)
Ví dụ: bệnh ở can truyền sang tỳ
. Bệnh tạng thua truyền sang tạng thắng ( tương vũ)
Ví dụ: bệnh ở thận truyền sang tỳ
Ø Xác định tạng gây bệnh
+ Chính tà: do bản thân tạng đó bị bệnh
+ Hư tà: do tạng có quan hệ tuowgn sinh ( tạng mẹ) gây bệnh tạng đó (tạng con)
+ Vi tà: do tạng bị khắc ( tạng thua) khắc trở lại tạng khắc nó ( tạng thắng)
+ Thực tà: do tạng sau nó bị bệnh ( tạng con) gây bệnh tạng ở đó ( tạng mẹ)
+ tặc tà: do tạng khắc ( tạng thắng) quá mạnh khắc tạng đó (tạng thua)
Ví dụ: mất ngủ do tâm là chính tà, nếu do can hư là hư tà, nếu do vị thực là thực tà, nếu do thận hỏa là tặc tà, nếu do phế thực là vi tà.
- Trong chẩn đoán bệnh:
+Dựa vào ngũ sắc: da sắc đỏ thì bệnh thuộc tâm hỏa. Da sắc xanh thì bệnh thuộc can mộc. Da sắc vàng bệnh thuộc tỳ thổ. Da sắc trắng bệnh thuộc phế kim. Da sắc đen bệnh thuộc thận thủy.
+ Dựa vào ngũ vị: ợ vị chua bệnh thuộc can
+ Dựa vào tình chí: bệnh ở can biểu lộ cáu gắt, giận dữ. bệnh ở thận biểu hiện sợ hãi
+ Dựa vào ngũ thể: bệnh ở cân thuộc can. Bệnh ở xương thuộc thận. bệnh ở mạch thuộc tâm. Bệnh ở da, lông thuộc phế. Bệnh ở cơ nhục thuộc tỳ.
+ Dựa vào chức năng của tạng phủ suy ra các triệu chứng của tạng đó.
Ví dụ : bệnh ở can thường khiến người bệnh cáu giận , tính ưa mát , ợ chua nhiều,mắt thường đau , gân cơ thường co rút .
- Đề ra nguyên tắc chữa bệnh :
“Hư thì bổ mẹ , thực thì tả con”
Ví dụ : Trong bệnh phế khí hư , phế lao ,.. trong điều trị phải kiện tỳ , vì tỳ thổ sinh phế kim , đây chính là con hư bổ mẹ . Trong cao huyết áp , nguyên nhân do can dương thịnh , phải chữa vào tâm ( an tâm ) vì can mộc sinh tâm hỏa đây chính là mẹ thực tả con .
-Trong châm cứu :
+ Lấy huyệt theo tuần kinh thủ huyệt: khi kinh bị bệnh lấy huyệt trên đường kinh đó hoặc kinh có quan hệ tương sinh hoặc tương khắc với nó.
Ví dụ: ho hen do khí phế hư, có thể chọn huyệt trên kinh phế và kinh tỳ vì tỳ thổ sinh phế kim.
Ví dụ : mất ngủ thường chọn đường kinh tâm và tâm bào là thần môn và nội quan. Nếu tìm được nguyên nhân nằm tại tạng nào , thì thêm huyệt trên đường kinh của tạng đó , ví dụ : mất ngủ do tùy thì châm thêm túc tam lý .
+ Chọn các huyệt theo ngũ du huyệt : chọn các huyệt ngũ du trên đường kinh đã được phân chia theo ngũ hành. Huyệt ngũ du bao gồm huyệt tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp được sắp xếp theo sơ đồ sau:
Loại kinh lạc
Loại ngũ du
Tỉnh
Huỳnh
Du
Kinh
Hợp
Dương
Kim
Thủy
Mộc
Hỏa
Thổ
Âm
Mộc
Hỏa
Thổ
Kim
Thủy
Ví dụ : Huyệt tỉnh của kinh dương thì quan hệ tương sinh với huyệt Huỳnh của của kinh dương nhưng lại tương khắc với huyệt Tỉnh của kinh Âm tương ứng.
Tên các huyệt ngũ du được đặt theo ý nghĩa của kinh khi đi trong đường kinh như dòng nước chảy :
+Huyệt Tỉnh : nơi khí đi ra .
+Huyệt Huỳnh : nơi khí chảy xiết
+Huyệt Du : là nơi khí dồn lại
+Huyệt Kinh : là nơi khí đi qua
+Huyệt Hợp : là nơi khí đi vào
-Trong sử dụng thuốc :
+Dựa vào ngũ vị, ngũ sắc, và ngũ khí của thuốc để quy ra tính vị quy kinh , từ đó suy ra tác dụng điều trị . Người ta xét tác dụng của vị thuốc đối với bệnh tật tại các tạng phủ trên cơ sở liên quan giữa vị thuốc , màu sắc thuốc với tạng phủ.
Vị thuốc
Màu thuốc
Tác dụng vào tạng – phủ
Vị chua
Màu xanh
Can – đởm
Vị đắng
Màu đỏ
Tâm – tiểu trường
Vị ngọt
Màu vàng
Tỳ - vị
Vị cay
Màu trắng
Phế - đại trường
Vị mặn
Màu đen
Thận – bàng quang
Ví dụ : vị ngọt , màu vàng , tính bình thường vào tỳ để điều trị các bệnh ở tỳ .
+Bào chế thuốc : dùng ngũ vị , ngũ sắc, ngũ khí của các chất để sao tẩm nhằm đưa các vị thuốc vào tạng phủ bị bệnh
Thuốc sao với
Tác dụng vào tạng
Sao với dấm
Thuốc đi vào tạng can
Sao với muối
Thuốc đi vào tạng thận
Sao với đường
Thuốc đi vào tạng tỳ
Sao với gừng
Thuốc đi vào tạng phế
Ví dụ : Muốn đưa thuốc vào tỳ phải tẩm nước vo gạo hoặc đường mật hoặc đất có màu vàng.
-Trong phòng bệnh :
+Chú ý : ăn uống, lao động, tinh thần làm sao cho ảnh hưởng tới tạng phủ .
+Rèn luyện thân thể để giữ cho các tạng phủ được cân bằng .
+Phòng bệnh, nếu sau điều trị khỏi ăn uống sinh hoạt phù hợp để không mắc bệnh.
a. Định nghĩa
- Học thuyết thiên nhân hợp nhất nói lên giữa con người với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội luôn luôn mâu thuẫn và thống nhất với nhau. Con người thích ghi, chế ngự, cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội sẽ sinh tồn và phát triển.
- Trong y học, người xưa ứng dụng học thuyết này để chỉ đạo các phương pháp phòng bệnh giữ sức khoẻ, tìm ra nguyên nhân gây bệnh và để ra phương pháp chữa bệnh toàn diện.
b. Yếu tố ảnh hưởng đến con người
* Hoàn cảnh tự nhiên ảnh hưởng đến con người
- Khí hậu: có tứ thời và lục khí
+ Tứ thời: có 4 mùa với đặc tính khác nhau. Mùa xuân ấm áp, mùa hạ nóng bức, mùa thu mát mẻ và mùa đông lạnh giá. Trong đó ấm và nóng thuộc dương, mát và lạnh thuộc âm. Quá trình biến đổi 4 mùa là quá trình tiêu trưởng của dương và âm. Đây cũng chính là quá trình vận động của sinh vật từ sinh èlãoèbệnhètử.
+ Lục khí: bao gồm phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa. Hàn, nhiệt, ôn, lương mới chỉ là sự phân loại về ôn độ theo khía cạnh của khí hậu bốn mùa. Trong thực tế còn có sự biến đổi khí hậu phức tạp khác. Người xưa đã quy nạp, tìm ra các nhân tố chủ yếu của sự thay đổi khí hậu mà phân thành 6 loại: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa. những thay đổi này có lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật.
Sự vận chuyển của 4 mùa, sự biến của lục khí trong tình trạng bình thường, ko thái quá, ko bất cập thì tất cả sinh vật theo đó mà thích ứng với quy luật phát triển
- Yếu tố địa lý: miền đồng bằng, miền rừng núi, miền Nam, miến Bắc, tập quán sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng v.v… luôn luôn gây nên những bệnh địa phương và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
* Hoàn cảnh xã hội ảnh hưởng tới con người
- là những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá của xã hội luôn luôn tác động đến tư tưỏng tình cảm, đạo đức của con người.
-Trong một xã hội còn giai cấp bóc lột hoặc trong xã hội hết giai cấp bóc lột nhưng tàn dư tư tưởng văn hoá của xã hội cũ hãy còn tồn tại, gây nên những ảnh hưởng xấu đến tư tưởng tình cảm, đạo đức của con người. Điều kiện kinh tế còn thấp kém, mức sống con người chưa cao là yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ. Tập quán sinh hoạt như: văn hoá không lành mạnh, những tập tục, những tư tưởng lạc hậu luôn tác động đến tư duy con người v.v…
- Tất cả những yếu tố tiêu cực trên sẽ gây ra những tác nhân không tốt về tâm lý xã hội là điều kiện gây ra các bệnh nội thương mà YHCT thường nói tới.
* Sự thích ứng của cơ thể con người với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội
-Thời tiết, khí hậu và những điều kiện xã hội luôn tác động đến đời sống con người, có những yếu tố tích cực cần thiết cho sự sống của con người, ngược lại có những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
- Con người cần thích ghi với hoàn cảnh, chế ngự và cải tạo tự nhiên và xã hội để sinh tồn và phát triển.
- Muốn vậy con người cần có sức khoẻ, tinh thần phải vững vàng biểu hiện ở chính khí và các cơ năng thích ứng của cơ thể luôn luôn quân bình giữa các mặt âm, dương, khí huyết, tinh thần, tân dịch v.v…
c. Ứng dụng trong y học của học thuyết thiên nhân hợp nhất
* Là cơ sở để xây dựng nội dung và phương pháp phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe trong YHCT
- Hạn chế ham muốn thái quá, rèn luyện ý chí, cải tạo bản thân và xã hội. Xây dựng tinh thần lạc quan, tương thân, tương ái…
- Ăn uống đủ lượng và chất, bữa ăn được bố trí hợp lý, khoa học
- Giữ vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ
- Chủ động rèn luyện cơ thể, tăng cường chính khí thông qua tập luyện khí công, dưỡng sinh, thái cực quyền
- Ăn mặc phù hợp với thời tiết. mùa đông mặc ấm, mùa hè mặc thoáng
- Sắp xếp thời gian làm việc, sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý
- Cải tạo tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh
Tuệ tĩnh – một danh y nổi tiếng của VN ở thế kỷ XIV đã khái quán thuật dưỡng sinh qua mấy câu thơ
“ bế tinh, dưỡng khí tồn thần
Thanh tâm, quả dục, thân chân, luyện hình”
* Là cơ sở cho lý luận YHCT và bệnh nguyên và bệnh sinh
- Hoàn cảnh tự nhiên với 6 thứ khí bao gồm phong, hàn, thử, thấp, táo và hỏa trở thành nguyên nhân gây ra các bệnh ngoại cảm khi:
+ 6 thứ khí đó thái quá hay bất cập và trở thành nguyên nhân gây bệnh gọi lục tà hay lục dâm
+ Hoàn cảnh xã hội nếu xấu sẽ tác động đến tâm lý con người làm rối loạn bẩy tình chí ( vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ) gây sang chấn tâm lý, tạo cơ sở cho xuất hiện rối loạn chức năng của các tạng phủ dẫn tới các bệnh nội thương
- Chính khí cơ thể có vai trò quyết định trong phát sinh bệnh tật
- Hoàn cảnh tự nhiên và xã hội luôn luôn tồn tại đồng hành với con người và tác động vào con người. Nhưng bệnh tật chỉ xẩy ra ở những cá thể có sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút.Theo yhct thì đó là chính khí cơ thể bị tổn thương, làm cho cơ thể ko thích ứng được với sự thay đổi của ngoại cảnh. Như vậy chính khí của cơ thể đóng vai trò nội nhân, quyết định sự phát sinh ra bệnh tật. Phù hợp với quan điểm duy vật biện chứng: nguyên nhân bên phải thông qua nguyên nhân bên trong mới phát hủy tác dụng.
* Là cơ sở cho các phương pháp phòng và trị bệnh của yhct
- Phải ko ngừng bảo vệ và nâng cao sức đề kháng của cơ thể người- nâng cao chính khí của cơ thể bằng cách phối hợp các phương pháp
+ Rèn luyện ý chí, tu dưỡng, tâm lý liệu pháp…
+ Chế độ ăn uống, vệ sinh hợp lý
+ Tham gia luyện tập khí công, dưỡng sinh, thái cực quyền
+ Chế độ sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi khoa học, hợp lý
- Chữa bệnh khi chưa có bệnh
- Trị kịp thời, ko thể để bệnh nặng mới chữa
- Hiện nay, bệnh nhẹ, mãn tính có thể sử dụng các phương pháp yhct như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, thuốc thảo mộc để điều trị hay phối hợp điều trị
+ khi sử dụng các phương pháp trị liệu của yhct luôn chú ý nâng cao sức đề kháng- chính khí của cơ thể. Theo nguyên lý yhct:” chính khí tổn nội, tà bất khả can”
+ Học thuyết thiên nhân hợp nhất đã cho người thầy thuốc một cách nhìn toàn diện, thống nhất, chỉnh thể trong công tác phòng bệnh, chẩn đoán bệnh và điều trị. Giúp cho người thầy thuốc ko chỉ thấy bệnh mà cả mối quan hệ của người bệnh với môi trường tự nhiên và xã hội. với quan điểm toàn diện và chỉnh thể, người thầy thuốc sẽ có phương pháp trị liệu toàn diện, mang lại hiệu quả tốt.
a. Tâm
Tâm là tạng có vai trò quan trọng trong hoạt động sống của cơ thể, tâm hoạt động tốt thì các tạng phủ khác mới có thể hoạt động theo quy luật được. Công năng chủ yếu của tạng tâm biểu hiện ở các mặt sau:
- Tâm chủ huyết mạch, tinh hoa của tâm biểu hiện ra ở mặt
+ Huyết là do tâm làm chủ, mạch là đường ống cho huyết lưu hành cho nên tâm và huyết mạch phụ thuộc chặt chẽ với nhau. Trong việc thúc đẩy sự vận hành tuần hoàn của huyết dịch, tuy tâm với mạch có sự hợp tác với nhau nhưng tác dụng chủ động vẫn là tâm. Vì thế, huyết tuy có công năng dinh dưỡng vẫn phải nhờ vào hoạt động cảu tâm mạch. Màu sắc tươi tốt của tâm và huyết mạch phản ánh ra ở mặt cho nên dựa theo sự biến đổi sắc thái ở mặt có thể biết được sự thịnh suy, hư thực của tâm và huyết mạch.
+ Nếu người có công năng của tâm được kiện toàn, huyết mạch được thịnh vượng thì sắc mặt hồng nhuận, sáng bóng, có thần. trái lại thì sắc mặt nhợt nhạt, ko tươi. Nếu huyết vận hành bị trở ngại, huyết dịch ngưng trệ thì sắc mặt xám đen, nếu huyết ngưng trệ ko lưu thông, mất dinh dưỡng thì chẳng những sắc mặt xám đen mà còn khô nữa.
- Tâm chủ thần minh
Thiên linh đan bí điểm luận sách tố vấn nói: “ tâm giữ chức vụ quân chủ, thần minh từ đó mà ra cho nên chủ ko sáng suốt thì 12 tạng đều nguy”
+ “ thần minh” là hoạt động của tinh thần, ý thức, tư duy. “ tâm chủ thần minh” là nói tâm làm chủ về hoạt động ý thức, tư duy cho nên trên lâm sàng thấy những bệnh có liên quan tới hoạt động tinh thần như: hoảng sợ, mất ngủ, nói sảng, hôn mê, cười nói huyên thuyên… phần nhiều quy vào tâm.
+ Ngũ tạng lục phủ dưới sự chỉ đạo của “ tâm” tiến hành hoạt động sinh lý nhịp nhàng thống nhất với nhau. Nếu tâm có bệnh, thì hoạt động của tạng phủ sẽ mất nhịp nhàng cân đối, bị rối loạn mà sinh bệnh. Chính vì tâm chủ thần minh, làm chủ của lục phủ ngũ tạng nên mỗi khi bị tà khí xâm phạm thì uy hiếp rất lớn đến sinh mệnh. Cho nên:
. Tâm chủ huyết mạch, chủ thần minh, thần minh nhờ tâm huyết mà tươi sáng, tâm huyết mà rối loạn thì thần minh cũng bị rối loạn. Cho nên tâm huyết hư thì hoạt động tinh thần bị trì trệ.
. Tâm huyết thịnh thì thần mạnh khỏe và vui tươi
. Hoạt động của thần minh cũng ảnh hưởng đến tâm huyết. Nếu lo buồn tư lự quá độ thì tổn thương tâm. Sự hoạt động của ngũ tạng lại cần nhờ vào sự hoạt động của tâm. Vì vậy “ tâm giữ chức quân chủ”
- Tâm khai khiếu ra lưỡi
Biệt lạc cảu kinh tâm thông ra lưỡi để duy trì hoạt động của lưỡi, do đó dựa vào xem lưỡi để chẩn đoán các chứng bệnh ở tâm: đầu lưỡi đỏ là tâm nhiệt, chất lưỡi nhợt là tâm huyết hư, chất lưỡi xanh có điểm ứ huyết là tâm huyết ứ trệ…
- Tâm còn quan hệ với các tạng phủ khác theo thuyết ngũ hành, theo quan hệ biểu lý
+ Quan hệ tương sinh theo ngũ hành: can mộc sinh tâm hỏa, tâm hỏa sinh tỳ thổ
+ Quan hệ tương khắc: thận thủy khắc tâm hỏa, tâm hỏa khắc phế kim..
+ Tâm và tiểu trường có quan hệ biểu lý với nhau
Phụ thêm tâm bào lạc và đản trung
*** Tạng tâm
- Tạng tâm là một trong 5 tạng trong Y học cổ truyền, nằm ở vị trí trung tâm của cơ thể, có chức năng chủ trì huyết mạch, thần chí và hoạt động của các cơ quan khác.
Các chức năng sinh lý cụ thể của tạng tâm bao gồm:
· Chủ huyết: Tạng tâm là nơi chứa đựng và vận hành huyết. Huyết là một trong những thành phần quan trọng của cơ thể, có chức năng nuôi dưỡng các tạng phủ, kinh mạch và các cơ quan khác.
· Chủ thần chí: Tạng tâm là nơi chứa đựng thần, là cơ quan điều khiển các hoạt động tinh thần của con người như: ý thức, trí nhớ, cảm xúc, tư duy,...
· Chủ mạch: Tạng tâm là nơi khởi nguồn của mạch máu, có chức năng điều hòa hoạt động của hệ thống mạch máu trong cơ thể.
· Khai khiếu ra lưỡi: Tạng tâm có mối quan hệ mật thiết với lưỡi. Lưỡi là cơ quan biểu hiện của tạng tâm, do đó tình trạng của lưỡi có thể phản ánh chức năng của tạng tâm.
Khi tạng tâm bị bệnh, sẽ biểu hiện ra các triệu chứng như:
· Các triệu chứng liên quan đến thần chí: Mất ngủ, hay quên, chóng mặt, hoa mắt, hoan hỉ, lo âu, sợ hãi,...
· Các triệu chứng liên quan đến huyết mạch: Hồi hộp, đánh trống ngực, khó thở, đau thắt ngực,...
· Các triệu chứng liên quan đến lưỡi: Lưỡi nhợt nhạt, lưỡi xanh tím, lưỡi phù nề, lưỡi có vết rướm máu,...
Bệnh lý của tạng tâm có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, bao gồm:
· Tâm khí hư: Do tâm khí suy giảm, không đủ sức vận hóa huyết, dẫn đến các triệu chứng như mệt mỏi, suy nhược, hay quên, mất ngủ,...
· Tâm huyết hư: Do tâm huyết thiếu hụt, không đủ nuôi dưỡng thần trí, dẫn đến các triệu chứng như hoa mắt, chóng mặt, hồi hộp, đánh trống ngực,...
· Tâm dương hư: Do tâm dương suy giảm, không đủ sức bảo vệ tâm, dẫn đến các triệu chứng như hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ,...
· Tâm âm hư: Do tâm âm suy giảm, không đủ nuôi dưỡng tâm, dẫn đến các triệu chứng như hồi hộp, đánh trống ngực, dễ bị kích động,...
· Tâm hỏa vượng: Do tâm hỏa quá thịnh, gây tổn thương tâm âm, dẫn đến các triệu chứng như mất ngủ, hay quên, hoa mắt, chóng mặt,...
*** Tạng can
Chức năng sinh lý của tạng can
Trong y học cổ truyền, tạng can có vị chua, thuộc âm, can tàng huyết, can chủ sơ tiết, can chủ cân , can khai khiếu ra mắt
Can chủ sơ tiết
Can có vai trò chủ đạo trong việc điều hòa hoạt động của các tạng phủ khác trong cơ thể. Can khí bình hòa thì các tạng phủ khác cũng hoạt động bình thường, ngược lại nếu can khí rối loạn thì sẽ dẫn đến rối loạn chức năng của các tạng phủ khác.
Can tàng huyết
Can là tạng tàng huyết, có chức năng tàng huyết, điều hòa huyết mạch, vận hành huyết dịch trong cơ thể. Huyết là thành phần quan trọng của cơ thể, có chức năng nuôi dưỡng các cơ quan, duy trì sự sống. Nếu can tàng huyết bị rối loạn thì sẽ dẫn đến các triệu chứng như hoa mắt, chóng mặt, chân tay tê bì, kinh nguyệt ít hoặc bế kinh, sắc mặt nhợt nhạt, gân mạch co rút, đau đầu, mất ngủ,...
· Can chủ cân
Can có chức năng chủ về gân mạch, có liên quan mật thiết với hệ thống thần kinh. Can khí đầy đủ thì gân mạch khỏe mạnh, linh hoạt. Nếu can khí hư thì sẽ dẫn đến các triệu chứng như đau nhức gân xương, tê bì tay chân, co giật,...
Biểu hiện bệnh lý của tạng can
Bệnh lý của tạng can thường biểu hiện ở các triệu chứng sau:
· Biểu hiện ở hệ thần kinh, Mất ngủ, hay quên, tinh thần bất ổn,.Đau đầu, chóng mặt, hoa mắt,Co giật,
· Biểu hiện ở hệ tiêu hóa: Miệng đắng, nôn mửa,
Tạng tỳ
Tạng tỳ trong y học cổ truyền Trung Quốc là một tạng phủ quan trọng, có vai trò chủ trì vận hóa, thống huyết, chủ về cơ nhục, khai khiếu ra miệng, vinh nhuận ở môi.
Chức năng vận hóa
Tỳ chủ vận hóa, có nghĩa là tỳ có chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng trong thức ăn đã được tiêu hóa, hấp thu thành các chất tinh hoa để nuôi dưỡng cơ thể. Tỳ vận hóa tốt thì các chất dinh dưỡng được chuyển hóa và hấp thụ tốt, ngược lại tỳ vận hóa kém thì các chất dinh dưỡng không được chuyển hóa và hấp thụ tốt, dẫn đến các chứng rối loạn tiêu hóa như ăn không ngon miệng, chán ăn, đầy bụng, khó tiêu, táo bón, tiêu chảy,...
Chức năng chủ về tứ chi
Nhờ dương khí tay chân hoạt động được, dương khí sinh ra từ các chất tinh vì trong đồ ăn thức uống do Vị tiêu hoá, Tỳ vận hoá. Vì thế, sự hoạt động của tay chân có quan hệ chặt chẽ với Tỳ. Nếu công năng vận hoá của Tỳ bị rối loạn, việc cung cấp đủ chất dinh dưỡng bị suy giảm, thì hoạt động của chân tay cũng bị yếu kém
Chức năng thống huyết
Tỳ chủ thống huyết, có nghĩa là tỳ có chức năng cầm máu. Tỳ thống huyết tốt thì máu được lưu thông tốt, ngược lại tỳ thống huyết kém thì máu dễ bị ứ đọng, dẫn đến các chứng chảy máu như chảy máu cam, chảy máu chân răng, kinh nguyệt không đều, băng huyết,...
Chức năng chủ về cơ nhục
Tỳ chủ về cơ nhục, có nghĩa là tỳ có chức năng nuôi dưỡng cơ bắp. Tỳ khỏe mạnh thì cơ bắp chắc khỏe, linh hoạt, ngược lại tỳ yếu thì cơ bắp mềm yếu, dễ mệt mỏi, đau nhức,...
Chức năng khai khiếu ra miệng
Tỳ khai khiếu ra miệng, có nghĩa là tỳ có quan hệ mật thiết với hoạt động ăn uống. Tỳ khỏe mạnh thì ăn ngon miệng, ngược lại tỳ yếu thì chán ăn, ăn không ngon miệng.
Chức năng vinh nhuận ở môi
Tỳ chủ vinh nhuận ở môi, có nghĩa là tỳ có chức năng nuôi dưỡng môi. Tỳ khỏe mạnh thì môi hồng nhuận, ngược lại tỳ yếu thì môi nhợt nhạt, khô,...
Biểu hiện bệnh lý của tạng tỳ
Khi tạng tỳ bị bệnh sẽ biểu hiện ra các triệu chứng sau:
· Rối loạn tiêu hóa: ăn không ngon miệng, chán ăn, đầy bụng, khó tiêu, táo bón, tiêu chảy,...
· Chảy máu: chảy máu cam, chảy máu chân răng, kinh nguyệt không đều, băng huyết,...
· Cơ bắp mềm yếu, dễ mệt mỏi, đau nhức,...
· Chán ăn, ăn không ngon miệng.
Tạng Phế
- Phế chủ khí và hô hấp
Tạng phế chính là nơi trao đổi khí, được thể hiện qua hành động hít thanh khí và thải trọc khí nên phế chủ hô hấp. Phế chủ khí vì tạng phế có liên quan tới tông khí, tông khí được tạo thành do khí của thức ăn từ tạng tỳ vị đưa lên hợp với khi trời do phế đưa vào, tông khí được đưa vào tâm mạch nhằm đẩy huyết đi nuôi dưỡng các bộ phận trong cơ thể.
Phế khí khỏe mạnh thì hô hấp thông thoáng, hít thở bình thường. Phế khí hư thì thở nhanh, thở ngắn phát ra tiếng nhỏ yếu, khí úng thì làm cho suyễn thở, ngực đau tức và khi nghịch thì sinh ho, nặng thì đứt lạc và ho ra máu.
Phế chủ tuyên phát và túc giáng
- Tuyên phát: tức là sự thúc đẩy. Sự thúc đẩy khí huyết và tân dịch phân bố ra toàn thân đó chính là sự tuyên phát của tạng phế, bên trong đi vào các tạng phủ kinh lạc, bên ngoài đi ra tại bì mao cơ nhục. Nếu như phế khí không tuyên sẽ dẫn tới ứ trệ và có xuất hiện triệu chứng ngạt mũi, tức ngực và khó thở.
- Túc giáng: là đưa phế khí đi xuống. Nếu như phế khí nghịch lên trên uất tại tạng phế sẽ có triệu chứng ho, khó thở và xuyễn tức.
Phế chủ bì mao
Bì mao là phần bên ngoài, nơi ngoại tà xâm nhập vào cơ thể. Nhờ vào sự tuyên phát của tạng phế mà chất dinh dưỡng được vận chuyển đến cho bì mao. Vệ khí cũng tuyên phát ra bì mao nhằm chống đỡ ngoại tà. Vì vậy, khi phế có bệnh ở phần biểu thường xuất hiện những triệu chứng như ở vệ và phế phối hợp với nhau. Ngoại cảm tà lục dâm thường phạm vào tạng phế trước, nhân đó mà xuất hiện chứng ngoại cảm. Nếu phế khi hư yếu không tuyên phát ra bì mao làm cho da lông khô ráp, lưa thưa và dẫn đến cơ năng bảo vệ của bì mao bị giảm cho nên dễ bị cảm bởi ngoại tà.
Phế chủ thông điều thủy đạo
Tạng phế có chức năng tuyên phát và túc giáng, nhờ đó mà nước trong cơ thể được bài tiết ra bằng đường hơi thở và mồ hôi, nhị tiện nhưng chủ yếu là đường nước tiểu. Tạng phế đưa nước đi xuống dưới thận, tại thận nước được khí hóa một phần đưa xuống bàng quang thành nước tiểu nhằm bài tiết ra bên ngoài. Phế khí không tuyên thông thì việc tiểu tiện không được lợi. Trên lâm sàng, bệnh phù thũng do phong thủy được điều trị bằng phương pháp tuyên phế lợi tiểu.
Tạng thận
- Thận tàng tinh
Tinh là vật chất cơ bản tạo nên hoạt động sống của con người, được chia thành tính tiên thiên và tinh hậu thiên. Tinh tiên thiên bẩm thụ từ cha mẹ, bắt đầu từ khi phôi thai cho đến lúc già chết đi mới hết, là thứ tinh do nam nữ giao hợp mà có từ lúc sinh ra, là nguồn gốc để sinh tồn nòi giống. Tinh hậu thiên do đồ ăn thức uống hoá ra, nhờ tỳ vận hoá mà thành. Hai thứ tinh này được tàng trữ ở thận .
Tàng tinh là công năng quan trọng trong tạng thận , sự sinh trưởng phát dục và sự duy trì giống nòi đều là tác dụng của thận tinh
- Thận chủ thủy cốt
- Thận chủ về tàng tinh, chủ cốt tuỷ, chủ về sinh dục và phát dục của cơ thể, chủ nạp khí, chủ thuỷ, khai khiếu ra tai, tiền âm, hậu âm và vinh nhuận ra tóc
Thận tàng tinh, chủ về sinh dục và phát dục của cơ thể
· Tinh của tiên thiên và tinh của hậu thiên đều được tàng trữ ở thận gọi là thận tinh. Tinh biến thành khí nên còn có thận khí.
· Thận tinh còn gọi là thận dương, nguyên dương, chân dương, mệnh môn hoả. Thận tinh và thận khí quyết định sự sinh dục và phát dục của cơ thể từ lúc nhỏ tới già như mọc răng, tuổi trưởng thành sinh con cái (gọi là thiên quý thịnh) và lão suy (thiên quý suy)
· Như trong sách Nội kinh có nói: “con gái 7 tuổi thì thiên quý thịnh, răng thay tóc dài, 14 tuổi thì thiên quý đến mạch nhâm thông với mạch xung, vì vậy lúc đó người con gái thấy kinh. Thường đời người con gái có 7 thiên quý ( 7x7 = 49) lúc đó mạch nhâm yếu, mạch xung kém, thiên quý cạn hết, kinh nguyệt không còn, nên thân thể yếu đuối.
· Con trai lúc 8 tuổi thận khí thực, tóc tốt, răng thay, 16 tuổi thận khí thịnh thiên quý đến, tinh khí đầy 24 tuổi thận khí điều hoà, thân thể cường tráng mạnh khoẻ, 64 tuổi thận khí kém, tóc rụng, răng khô, lục phủ ngũ tạng đều suy yếu, thiên quý cạn nên râu tóc bạc, người mệt mỏi…”
· Thận âm và thận dương, nương tựa vào nhau, chế ước lễ nhau giữ thế bình quân về âm dương. Nếu thận hư không có hiện tượng hàn hay nhiệt thì gọi là thận tinh hư hay thận khí hư. Nếu có hiện tượng nội nhiệt là do thận âm hư. Nếu có hiện tượng ngoại hàn (sợ lạnh, tay chân lạnh) là do thận dương hư.
Thận chủ về khí hoá nước.
· Thận khí có chức năng khí hoá nước tức là đem nước do đồ ăn uống đưa tới nước cho tổ chức cơ thể và bài tiết nước ra ngoài.
· Sự chuyển hoá nước trong cơ thể do 3 tạng phụ trách: tỳ vận hoá hấp thu đưa lên phế, phế túc giáng xuống thận, ở thận được khí hoá những chất trong (có ích) được lên phế phân bố đi toàn thân, những chất đục được đưa xuống bàng quang thải ra ngoài.
· Vì vậy trên lâm sàng, căn cứ vào vị trí trở ngại, người ta chữa chứng phù thũng ở tỳ, ở phế hay ở thận.
Thận Chủ về xương, tuỷ, thông với não và vinh nhuận ra tóc
· Tinh được tàng trữ ở thận,tinh sinh tuỷ, tuỷ vào trong xương, nuôi dưỡng xương, nên gọi là thận chủ cốt sinh tuỷ. Nếu thận hư, làm sự phát dục của cơ thể giảm sút gây hiện tượng chậm mọc răng, chậm biết đi, xương mềm yếu…
· Tuỷ ở cột sống lên não, thận sinh tuỷ, nên gọi là thận thông với não, không ngừng bổ sung tinh tuỷ cho não. Thận hư (thường do thiên nhiên) làm não không phát triển sinh các chứng: trí tuệ chậm phát triển,tinh thần đần độn, kém sự thông minh…
· Huyết do tinh sinh ra, tinh tàng trữ ở thận, tóc là sản phẩm “thừa ra” của huyết, được huyết nuôi dưỡng, vì vậy thận là căn nguyên sinh ra tóc. Sự thịnh suy của thận có quan hệ mật thiết với tóc như bẩm sinh thận khí bất túc thì tóc mọc thưa thớt, thanh niên khoẻ mạnh thì tóc tốt nhuận, người già thận khí yếu thì tóc bạc, rụng tóc….vì vậy nói: thận vinh nhuận ra ở tóc.
Thận Nạp khí
· Không khí do phế hít vào được giữ lại ở thận gọi là sự nạp khí của thận
· Nếu thận hư không nạp được phế khí làm phế khí nghịch lên gây chứng ho hen, khó thở. Trên lâm sàng người ta chữa chứng hen suyễn, chứng ho ở người già, bằng phương pháp bổ thận nạp khí.
Thận Khai khiếu ra tai và tiền âm, hậu âm
· Tai do thận tinh nuôi dưỡng, thận hư sẽ gây tai ù, tai điếc. Ở người già thận khí, thận tinh suy yếu nên hay gặp chứng tù tai, điếc.
· Tiền âm là nơi bài tiết nước tiểu, bộ phận sinh dục nam hay nữ, thận chủ về khí hoá bài tiết nước tiểu và sự sinh dục vì vậy gọi là thận chủ về hậu âm. Thận hư hay gặp chứng đi tiểu luôn ở người già, chứng đái dầm ở trẻ em chứng di tinh, ra khí hư…
· Hậu âm là nơi đại tiện ra phân, do tạng tỳ đảm nhiệm. Nhưng tỳ dương được thận khí hoá để bài tiết phân ra ngoài nên còn gọi là thận chủ về hậu âm. Nếu thận khí hư hay gặp chứng đại tiện lỏng, đại tiện ở người già.
· Hậu âm và tiền âm thường quản lý đại tiện và tiểu tiện nên còn nói “thận chủ nhị tiện”.
*** Đởm
Đởm có quan hệ biểu lý với can, chứa chất mật (tinh chấp) do can bài tiết. Cổ nhân nói: “khí thừa của can tràn vào mật, tụ lại thành tinh chấp”. Mật giúp cho việc tiêu hoá đồ ăn. Chất mật có màu xanh, vàng và vị đắng. Khi có bệnh ở đởm thường xuất hiện chứng vàng da, miệng đắng, nôn mửa ra chất đắng.
Đởm còn có chức năng về tinh thần, chủ về quyết đoán.
Can và đởm có quan hệ biểu lý, can chủ về mưu lự, đởm chủ về quyết đoán là cơ sở của lòng dũng cảm, tinh thần giám nghĩ giám làm. Các bệnh về can đởm hay phối hợp với nhau.
*** Vị
Vị chứa đựng và làm nhừ đồ ăn, đưa xuống tiểu trường. Tỳ và vị có liên quan biểu lý với nhau, đều giúp cho sự vận hoá đồ ăn, nên gọi chung là “gốc của hậu thiên”.
Trên lâm sàng, công tác chuẩn đoán và chữa bệnh đều rất chú trọng đến sự thình suy của tỳ vị. Khí của tỳ vị gọi tắt là “vị khí” dùng để tiên lượng sự phát triển tốt hay xấu của bệnh và dự kiến của kết quả công tác chữa bệnh, nên người xưa có nói: “vị khí là gốc của con người”, “còn vị khí sẽ sống, hết vị khí sẽ chết”. Bảo vệ vị khí là một nguyên tắc chữa bệnh của YHCT.
*** Tiểu trường
Tiểu trường có nhiệm vụ phân thanh, giáng trọc. Thanh (chất trong) là chất tinh vi của đồ ăn được hấp thụ ở tiểu trường, qua sự vận hoá của tỳ đem đi nuôi dưỡng toàn thân,cặn bã sẽ được đưa đến bàng quang để bài tiết qua ngoài. Trọc (chất đục) là cặn bã của đồ ăn đựơc tiểu trường đưa xuống đại trường.
Khi tiểu trường có bệnh, việc phân thanh giáng trọc bị trở ngại gây các chứng: sống phân, ỉa chảy, tiểu tiện ít v.v…
***Đại trường
Đại trường chứa đựng và bài tiết các chất cặn bã, có quan hệ biểu lý với phế.
*** Bàng quang
Bàng quang chứa đựng và bài tiết nước tiểu thông qua sự khí hoà vạư phối hợp của tạng thận.
Nếu sự hoá khí của thận không tốt sẽ gây bí tiểu tiện, đái dắt hoặc đái nhiều lần, tiểu tiện không tự chủ v.v…
***Tạm tiểu
Tạm tiêu gồm thượng tiêu, trung tiêu, trung tiêu. Thượng tiêu từ miệng xuống tâm vị dạ dày có tạng tâm và phế. Trung tiêu từ tâm vị dạ dày đến môn vị có tạng tỳ và phủ vị. Hạ tiêu từ môn vị dạ dày đến môn vị có tạng tỳ và phủ vị. Hạ tiêu từ môn vị dạ dày xuống hậu môn có tạng can và thận.
Kinh lạc là tên gọi chung của kinh mạch và lạc mạch trong cơ thể. Kinh là đường thẳng, là cái khung của hệ kinh lạc và đi ở sâu. Lạc là đường ngang, là cái lưới, từ kinh ngạc chia ra như mạng lưới đến khắp mọi nơi và đi ở nông. Kinh lạc phân bố ra toàn thân, là con đường vận hành của âm dương, khí huyết, tân dịch, khiến cho con người từ ngũ tạng, lục phủ, cân, mạch, cơ nhục, xương…kết thành một chỉnh thể thống nhất.
Kinh mạch và lạc mạch
Mười hai kinh mạch chính
Tay: - 3 kinh âm ,Thủ thái ấm phế, Thủ thiếu âm tâmThủ quyết âm tâm bào lạc
- 3 kinh dương:Thủ thái dương tiểu trưởng,Thủ thiếu dương tam tiêu,Thủ dương minh đại trường
Chân: 3 kinh âm:Túc thái âm tỳ,Túc thiếu âm thận,Túc quyết âm can
- 3 kinh dương:Túc thái dương bàng quang,Túc thiếu dương đởm,Túc dương minh vị.
- Tám kinh mạch phụ - Nhâm mạch - Âm duy mạch
- Đốc mạch - Dương duy mạch
- Xung mạch - Âm kiểu mạch
- Đới mạch - Dương kiểu mạch
- Kinh biệt, kinh cân, biệt lạc, tôn lạc, phủ lạc.
- 12 kinh biệt đi ra từ 12 kinh chính
- 12 kinh cân nối liền các đầu xương ở tứ chi không vào phủ phủ tạng.
- 15 biệt lạc đi từ 14 đường kinh mạch biểu lý với nhau và một tổng lạc.
- Tôn lạc: từ biệt lạc phân nhánh nhỏ.
- Phù lạc: từu tôn lạc nổi ở ngoài da.
- Huyệt
Gồm 319 huyệt ở đường kinh chính, 52 huyệt ở 2 đường kinh phụ cộng là 371 huyệt nằm trên 14 đường kinh (nếu kể cả 2 bên là 319 x 2 + 52 = 690 huyệt) và khoản cách 200 huyệt ngoài đường kinh (hiện nay bên Trung Quốc đã tìm và đặt tên thêm nhiều huyệt nữa).
- Kinh khí và kinh huyết vận hành trong kinh lạc. Ngoài tác dụng chung còn mang tính chất của đường kinh mà nó cư trú.
- TÁC DỤNG CỦA HỆ THỐNG KINH LẠC
Về sinh lý
- Hệ thống kinh lạc thông hành khí huyết trong các tổ chức của cơ thể chống ngoại tà bảo vệ cơ thể.
- Hệ thống kinh lạc liên kết các tổ chức cơ thể (tạng, phủ, tứ chi, chín khiếu, cân mạch, xương, da…) có chức năng khác nhau thành một khối thống nhất.
Về mặt bệnh lý
Khi công năng hoạt động cảu hệ kinh lạc bị trở ngại, gây kinh khí không thông suốt thì dễ bị ngoại tà xâm nhập và gây bệnh. Bệnh thường truyền từ ngoài vào trong, từ ngoài da cơ nhục vào tạng, tức là từ kinh mạch vào phủ tạng.
Bệnh ở phụ tạng thường có những biểu hiện bệnh lý ở đường kinh mạch đi qua: vị nhiệt thì loét miệng, cơn đau ngực do co thắt động mạch vành thì đau ở tâm kinh…
Về chẩn đoán
Kinh mạch nối liền với tạng phủ và có đường đi ở những vị trí nhất định cảu cơ thể. Căn cứ vào những thay đổi cảm giác (đau, tức, trướng), điện sinh vật trên đường đi cảu kinh mạch nười ta chẩn đoán bệnh thuộc tạng phủ nào đó gọi là kinh lạc chẩn. Thí dụ: Nhức đầu vùng đỉnh do can, đau nửa bên đầu do đởm, đau sau gáy thuộc bàng quang…
Ngoài ta người ta còn đo thông số về điện sinh vật của các tỉnh huyệt (huyệt tận cùng đầu chi cảu các kinh) hay nguyên huyệt (huyệt chính của một đường kinh) bằng máy đo kinh lạc để đánh giá được tình trạng hư thực của khí huyết (huyết tay trái, khí tay phải) hoặc tình trạng hư thực cảu phủ so với số liệu trung bình hoặc so hai bên cơ thể với nhau…
Về chữa bệnh
Học thuyết kinh lạc được ứng dụng nhiều nhất vào phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu, xoa bóp và thuốc.
Châm cứu và xoa bóp đã thành một phương pháp chữa bệnh độc đáo đạt nhiều thành tựu to lớn, sẽ được giới thiệu kỹ trong các phần sau.
Học thuyết kinh lạc chỉ đạo việc quy tác dụng của thuốc tương ứng với tạng, phủ hay đường kinh nào đó gọi là sự quy kinh của thuốc.
Thí dụ:
- Quế chi vào phế nên chữa ho, cảm mạo.
- Ma hoàng vào phế nên chữa ho hen, vào bàng quang nên có tác dụng lợi niệu.
Về sinh lý
- Hệ thống kinh lạc là nơi khí huyết vận hành để duy trì sự sống, nuôi dưỡng các tổ chức của cơ thể.
- Hệ kinh lạc liên kết các tổ chức (tạng, phủ, tứ chí, chín khiếu, cân, mạch, xương, da...) có chức năng khác nhau thành một khối thống nhất.
Về bệnh lý
Khi công năng ở chỗ nào của hệ kinh lạc bị trở ngại thì ở chỗ đó khí huyết không thông suốt dễ bị ngoại tà xâm nhập và sinh bệnh. Bệnh thường truyền từ ngoài vào trong, từ da, cơ nhục vào tạng phủ, tức là từ lạc mạch đến kinh mạch vào phủ tạng.
Bệnh ở tạng phủ thường có những biểu hiện bệnh lý ở đường kinh mạch đi qua: vị nhiệtthì loét miệng, cơn đau ngực do co thắt mạch vành là ở tâm kinh...
Về chẩn đoán
Kinh mạch nối liền với tạng phủ và có đường đi ở những vị trí nhất định của cơ thể. Căn cứ vào những thay đổi cảm giác (đau, tức, chướng), điện sinh vật trên đường đi của kinh mạch người ta chẩn đoán bệnh thuộc tạng phủ nào đó gọi là kinh lạc chẩn. Ví dụ: nhức đầu vùng đỉnh do can, đau nửa đầu do đởm; đau sau gáy thuộc bàng quang...
Ngoài ra, người ta còn đo thông số điện sinh học của các tỉnh huyệt (huyệt tận cùng đầu chi của các kinh) hay nguyên huyệt (huyệt chính của một đường kinh) bằng máy dò kinh lạc để đánh giá tình trạng hư thực của khí huyết (huyết tay trái, khí ở tay phải) hoặc tình trạng hư thực của tạng phủ, so với số liệu trung bình hoặc so hai bên cơ thể với nhau...
. Về chữa bệnh
Linh khu kinh mạch viết: "Kinh mạch có tác dụng với sự sống cái chết, chữa bách bệnh, điều hòa hư thực, không thể không thông”. Vì vậy khi chữa bệnh nhất thiết phải làm cho kinh mạch thông trở lại.
Học thuyết kinh lạc được ứng dụng nhiều nhất vào phương pháp chữa bệnh bằng phương pháp châm cứu, xoa bóp và thuốc.
Châm cứu và xoa bóp đã thành một phương pháp chữa bệnh độc đáo, đạt nhiều thành tựu to lớn.
Học thuyết kinh lạc chỉ đạo việc quy tác dụng của thuốc tương ứng với tạng, phủ hay đường kinh nào gọi là sự quy kinh của thuốc: quế chi, ma hoàng vào phế nên chữa ho, cảm mạo, vào bàng quang nên có tác dụng lợi niệu.
** Nguyên nhân bên ngoài thường gọi là lục dâm , phong hàn, thử thấp, táo, hỏa.Ở trạng thái bình thường đó là lục khí, ở trạng thái khác thường, chúng trở thành nguyên nhân gây bệnh – lục dâm.
Đăc chung lục dâm chính là nguyên nhân từ bên ngoài tác động vào cơ thể, thường dẫn đến ngoại cảm, các bệnh ở bì phu, kinh lạc và các bệnh truyền nhiễm.Các tà khí của lục dâm thường hay phối hợp với nhau gây bệnh, trong đó tà khí ‘’ phong ‘’ thường xuất hiện hơn cả, làm bệnh có tính chất đa dạng.
· Phong là chủ khí của mùa xuân phong là dương tà, hay đi lên trên và ra ngoài nên gây bệnh thường ở nửa người trên của cơ thể ( đầu mặt ) và ở phía ngoài ( cơ biểu ) nên người bệnh thường đâu đầu, ra mồ hôi, sợ gió,mạch phù.Phong là gió nên thường xuất hiện theo mùa và hay di chuyển.Nhưng chứng pong tý. Đâu các khớp có tính chất di chuyển,bệnh có yếu tố phong thường đa biến như, phong chẩn, mẩn ngứa không có chỗ cố định.Các chứng bệnh do phong thường chia làm hai loại.
**Ngoại phong : Thương phong người bệnh phát sốt, sợ gió, ra mồ hôi, mạch phù hoãn, hay đau họng, ho ngạt mũi.
- Phong hàn cảm mạo do lạnh, chảy nước mũi, sợ lạnh, sợ gió, mạch phù.
- Phong nhiệt cảm mạo có sốt, giao đoạn đầu của các bệnh truyền nhiễm, người bệnh có sốt, sợ gió, họng đỏ đau, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
- Phong thấp thường gặp trong các bệnh khớp mãn tính, khớp đau có tihs di chuyển.
- Phong thủy người bệnh thường phát sốt, sợ gió, sau đó phì mi mắt, phù mặt, đi tiểu ít.Hay gặp trong phù do dị ứng, do viêm cầu thận cấp.
- Phong chẩn trên da xuất hiện những nốt mày đay rải rác, ngứa.
· Nội Phong can tàng huyết, can chủ cân,trong trường hợp can huyết hư không nuôi dưỡng được cân mạch gọi là huyết hư sinh phong.Hay can dương thịnh sinh phong hoặc nhiệt cực sinh phong đều thuộc phạm vi chứng nội phog.Trên lâm sàng thường gặp
- Cơn tăng huyết áp dẫn đến tai biến mạch máu não.
- Sốt cao co giật.
+ Hàn : Hàn chủ khí về mùa đông.Người ta phân ra nội hàn và ngoại hàn.Ngoại hàn là hàn tà ở bên ngoài xâm nhập vào cơ thể mà gây bệnh, khi gây bệnh lại phân thành thương hàn, hàn tà gây tổn thương phần cơ biểu thì gọi là thương hàn, hàn tà trực trúng vào tạng phủ thì gọi là trúng hàn.
_ Nội hàn là do phần dương khí trong cơ thể suy giảm mà tạo nên.nội hàn và ngoại hàn tuy có khác nhau nhưng chúng luôn có mối liên quan ảnh hưởng lẫn nhau.Người dương hư nội hàn dể cảm ngoại hàn, khi hàn tà xuân nhập vào cơ thể tích tự lại thường gây tổn thương dương khí của cơ thể
‘’Tính chất của hàn tà và đặc điểm gây bệnh.
Hàn là âm tà dễ tổn thương dương khí dương khí tổn thương làm suy giảm tác dụng ôn ấm cơ thể cũng như tác dụng khí hóa cho các phủ tạng của cơ thể nên dễ xuất hiện hàn chứng suy giảm công năng của các phủ tạng.Như hàn tà xuân nhập vào cơ thể sẽ làm dương khí ở phần vệ khí bị tổn thương làm người bệnh có cảm giác gai rét, sợ lạnh.Hàn tà xuân nhập vào tỳ vị sẽ làm tỳ dương bị tổn thương làm người bệnh bụng lạnh, đau, nôn mửa, đại tiện phân nhão nát.
Hàn tính ngưng trệ sau khi xâm nhập vào kinh mạch sẽ lmf khí huyết không lưu chuyển nên gây đau tại chỗ.như chứng tý thể hàn tý gây đau lạnh các khớp, chứng vị quản thống thể tỳ vị hư hàn gây đau lạnh vùng thượng vị.
Hàn tích co rút.Hàn tà xuân nhập vào cơ thể khiến cho tấu lý ( phần chỗ chân lông) thu nhỏ lại làm người bệnh sợ lạnh, phát sốt, không ra mồ hôi, đầu và cơ thể có cảm giác đau mỏi, mạch khẩn.Hàn tà xuâm phạm vào vùng kinh mạch các khớp làm cho người bệnh co duỗi khó khăn, tay chân tê dại.
Các chứng bệnh xuất hiện do ngoại hàn.
- Cảm mạo phong hàn, người bệnh sợ lạnh, phát sốt , không ra mồ hôi, đau đầu, cơ thể và các khớp đau mỏi.
- Hàn tý( thống tý ) các khớp đua dữ dội, khi được chườm nóng thì dễ chịu, gặp lạnh thì đua tăng lên,co duỗi khó khăn.
+ các chứng bệnh xuất hiện do nội hàn.
Do dương khí trong cơ thể hư suy dẫn đến tình trạng hư hàn biểu hiện trên lâm sàng sợ lạnh chân tay lạnh, nôn ra nước trong, đại tiện phân lỏng nát.mệt mỏi...
- Tâm dương hư
- Thận dương hư
- Tỳ vị hư hàn
Thử : Thử là chủ khí của mùa hạ, nó do hỏa nhiệt mà hóa ra.
Tính chất của thử tà và đặc tính gây bệnh.
Thử là dương tà, nó mang tính hỏa nhiệt dễ thương âm. Vì vậy khi gây bệnh thường xuất hiện các triệu chứng sốt cao, phiền khát, ra mồ hôi, mạch hồng đại.
Thử là dương tà cho nên có tinh thăng phát dễ thương khí, khí xâm nhập vào cơ thể người làm cho tấu lý dễ khai mở nên người bệnh thường ra mồ hôi. Ra mồ hôi nhiều dễ làm tổn thương tân dịch, xuất hiện miệng hôi, tâm phiền, đi tiểu đỏ ít.
Các triệ chứng bệnh hay xuất hiện do thử
- Thử nhiệt nhẹ là thương thử, sốt về mùa hè với biểu hiện người nóng ra mồ hôi, tâm phiền miệng khát, người mỏi mệt, đi tiểu ít.Nặng là trúng thử say nóng say nắng.
- Thử thấp tâm phiền miệng khát, buồn nôn, ăn ít đi tiểu ít, mệt mỏi đại tiện nát.
Thấp: là chủ khí của cuối hạ, vào thời điểm giữa mùa thu.Thấp khi gây bệnh chia ra làm nội thất và ngoại thấp.Ngoại thấp là do yếu tố thấp ( thấp tà) từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể.Thường gặp ở những người sống ở nơi ẩm thấp,hay lội nước, đi mưa nhiều dẫn đến bệnh thấp.
Đặc tính của thấp: thấp có nặng và đục nên bị thấp tà gây bệnh thấy đầu nặng, cơ thể nặng nề khó vận động, tứ chi đau mỏi, ngoài da tê bì, các khớp co duỗi khó khăn đại tiện phân nhão nát, nước tiểu đục, phụ nữa ra khí hư nhiều, các bệnh ngoài Da ( thấp chẩn) gãi chảy nước.
Thấp tính dính ngưng: dính là nhờn dính, ngưng là đình ngưng.
Thấp là âm tà, để ảnh hưởng tới lưu chuyển khí trong cơ thể và đễ tổn thương dương khí nên người bệnh dễ xuất hiện ngực bụng tức chướng.
Các chứng bệnh hay xuất hiện do thấp: Ngoại thấp Phong thấp( biểu chứng) phát sốt, sợ gió, ra mồ hôi mà nhiệt không giả, đầu mình nặng nề, tứ chi đau tê..
. hàn thấp,thử thấp, thấp chẩn, thấp tý.
Nội thấp: chủ yếu bệnh lý của hội chứng tỳ vị hư hàn hay chứng thủy thũng do tỳ thận dương hư và chứng đới hạ(ra khí hư nhiều) ở phụ nữ do tỳ hư.
Táo : là chủ khí cuối mùa thu, khí hậu bắt đầu lạnh và khô táo.Táo phân thành ngoại táo và nội táo.Ngoại táo là do cảm thụ yếu tố táo từ môi trường ngoài xâmphamj vào cơ thể mà gây bệnh, đa số qua con đường từ miệng và mũi đi vào.
Tính chất và đặc điểm gây bệnh của táo.
- Táo tính khô nên dễ gây tổn thương tới tân dịch, trên lâm sàng thường thấy, miệng mũi khô, họng khô khát,da khô, đại tiện táo.
- Táo dễ gây tổn thương phế, tạng phế thích thanh túc, nhu nhuận, nên dễ bị táo làm tổn thương.
- Các cứng bệnh hay xuất hiện do táo
Chứng ngoại táo: - Ôn táo phát sốt, hơi sợ gió, sợ lạnh, đau đầu, ra mồ hôi ít, miệng khát, tâm phiền...
- Lương táo: sợ lạnh, phát sốt, đau đầu không ra mồ hôi, ho khan, ít đờm
Chứng nội táo: Do nhiều nguyên nhân đãn đến tiêu hao tân dịch hay dinh huyết của cơ thể như ra mồ hôi, nôn mửa, ỉa chảy.
Hỏa : Hỏa và nhiệt đều do dương mạnh sinh ra vì vậy hỏa và nhiệt đều có thể lấy lẫn tên.Tuy vậy, nếu phân biệt kỹ thì giữa hỏa và nhiệt cũng có những điểm khác nhau.Nhiệt đa số là ngoại tà từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể như: Phong nhiệt, thấp nhiệt, thử nhiệt.Hỏa do đa số cơ thể sinh ra như: tâm hỏa vượng, can hỏa vượng.Hỏa nhiệt cũng phân thành nội và ngoại.Thuộc ngoại cảm đa số là trực tiếp cảm thụ ôn nhiệt tà khí dẫn đến, thuộc nội sinh đa số thường do âm, dương, khí,huyết rối loạn mà tạo thành.
Đặc điểm gây bệnh và tính chất của hỏa nhiệt tà khí.
Hỏa nhiệt là dương tà, nó có tính chất thượng thăng.
Tổn thương âm dịch hỏa nhiệt tà có thể làm tiêu thương âm dịch, người bệnh sốt,khát nước.
Sinh phong động huyết hỏa nhiệt tà khí xâm phạm vào cơ thể thường sinh đốt can kinh, tiêu tổn âm dịch
Các chứng bệnh hay xuất hiện do hỏa nhiệt.
- Ngoại cảm, thường thấy trong các bệnh ôn nhiệt.Người bệnh phát sốt, sợ lạnh,đâu đầu, sưng đau họng, miệng khô khát, uống nhiều nước.
- Nội thương: chủ yếu gây tổn thương đến tạng phủ, tùy tạng phủ nào bị bệnh mà có các hội chứng bệnh lý khác nhau.tâm hỏa vượng, can hỏa vượng, vị nhiệt.
Thất tình chỉ bảy loại cảm xúc( tình chí ) của con người là: Hỷ ( vui mừng ), Nộ (giận dữ ), Ưu (lo lắng ), Tư ( nghĩ ), Bi ( buồn rầu ) , Khủng ( sợ hãi ), Kinh (kinh sợ). Trong tình trạng bình thường, thất tình phản ánh bảy loại cảm xúc khác nhau của con người đối với sự vật khách quan bên ngoài, thuộc về phạm vi hoạt động tinh thần bình thường và không gây bệnh, chỉ khi trong trạng thái tâm lý của con người bị kích thích quá mạnh hoặc kéo dài mới có thể ảnh hưởng tới sinh lý của cơ thể, khiến cho công năng của các tạng phủ, khí huyết bị rối loạn mới phát sinh ra bệnh tật.Thất tình khi gây bệnh khác với lục dâm, lục dâm chủ yếu từ miệng mũi và bì phu mà xâm nhập cơ thể còn thất tình ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động công năng của nội tạng mà phát sinh ra bệnh, vì vậy người ta còn gọi là ‘’ Nội thương thất tình’’.
• Quan hệ giữa thất tình và tạng phủ và các đặc điểm gây bệnh của nó Hoạt động tình chí của con người với nội tạng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bởi vì hoạt động tình chí của con người nhất thiết phải lấy tinh khí ngũ tạng làm cơ sở vật chất, tất cả các loại kích thích từ môi trường bên ngoài chỉ khi tác động tới nội tạng mới có thể biểu hiện ra sự thay đổi của trạng thái tinh thần. Khi tình chí bị tổn thương sẽ ảnh hưởng tới lưu chuyển của khí trong cơ thể. Người xưa nói: “Nộ tất khí thương, mừng tất khí hoãn, buồn tất khí tiêu, khủng tất khí hạ, kinh tất khí loạn, tư tất khí kết”. Cười vui quá độ dẫn đến tâm khí tán làm thần không thể tàng ở tâm. Buồn chán quá độ dẫn đến phế khí tiêu làm giảm sút ý chí. Sợ hãi quá độ làm thận khí bất cố, khí hãm ở dưới, nhị tiện sẽ mất điều chỉnh, đó là khủng tất khí hạ. Bỗng nhiên kinh sợ sẽ dẫn đến tâm mất chỗ dựa, thần mất chỗ tàng chứa, xuất hiện hoảng loạn rối ren, đó là kinh tất khí loạn. Suy nghĩ quá nhiều sẽ dẫn đến lưu chuyển khí bị ngưng trệ làm chức năng vận hòa của tỳ bị giảm sút, đó là tư tất khí kết. Khi liên hệ trên lâm sàng thấy những biểu hiện này rất rõ.Thất tình gây bệnh tuy có ảnh hưởng đến ngũ tạng nhưng thực tiễn lâm sàng thường hay gặp nhất là ba tạng: tâm, can, tỳ. Tâm tàng thần, khi chức năng của tạng tâm bị rối loạn sẽ xuất hiện đau vùng ngực, mất ngủ, giấc ngủ không sâu, hay mê, hồi hộp trống ngực... nặng thì có thể mê sảng hay tinh thần bị kích động. Can chủ về sơ tiết, khi chức năng tạng can bị rối loạn sẽ dẫn đến can khí uất dễ cáu giận, đau vùng mạng sườn, khi thở dài thì dễ chịu, biểu hiện “mai hạch khí”, phụ nữ dễ bị rối loạn kinh nguyệt. Tỳ chủ về vận hoá, khi chức năng tạng tỳ rối loạn sẽ dẫn đến ăn uống kém, bụng chướng đầy, rối loạn đại tiện. Thất tình có thể làm các tạng phủ phát bệnh riêng rẽ hay có thể phối hợp với nhau.
Ăn uống và lao động là điều kiện thiết yếu để loài người sinh tồn và phát triển. Nhưng nếu ăn uống và lao động không hợp lý sẽ làm giảm thấp sức để kháng của cơ thể, rối loạn chức năng của các tạng phủ... làm dễ nảy sinh ra bệnh tật.
• Ăn uống là điều kiện bắt buộc để cung cấp chất dinh dưỡng, duy trì sự sống của cơ thể. Nếu ăn uống không hợp lý như:
– Ăn uống không điều hòa để no đói thất thường.
– Ăn uống không sạch sẽ, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ăn quá nặng về khẩu vị như thích ăn quá nhiều thịt mỡ, phủ tạng, gia vị cay, thích uống nhiều rượu...thì sẽ ảnh hưởng đến chức năng vận hoá của tỳ vị mà phát sinh ra bệnh tật.
• Lao động bình thường có tác dụng trợ giúp cho khí huyết lưu thông, tăng cường thể lực. Nhưng khi lao lực quá độ về công việc hay hoạt động tình dục quá độ,... đều làm tinh, khí, huyết của cơ thể tiêu hao quá mức sẽ sinh ra bệnh tật. Ngược lại nghỉ ngơi quá nhiều không tham gia lao động và rèn luyện thể lực... cũng làm sự vận hành khí huyết trong cơ thể bị ngưng trệ, sức đề kháng giảm sút mà phát sinh ra bệnh tật.
• Chế độ sinh hoạt.
** Chấn thương và trùng thú cắn
Chấn thương bao gồm bị dao, kiếm chém, đánh bị thương bằng tay chân hay gậy, tai nạn va chạm... tất cả đều làm cho bì phu, cơ nhục bị ứ huyết sưng đau, chảy máu... cân cốt bị đứt gẫy... có thể gây tổn thương đến các tạng phủ bên trong gây xuất huyết, hôn mê...Trùng thú cắn thường do gặp rắn độc, chó dại... nhẹ thì gây xây xát, chảy máu, đau, nặng thì trúng độc, hôn mê, có thể tử vong.
Chẩn đoán học trong YHCT có nhiều bước, bước đầu tiên là người thầy thuốc phải thu thập, khai thác những triệu chứng chủ quan và khác từ người bệnh thông qua hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng. Để thực hiện, trong YHCT sử dụng bốn phương pháp thu thập triệu chứng làm cơ sở cho chẩn đoán, gọi tắt là tứ chẩn. Tứ chẩn là bốn phương pháp, trong đó có Nhìn (vọng chẩn), nghe và ngửi (Văn chẩn), hỏi (Vấn chẩn) và xem mạch, sờ nắn thăm khám (thiết chẩn). Thông qua tứ chẩn người thầy thuốc tìm hiểu diễn biến, hiện trạng, tiền sử, tiên lượng của bệnh tật để căn cứ vào đó phân tích, tổng hợp, lý giải nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh kinh lạc, tạng phủ hay hội chứng lục kinh, vệ khí dinh huyết, tam tiêu.
Nội dung của chẩn đoán học trong YHCT bao gồm: Bốn phương pháp để khám bệnh: tứ chẩn. Tám cương lĩnh để xác định vị trí, tính chất, trạng thái, và xu thế chung của bệnh tật gọi là Bát cương. Các hội chứng về bệnh: khí huyết, kinh lạc, tạng phủ, lục kinh, vệ khí dinh huyết, tam tiêu.
Vấn chẩn (hỏi bệnh)
Vấn chẩn là khâu quan trọng nhất trong Tứ chẩn. Thông qua hỏi bệnh một cách tỉ mỉ, người Thầy thuốc thường có khái niệm tương đối về bệnh tật, bao gồm: thời gian phát bệnh, nguyên nhân, quá trình diễn biến của bệnh tật, tình hình chẩn đoán và điều trị trước đó, bệnh sử gia đình, bản thân, tập quán sinh hoạt và môi trường sống của người bệnh. Ngoài khai thác đó ra còn có:
1.1. Hỏi về hàn – nhiệt và mồ hôi
Chủ yến hỏi về có hay không có phát sốt, sợ lạnh? Thời gian ngắn hay dài? Mức độ nặng hay nhẹ? Có hay không có mồ hôi, tính chất và lượng nhiều hay ít? Bệnh mới bắt đầu có phát sốt, sợ lạnh là ngoại cảm biểu chứng.
1.2. Hỏi về đầu, thân và bụng
Hỏi về đặc điểm, tính chất, vị trí và thời gian diễn biến của bệnh:
VD: +) Đầu đau và váng đầu:
Đầu đau liên tục, chủ yếu ở hai bên thái dương kèm theo phát sốt, sợ lạnh.. đa số là do ngoại cảm
Đầu đau với tính chất đau, khi ngừng, thường kèm theo hoa mắt, chóng mặt, không nóng, không lạnh .. đa số là do nội thương – lý chứng
Đầu đau chỉ mõi bên đầu, hay đau nhiều về một bên đầu .. đa số là thuộc về nội phong (can đởm phong hỏa – thiên đầu thống)
2. Thân mình đau mỏi:
Toàn thân đau mỏi, phát sốt, sợ lạnh .. đa số do ngoại cảm
Đau mỏi người lâu ngày .. đa số là do khí huyết bất túc
Đau mỏi vùng thắt lưng .. đa số là thuộc thận hư
Các khớp ở tứ chi, cân cốt, trong cơ bắp, có cảm giác đau tê, hay các khớp sưng đau mang tính chất di chuyển hay cố định .. đa số là do phong hàn thấp tý
3. Đau tức vùng ngực:
Ngực đau, sốt cao, khạc ộc ra máu mủ .. đa số là do phế ung (áp xe phổi)
Ngực đau, kèm theo sốt về chiều, ho khan, ít đờm, trong đờm có dính máu .. đa số là do Phế lao (lao phổi)
4. Đau vùng bụng:
Đau bụng vùng bụng trên, nôn khan hay nôn ra nước bọt trong, gặp lạnh thì đau tăng lên .. đa số vị hàn
2.3. Hỏi về ăn uống:
Cần hỏi rõ ăn uống những gì? Lượng ăn, khẩu vị, phản ứng sau khi ăn cho tới cảm giác khát, uống nước
Vd: Không thích ăn uống,mà thường hay ợ hơi là vị có tích ngưng
2.4. Hỏi về đại tiểu tiện:
Hỏi về tình trạng của đại tiểu tiện như:
Đại tiện phân khô hay táo, khó ra, toàn thân có sốt .. đa số thuộc nhiệt chứng, thực chứng. Đại tiện táo bón ở người đã mắc bệnh lâu, ở người già, phụ nữ mới đẻ .. đa số thuộc khí hư, hoặc tân dịch bị thương tổn
2.5. Hỏi về giấc ngủ
Chủ yếu là tìm về mất ngủ, ngủ dễ tỉnh hoặc ngủ hay mê
Đêm khó ngủ, ăn uống giảm sút, mệt mỏi, hay quên thường hồi hộp, tinh thần dễ hoảng hốt .. là chứng Tâm tỳ lưỡng hư, đa phần là do suy nghĩ, lo lắng quá mức mới tạo thành.
2.6. Hỏi về tai
Quan hệ giữa các tạng phủ như can thận, đởm có liên quan mật thiết
Người bị điếc cơ năng lây ngày đa số là do thận hư, khí hư
2.7. Hỏi bệnh phụ nữ, trẻ em
Đối với phụ nữ hỏi về đã kết hôn hay chưa kết hôn.
Kinh nguyệt thì hỏi bắt đầu có kinh, khi nào hết kinh, chu kỳ thường kéo dài bao nhiêu lâu. Số lượng nhiều hay ít? Tính chất kinh nguyệt, có thống kinh hay không, mùi và màu sắc của khí hư, cho tới tình hình sinh đẻ, có hay không có đẻ khó, có lần sảy, nạo hút thai nào không
Vọng chẩn là thông qua quan sát sắc mặt về tinh thần sắc thái, tình trạng .. của người bệnh, để tìm hiểu về tình trạng chung của cơ thể. Thông qua quan sát sự biến đổi của lưỡi .. để giúp thêm một bước về phân tích tính chất của bệnh tật.
3.1. Nhìn quan sát chung cho toàn trạng:
Thần sắc: tinh thần và sắc thái
Vd: Tinh thần ủ rũ mắt không có quang – vô thần, nét mặt lờ đờ, chậm chạp hay sắc mặt tối tăm, ủ rũ .. biểu hiện chính khí đã tổn thương
Hình thái:
VD: Hình thể gầy mòn, tay chân mỏi mệt, da khô là khí huyết đều hư. Người béo bệu, ăn kém là tỳ hư có đàm. Người gầy ăn kém là trung khí hư nhược, người gầy, ăn nhiều là trung tiêu có hỏa (vị hỏa)
Nếu trên bề mặt da bì phu xuất hiện các nốt ban hay chẩn .. thì gọi là ban chẩn đa số là bệnh nội nhiệt.
3.2. Quan sát lưỡi, thiệt chẩn
Thông qua quan sát lưỡi, thiệt chẩn, người thầy thuốc có thể tìm hiểu được tình trạng hư thực của tạng phủ, mạnh yếu của khí huyết, tồn vong của tân dịch.Bệnh thuộc hàn hay thuộc nhiệt, âm hư hay dương hư đều có thể phản ánh qua quan sát lưỡi
Chất lưỡi là chỉ phần cơ của lưỡi. Giữa chất lưỡi với các tạng phủ đều có mốt quan hệ mật thiết với nhau, mối quan hệ này thể hiện trên đặc điểm từng vị trí của lưỡi. Đầu lưỡi phản ánh của hai tạng Tâm phế, như đầu lưỡi đỏ là biểu hiện của tâm hỏa vượng. Vị trí hai bên lưỡi phản ánh cảu tạng phủ Can đởm, như bên lưỡi có tử ban là biểu hiện của Can đởm uất nhiệt huyết ứ. Vị trí ở giữa lưỡi phản ánh của tạng phủ Tỳ vị. Vị trí gốc lưỡi phản ánh của tạng thận
Màu sắc và độ trơn nhuận của lưỡi:
Sắc lưỡi mà nhợt là huyết hư, dương hư hay hàn chứng. Sắc lưỡi nhợt mà không rêu là khí huyết lưỡng hư. Sắc lưỡi nhợt mà trơn nhuận là hàn mà đa phần do dinh dưỡng kém hay thiếu máu.
Văn chẩn là phương pháp thăm khám bao gồm có nghe âm thanh và ngửi khí vị
Nghe âm thanh: là nghe tiếng nói, tiếng thở, tiếng ho, tiếng nấc
Người bệnh mà nói giọng trầm yếu, ngắt quãng, hụt hơi.. đa số thuộc hư chứng. Ngược lại tiếng nói có lực, mạnh, to đa số là thực chứng
Giọng nói đột nhiên ngọng là thực chứng do trúng phong hay đàm trệ
Tiếng thở ngắn và yếu sau khi hít vào thì thấy cảm giác dễ chịu .. là hư chứng. Tiếng thở thô, sau khi thở ra thì cảm thấy dễ chịu .. là thực chứng, có hơi nóng là nhiệt chứng.
Tiếng ho mà vô lực là phế khí hư, tiếng ho mà nặng, đục, khạc đờm trắng .. là do ngoại cảm phong hàn. Tiếng ho trong rõ, đờm khó khạc là do phế nhiệt. Ho thành từng cơn, có lực .. là thực chứng
Tiếng nấc mạnh, có lực, mạch hoạt thực .. là do thực nghịch. Tiếng nấc âm cao ngắn, phiền khát, mạch sác là nhiệt nghịch. Tiếng nấc âm yếu, mạch vô lực, kèm theo toàn thân hư nhược là hư nghịch. Bệnh nặng kéo dài mà bỗng nhiên xuất hiện nôn, nấc là dấu hiệu báo bệnh chuyển nguy hiểm.
Ngửi khí vị bao gồm có ngửi khí vị thân thể, khoang miệng và các chất thải tiết
Khí vị của cơ thể: cơ thể có vết loét nhiễm trùng sẽ phát sinh mùi hôi có mủ.
Miệng hôi khi thở, khi nói .. thường phế vị có nhiệt. Mùi hôi chua là ở vị có thực ngưng. Khi bệnh nhân ho khạc ra đờm vàng đặc, mùi tanh là phế nhiệt, đờm nhiều đặc có mủ, hôi, tanh là phế ung.
Thiết chẩn bao gồm bắt mạch, thăm khám tứ chi và các bộ phận của cơ thể (xúc chẩn)
Phương pháp bắt mạch:
Người thầy thuốc đặt các ngón tay của mình lên cổ tay người bệnh, chỗ có động mạch quay đi qua, gọi là Thốn khẩu. Đoạn động mạch quay đi qua cổ tay chia làm 3 bộ: Bộ Thốn, bộ Quan, bộ Xích.
Bắt mạch, người thầy thuốc đặt nón tay giữa vào bộ Quan, sau đó đặt ngón tay trỏ vào bộ Thốn, rồi đặt ngón tay đeo nhẫn vào bộ Xích.
Khi bắt mạch, yêu cầu phải dùng lực các ngón tay khác nhau để xem xét tỷ mỉ. Khi ngón tay đặt nhẹ thì gọi là khinh án. Khi ngón tay đã hơi dùng lực thì gọi là trung án. Khi ngón tay đã dùng lực ấn sâu xuống thì gọi là trọng án.
Đặc điểm và bệnh chứng khi bắt mạch:
Mạch bình thường là một lần hô hấp thì tương đương với mạch đập 4 lần-5 lần (khoảng 60-80 lần/phút) có lực, không phù, không trầm, không to không nhỏ, mạch đều hòa hoãn thì gọi là mạch hoãn.
Xem mạch có thể xem chung cả 3 bộ (tổng khán) để nhận định tình hình chung và xem từng bộ vị (Vi khán) để nhận định tình hình từng tạng phủ
Ba bộ Thốn, Quan, Xích sử dụng để chẩn đoán bệnh chứng của các tạng phủ khác nhau với sự tương ứng khác nhau ở mỗi bộ.
Phía bên cổ tay trái, bộ Thốn tương ứng với tạng Tâm, bộ Quan tương ứng với tạng Can, bộ Xích tương ứng với Thận âm.
Phía bên cổ tay phải, bộ Thốn ương ứng với tạng Phế, bộ Quan tạng Tỳ, bộ Xích tạng Thận dương.
Để đánh giá tình hình của từng tạng phủ thường phối hợp cả hai cách: tổng khán trước rồi vi khán rồi.
Chẩn đoán bát cương bao gồm: hội chứng dương, hội chứng biểu, hội chứng thực, hội chứng nhiệt, hội chứng âm, hội chứng lý, hội chứng hư và hội chứng hàn (Âm dương, Biểu lý, Thực Hư, Hàn nhiệt)
Hội chứng Hàn nhiệt:
Nói lên tính chất của bệnh, gồm triệu chứng hàn hoặc nhiệt của bệnh nhân. Nếu bệnh thuộc nhiệt mà dùng phương pháp điều trị là nhiệt sẽ gây bệnh nặng hơn “nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng”. Nếu bệnh thuộc hàn mà dùng phương pháp hàn để điều trị sẽ gây nguy hiểm “hàn ngộ hàn tắc tử”
Triệu chứng của hàn: da xanh, mặt tái, sợ lạnh, thích ấm nóng, gặp lạnh bệnh tăng, gặp ấm thì đỡ, phần thường nát, nước tiểu trong, nhiều, sờ chân tay lạnh, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trì. Cơ chế hàn do âm thịnh.
Triệu chứng nhiệt: mặt đỏ, môi đỏ, gò má đỏ, trong người háo khát. Sợ nóng, đại tiện táo, nước tiểu vàng, ít, sờ chân tay nóng, chất lưỡi đỏ khô, rêu lưỡi vàng, mạch sác. Cơ chế sinh nhiệt là dương thịnh
Hội chứng Hư thực:
Nói lên tình trạng bệnh. Hư là tình trạng chính khí hư yếu vì vậy trong điều trị cần dùng phép bổ để nâng chính khí, nếu dùng phép tả sẽ làm chính khí hư thêm. Thực là do chính khí còn mạnh tà khí xâm phạm gây nên triệu chứng rầm rộ điều trị cần dùng phép tả để đẩy lui tà khí tránh dùng phép bổ làm đưa tà khí vào sâu trong lý gây thêm bệnh.
Triệu chứng của hư: người gầy, mệt mỏi, da xanh, không thích hoạt động, không có rêu lưỡi, thở yếu, ngắt quãng, nói nhỏ, không có lực, tim đập hồi hộp vết thương sâu, thâm, loét nát, lâu liền, phân nát, sống phân, tiểu tiện dễ, hay tiểu đêm, ra mồ hôi, cơ nhẽo, lưỡi bệu nhợt hoặc mềm không linh hoạt, mạch vô lực hoặc vi tế
Triệu chứng của thực: bệnh mới mắc, bồn chồn, ưa hoạt động, sắc mặt hồng, hơi thở hôi mạnh, nói to, chất thải hôi, đại tiện thường táo, tiểu tiện thường ít, đau cự án, rêu lưỡi dày cáu, mạnh thực có lực.
Hội chứng biểu lý:
Nói lên vị trí của bệnh đang ở nông (biểu) hay sâu (lý)
Triệu chứng của biểu: bệnh ở biểu có triệu chứng ở da, cơ, khớp. VD bệnh đau đầu, bệnh truyền nhiễm ở giai đoạn khới phát có các triệu chứng đặc trưng là sốt, ố hàn, đau đầu, mạch phù, rêu lưỡi trắng mỏng.
Triệu chứng của lý: bệnh ở lý là bệnh ở các tạng, phủ, mạch thường trầm
Hội chứng âm dương
Dương gồm các hội chứng của biểu, hội chứng của nhiệt và hội chứng của thực
Âm gồm có hội chứng của lý, hội chứng của hàn và hội chứng của hư
Âm và dương khi mất cân bằng sẽ sinh ra các hội chứng:
Âm hư: “Âm hư sinh nội nhiệt” bệnh nhân thường sốt nóng kéo dài, sốt về chiều. Mặt đỏ, tiểu tiện vàng, đại tiện táo, háo khát, họng khô, da khô. Lòng bàn tay, bàn chân nóng. Người gầy, không thích hoạt động, đau lưng, ù tai, cơ teo nhẽo, ngủ kém, lưỡi đỏ, gầy, mạch tiểu tế, vô lực, sác.
Dương hư: “Dương hư tất ngoại hàn”. Bệnh nhân sợ lạnh, da xanh, đại tiện phân nát, có thể sống phân, nước tiểu trong, hay tiểu đêm, găp lạnh bệnh tăng, thích nóng, không khát nước, chân tay lạnh, nằm co, lưng gối yếu, có thể có liệt dương, lưỡi bệu nhạt, mạch vi vô lực
Sự phối hợp của biểu lý và hư thực
Biểu hàn: gồm các triệu chứng của biểu và triệu chứng của hàn
VD: Cảm mạo phong hàn, đau dây thần kinh do lạnh
Biểu hư: gồm các triệu chứng của biểu, bệnh lâu ngày, ra mồ hôi
Lý nhiệt: vừa có triệu chứng của lý vừa có triệu chứng của nhiệt. VD: phế nhiệt
Lý thực: vừa có triệu chứng của lý, vừa có triệu chứng của thực
Bán biểu bán lý: hội chứng bệnh vừa lý vừa biểu hoặc có thể nhiệt vãng lai, lúc sốt nóng, lúc sốt rét.
Biểu lý đồng bệnh: chứng biểu kiêm chứng lý hoặc chứng lý kiêm chứng biểu
Sự tháp tạp của bát cương:
Hư chung hiệp thư: chứng hư kiêm chứng thực.
VD: Sa sinh dục có viêm nhiễm. Sa sinh dục do tỳ hư hạ hãm thuộc chứng hư, viêm nhiễm là do thấp nhiệt gây ra thuộc chứng thực.
Thực trung hiệp hư: VD cổ trướng (chứng thực) dần dần người gầy đi (chứng hư)
Thượng nhiệt hạ hàn: ở phần trên cơ thể có triệu chứng nóng, dưới có triệu chứng lạnh. VD can thình tỳ hư có triệu chứng mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, bốc nóng, ngực sườn đầy tức nhưng lạnh bụng, đau bụng, ỉa lỏng, kém ăn
Biểu lý thác tạp: người bệnh vừa có chứng nhiệt vừa có chứng hàn.
Chân giả của bát cương:
Chân giả là triệu chứng bên ngoài không thật đúng với bản chất ở bên trong của bệnh hoặc nguyên nhân gây bệnh cụ thể
Chân hàn giả nhiệt
Chân nhiệt giả hàn
- Bát cương biện chứng: đây là tổng hợp của các loại biện chứng, là cơ sở và có mối liên hệ chặt chẽ với các loại biện chứng khác
- Tạng phủ biện chứng: chủ yếu vận dụng với các bệnh nội khoa, đồng thời cũng là cơ sở cho các loại biện chứng khác
- Khí huyết tân dịch biện chứng với tạng phủ biện chứng cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
- Lục kinh biện chứng, vệ khí dinh huyết biện chứng và tam tiêu biện chứng: ba loại biện chứng này chủ yếu vận dụng với các bệnh ngoại cảm, truyền nhiễm.
- Hội chứng khí hư: biểu hiện chức năng của các tạng phủ bị suy giảm
Triệu chứng lâm sàng: người bệnh thường thở ngắn, mệt mỏi, tự ra mồ hôi, váng đầu, hoa mắt.. khi vận động các triệu chứng thường nặng hơn, lưỡi nhợt, mạch hư, vô lực
Pháp điều trị: bổ khí, ích khí
Bài thuốc: tứ quân tử thang
- Hội chứng khí trệ: biểu hiện sự hoạt động khí hóa của một tạng phủ nào đó suy giảm
Triệu chứng lâm sàng: người bệnh có cảm giác tức chướng và đau tùy theo từng vị trí.
Nếu ở vùng mạng sườn (gọi là hiếp thống do khí trệ ở can đởm)
Nếu vùng thượng vị (gọi là quản thống do khí trệ ở tỳ vị)
Nếu ở cả vùng bụng (gọi là phúc thống do khí trệ ở đại tiểu trường)
Thông thường kèm theo đầy chướng, ợ hơi, trung tiện thì giảm đau
Pháp điều trị: hành khí
Bài thuốc cổ phương: kim linh tử tán
- Hội chứng khí nghịch: khí nghịch là chỉ lưu chuyển khí của các tạng phủ thăng giáng thất thường không thuận, thông thường thì khí của các tạng phủ phế vị can hay thượng nghịch hoặc hoành nghịch.
Triệu chứng lâm sàng:
Phế khí thượng nghịch: ho, khó thở, tức ngực
Vị khí thượng nghịch: nấc, ợ hơi, lợm giọng, buồn nôn
Can khí hoành nghịch: đau hai bên mạng sườn, đau đầu, hoa mắt, có khi nôn ra máu.
Pháp điều trị chung là: giáng khí trấn nghịch
Bài thuốc cổ phương: tùy từng tạng phủ
Phế khí thượng nghịch: tô tử giáng khí thang
- Hội chứng khí hãm: là bệnh biến của khí hư
Triệu chứng: triệu chứng của khí hư kết hợp với sa tạng phủ như sa trực tràng, sa sinh dục, sa dạ dày
Pháp điều trị: ích khí thăng đề
Bài thuốc: bổ trung ích khí thang
Hội chứng bệnh về huyết được phân làm bốn thể: huyết hư, huyết ứ, huyết nhiệt, và xuất huyết
- Hội chứng huyết hư: huyết không đủ để nhu dưỡng tạng phủ kinh lạc
Triệu chứng lâm sàng: sắc mặt nhợt nhạt, môi nhợt, hao mắt, chóng mặt, váng đầu, tim đập hồi hộp, ngủ ít, tay chân có cảm giác tê bì .. phụ nữ kinh nguyệt ra ít, thậm chí bế kinh, chất lưỡi nhợt, mạch tế, vô lực
Pháp điều trị: bổ huyết
Bài thuốc cổ phương: Tứ vật thang
- Hội chứng huyết ứ: huyết dịch vận hành trong kinh mạch bị đình trệ do vận hành rối loạn, hay đã thải ra ngoài nhưng chưa tiêu tán hết bị ứ đọng lại đều thuộc về huyết ứ
Triệu chứng: đau tại nơi huyết ứ
Pháp điều trị: hoạt huyết hóa ứ
Bài thuốc:
Huyết ứ kết hợp với khí hư: bổ khí, hoạt huyết :Bổ dương hoàn ngũ thang
Huyết ứ kết hợp với huyết hư: hoạt huyết dưỡng huyết : Tứ vật đào hồng thang
- Hội chứng huyết nhiệt: do nhiệt tà xâm phạm huyết mạch, làm phần huyết có nhiệt, thậm chí bức huyết vong hành
Triệu chứng: người bệnh thường tâm phiền, miệng khô, không thích uống nước. toàn thân thường phát sốt, sốt cao về đêm, mạch tế sác, lưỡi đỏ sẫm. Nếu nhiệt mạnh bức huyết vong hành thì gây ra xuất huyết dươi da, nôn ra máu, đại hay tiểu tiện ra máu. Phụ nữ thường có kinh nguyệt trước kỳ, lượng kinh nhiều.
Pháp điều trị: thanh nhiệt lương huyết
Bài thuốc: Thanh dinh thang
- Hội chứng xuất huyết:
Triệu chứng: bệnh nhân thường sốt cao vật vã, xuất huyết thì thường màu máu đỏ tươi, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác
Tỳ hư không nhiếp huyết: màu máu nhợt, ra máu kéo dài, chất lưỡi nhợt, mạch tế nhược, vô lực
Huyết ứ: mà đỏ sẫm, có cục, thường đau dữ dội, chất lưỡi xanh tím, có ban ứ huyết, mạch sáp
Pháp điều trị: Lương huyết chỉ huyết: Tê giác địa hoàng thanh
Bổ khí nhiếp huyết: Quy tỳ thang
Hoạt huyết chỉ huyết: Tiêu dao thang gia Đào nhân, Hồng hoa
- Hội chứng tân dịch không đủ: tân dịch không đủ thì sẽ làm mất tác dụng nhu nhuận và tư dưỡng cơ thể dẫn đến táo chứng
Triệu chứng lâm sàng: họng khô, môi khô, lưỡi khô, da khô, người bệnh thường khát nước, đi tiểu ít, đại tiện táo, mạch tế sác
Pháp điều trị: tăng bổ tân dịch
Bài thuốc: Tăng dịch thang
- Hội chứng tân dịch ứ trệ: đa số do chức năng của ba tạng Phế, Tỳ, Thận bị rối loạn mà dẫn đến các chứng: đàm, ẩm, thủy thủng .. ở một bộ phận hay toàn thân
Triệu chứng: tùy theo bộ phận bị bệnh, như đàm ẩm ứ trệ ở Phế sẽ dẫn đến: háo suyễn (khó thở), khạc đờm nhiều, tức ngực. Nếu toàn thân sẽ dẫn đến chứng thủy thủng: phù toàn thân, cổ trướng
Pháp điều trị và bài thuốc cổ phương:
Do phế: thông dương hóa ẩm, dùng bài Tiểu thanh long thang
Do Tỳ: kiện tỳ hóa ẩm, dùng bài Thực tỳ ẩm
Do Thận: ôn thận lợi thủy, dùng bài Chân vũ thang kết hợp Ngũ linh tán
5. Tên các hội chứng bệnh của tạng tâm, tỳ, phế, thận, can, pháp điều trị và bài thuốc cổ phương đối với mỗi hội chứng
1.1. Tạng Tâm:
Tâm khí hư và tâm dương hư:
- Tâm khí hư: mệt mỏi, tự hãn, lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch hư hoặc kết đại
Pháp điều trị: bổ ích tâm khí, dũng bài Dưỡng tâm thang
- Tâm dương hư: sắc mặt trắng bệch, sợ lanh, tay chân lạnh, đau vùng tim, lưỡi nhợt, tím, bệu, mạch vi tế
Pháp điều trị: ôn bổ tâm dương, dùng bài Bảo nguyên thang
- Tâm dương hư thoát: đột nhiên mồ hôi ra như tắm, tay chân lạnh giá, miệng môi tím, thở yếu, tinh thần lơ mơ, mạch vi tế
Pháp điều trị: hồi dương cứu nghịch, dùng bài Sâm phụ thang.
Tâm huyết hư và tâm âm hư:
- Tâm huyết hư: hay quên, ngủ kém, giấc ngủ không sâu, hay mê, nhức đầu, chóng mặt, sắc mặt và môi lưỡi nhợt, mạch tế nhược
Pháp điều trị: dưỡng huyết an thần, bài Tứ vật thang gia táo nhân, bá tử nhân, phục thần
- Tâm âm hư: đánh trống ngực, hay quên, ngủ kém, tâm phiền, lòng bàn tay chân nóng, đạo hãn, miệng họng khô, lưỡi đỏ, mạch tế sác
Pháp điều trị: Thiên vương bổ tâm đan
Tâm hỏa vượng:
Triệu chứng: tâm phiền, mất ngủ, mặt đỏ, miệng khát. Miệng và lưỡi sinh ra các mụn rộp, lưỡi đỏ, mạch sác. Nếu nặng hơn xuất hiện cơn cáu giận, vật vã, đái buốt, đái dắt, đái ra máu
Pháp điều trị: Thanh tâm giáng hỏa, dùng bài Tả tâm thang. Khi có đái buốt, đái rắt, đái máu thì thanh tâm, dùng bào Đạo xích tán.
Tâm huyết ứ:
Triệu chứng: tâm phiền, đau tức vùng ngực, đau nặng, có khi cảm giác như dao đâm, đau lan lên vai, vào phía cạnh tay, hay tái phát. Chất lưỡi tím, có điểm ứ huyết. Mạch tế sác hoặc đại. Nặng thì đau dữ dội, môi xanh tím, tay chân lạnh, có khi hôn mê, mạch vi muốn tuyệt.
Pháp điều trị: Thông dương hóa ứ, dùng bài Chỉ thực thông bạch, quế chi thang kết hợp với Thông khiếu hoạt huyết thang. Nếu tâm dương bạo tuyệt, chuyển sang pháp Hồi dương cứu nghịch, dùng bài Sâm phụ thang.
1.2. TẠNG PHẾ
Phế khí hư:
Triệu chứng: người mệt mỏi, thở yếu, tiếng ho yếu, tiếng nói nhỏ yếu. Khi vận động thì khó thở tăng. Người bệnh tự hãn, sợ lanh, sắc mặt nhợt, mạch hư nhược
Pháp điều trị: Bổ phế ích khi, dùng bài Tứ quân tử gia Hoàng kỳ, ích khí cổ biểu, dùng bài Ngọc bình phong tán.
Phế âm hư:
Triệu chứng: ho khan, khó thở, có thể có ít đờm, nhưng dính hoặc đờm có lẫn tia máu, miệng họng thì khô, tiếng nói khan, người gầy dần, có trường hợp còn hay sốt về chiều, ngũ tâm phiền nhiệt, đạo hãn, gò má đỏ, lưỡi đỏ khô, mạch tế sác
Pháp điều trị: tư âm nhuận phế, dùng bài Bách hợp cố kim thang
Phong hàn phạm phế:
Triệu chứng: ho, khó thở, khạc đờm trắng loãng, miệng không khát, mũi hay có cảm giác ngạt, tắc, nước mũi trong, sợ lanh, phát sốt, đầu và người cảm giác đau mỏi, rêu lưỡi trắng, mạch khẩn
Pháp điều trị: tuyên hế tán hàn, dùng bài Hạnh tô tán
Phong nhiệt phạm phế:
Triệu chứng: ho, khó thở, tiếng thở thô, khạc đờm vàng đặc, miệng khát, họng đau hoặc thấy phát sốt, hơi sợ gió và sợ lạnh, đau ngực, đại tiện, thường táo, tiểu tiện ít, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch sác.
Pháp điều trị: thanh nhiệt tuyên phế, chỉ khái bình suyễn. Nhẹ thì dùng bài Tang cúc ấm hoặc Ma hạnh thạch cam thang.
Đàm thấp tại phế:
Triệu chứng: ho, khạc đờm nhiều, sắc trắng dính, dễ khạc, tức ngực, khi thở thấy đờm lọc xọc, lưỡi nhớt, rêu lưỡi trắng dính, mạch huyền hoạt hoặc nhu hoãn
Pháp điều trị: táo thấp hóa đàm, dùng Nhị trần thang kết hợp Tam tử thang.
1.3. TẠNG TỲ
Tỳ khí hư:
Triệu chứng: ăn uống kém, sau khi ăn có cảm giác đầy chướng đại tiên phân nát nhão, tiếng thở yếu, ngại nói. Tay chân ngại vận động, người gầy sắc mặt hơi vàng, không tươi, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi vàng, mạch hoãn nhược
Pháp điều trị: ích khí, kiện tỳ, dùng bài Tứ quân từ thang hoặc Lục quân tử thang
Tỳ khí hư hạ hãm:
Triệu chứng: biểu hiện tỳ khí hư và kết hợp với ỉa chảy khéo dàu, sa dạ dày, sa trực tràng hay sa sinh dục ở phụ nữ
Pháp điều trị: ích khí thăng đề, dùng Bổ trung ích khí thang
Tỳ bất nhiếp huyết:
Triệu chứng: hội chứng tỳ khí hư hay tỳ dương hư yếu kết hợp với xuất huyết dưới da, đại tiện ra máu, phụ nữ kinh nguyệt ra nhiều, rong kinh, rong huyết
Pháp điều trị: ích khí nhiếp huyết, dùng Quy tỳ thang
Tỳ dương hư:
Triệu chứng: ăn uống kém, bụng có cảm giác đầy bụng chướng sau khi ăn. Khi bụng có cảm giác đau thì xoa nắn hay chườm nóng người bệnh có cảm giác dễ chịu. Miệng nhạt, không khát, đại tiện phân nát. Tay chân có cảm giác nặng nề.
Pháp điều trị: ôn trung kiện tỳ, dùng bài Lý trung thang hay phụ tử lý trung thang
Tỳ vị hàn thấp:
Triệu chứng: người bệnh thường chướng bụng, không có cảm giác thèm ăn, dễ nôn, nấc. Miệng nhạt, không khát, bụng đau, đại tiện phân nát. Đầu và thân mình có cảm giác nặng hay phù, sắc mặt thường vàng tối, chất lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch nhu hoãn
Pháp điều trị: ôn trung hóa thấp, dùng bài Vị linh thang
Tỳ vị thấp nhiệt:
Triệu chứng: thường chướng bụng và nôn khi ăn. Tay chân có cảm giác nặng nền, đại tiện phân nhão nát, đi tiểu nước tiểu đỏ và ít, hoặc thấy mắt, da bị vàng, ngứa
Pháp điều trị: thanh nhiệt, hóa thấp, dùng bài Cam lộ tiêu độc đan, hoặc Nhân trần ngũ linh tán
Tỳ hư do giun:
Triệu chứng: bụng cảm giác đầy chướng, đau bụng quanh rốn, mặt hơi vàng, người gầy, rêu lưỡi trắng dính, ợ hơi, mạch nhu
Pháp điều trị: kiện tỳ, trừ trùng tích, dùng Ô mai hoàn
1.4. TẠNG CAN:
Can khí uất kết
Triệu chứng: tính tình dễ cáu giận, hay tức ngực và đau vùng mạng sườn. Phụ nữ thường đau bụng dưới, rối loạn kinh nguyệt, thống kinh.
Pháp điều trị: sơ can giải uất, dùng bài Sài hồ sơ can tá
Can hỏa thượng viêm:
Triệu chứng: thường đau đầu, chóng mặt, ù tai, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng khô, họng khô, ngực sườn có cảm giác đau rát, tính tình nóng nảy. Ngủ ít, giấc ngủ không sâu, thường mê, đại tiện táo, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch huyền sác
Pháp: thanh can hỏa, dùng bài Long đởm tả can thang
Thấp nhiệt ở can kinh:
Triệu chứng: đau tức vùng mạng sườn, miệng đắng không muốn ăn, dễ bị nôn mửa, bụng chướng, đại tiện thất thường, nước tiểu ít, và vàng. Rêu lưỡi vàng nhờn, mạch huyền sác. Phụ nữ có thể ra khí hư màu vàng hôi. Nam giới có thể xuất hiện tinh hoàn sưng đau.
Pháp điều trị: thanh tiết thấp nhiệt, sơ lợi can đởm, dùng bài Nhân trần cao thang hay Long đởm tả can thang
Can phong nội động (thể can dương vượng, thể trúng phong)
Thể can dương vượng (thể nhẹ): người bệnh nhức đầu, chóng mặt, ù tai, đi đứng loạng choạng, tay chân tê bì, dễ giật, chất lưỡi đỏ, mạch huyền tế
Pháp điều trị: dưỡng âm, bình can, dùng Trấn phong tức can thang
Thể trúng phong (thể nặng): người bệnh đột nhiên ngã, lưỡi cứng, miệng và mắt méo kết hợp với liệt nửa người, có khi hôn mê.
Pháp điều trị: khai khiếu tỉnh thần, dùng Chí bảo đan hoặc Tô hợp hương hoàn.
Thể nhiệt cực sinh phong:
Triệu chứng: sốt cao, khát nước, co giật, cổ cứng hai mắt trợn ngược, có thể hôn mê, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác
Pháp: thanh nhiệt, lương can, tức phong, dùng bài Linh dương giác câu đằng thang. Trong trường hợp hôn mê phải chuyển pháp: khai khiếu, tỉnh thần, dùng bài An cung ngưu hoàng hoàn.
Thể huyết hư sinh phong:
Triệu chứng: đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, tay chân co quắp, có cảm giác tê bì, run, thị lực giảm, sắc mặt hơi vàng. Phụ nữ kinh nguyệt ít, mà nhợt. Chất lưỡi nhợt, mạch huyền tế
Pháp: dưỡng huyết, tức phong, dùng Bổ can thang
Hàn trệ ở kinh can:
Triệu chứng: đau bụng vùng hạ vị, lan xuống âm nang, làm âm nang sưng to và sa xuống. Người lạnh, chân tay lạnh, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch trầm huyền hoặc trì.
Pháp: noãn can, tán hàn, dùng Noãn can tiễn
1.5. TẠNG THẬN
Thận dương hư:
Triệu chứng chung: sợ lạnh, chân tay lạnh, sắc mặt nhợt, có cảm giác đau mỏi vùng thắt lưng. Nam giới có liệt dương, toàn thân chất lưỡi nhợt, mạch trầm trì, hai mạch xích vô lực
Thể thận khí hư: bao gồm chung kết hợp với nam giới thì di tinh, hoạt tinh, liệt dương, đi tiểu nhiều lần, di niệu, đái dầm, đại tiện phân lỏng
Thận thủy đình ngưng: bao gồm triệu chứng chung kết hợp với nam giới thì ddi tiểu ít, phù toàn thân.
Pháp: Thể thận khí hư: ôn bổ thận dương, dùng bài Bát vị hoàn hay Hữu quy ẩm
Pháp: Thể thận thủy đình ngưng: ôn dương hành thủy, dùng Chân vũ thang.
Thận âm hư:
Triệu chứng: chóng mặt, ù tai, giảm thị lực, hay quên, ít ngủ, lưng gối mỏi đau, người gầy yếu, họng khô, lưỡi khô, về đêm thì nặng hơn. Ngũ tâm phiền nhiệt, đồng thời hay sốt nhẹ về chiều, đạo hãn, gò má đỏ, nữ thường kinh ít, bế kinh, hoặc băng lậu. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, khô, mạch tế sác.
Pháp: tư bổ thận âm, dùng Lục vị địa hoàng hoàn.
Thận âm có biểu hiện hỏa vượng: tư âm giáng hỏa, dùng Tri bá địa hoàng hoàn.
1.1. VỊ
Hội chứng vị hàn: Triệu chứng: vùng thượng vị nhẹ thì đau âm ỷ, nặng thì đau dữ dội, gặp lạnh thì đau tăng, chườm nóng thì dễ chịu, miệng nhạt, không khát, nước miếng trong, lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch huyền hoặc trì.
Pháp: ôn trung tán hàn, dùng bài Hậu phác ôn trung thang.
Hội chứng vị nhiệt:
Triệu chứng: thượng vị đau, có cảm giác cồn cào, khát nước, thích uống nước lạnh, ăn thấy mau tiêu, miệng hôi hoặc răng miệng sưng đau, có chảy máu chân răng, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch hoạt sác.
Pháp: thanh vị tả hỏa, dùng bài Thanh vị tán.
Hội chứng thực đình ở vị
Triệu chứng: vùng thượng vị có cảm giác đau, không thích ăn, ăn thường bị ợ hơi hoặc nôn ra thức ăn, mùi hôi, đại tiện phân khi táo, khi nát, thất thường, rêu lưỡi dày nhờn, mạch hoạt
Pháp điều trị: tiêu thực ẩm ngưng, dùng bài Bảo hòa hoàn
Hội chứng vị âm hư:
Triệu chứng: miệng và lưỡi khô, đói nhưng không muốn ăn, hay nôn khan, ợ hơi, bụng chướng, đại tiện thì khô táo, tiểu tiện đỏ và ít, lưỡi đỏ sẫm, khô, mạch tế sác.
Pháp: tư dưỡng vị âm, dùng ích vị thang
1.2. ĐẠI TRÀNG:
Hội chứng đại tràng, tân dịch giảm
Triệu chứng: đại tiện táo, phân khô, phân khô, khó đại tiện, mấy ngày mới đi đại tiện một lần, chất lưỡi đỏ, ít tân dịch, rêu vàng khô, mạch tế sáp,kèm theo miệng hôi, váng đầu.
Pháp: nhuận trạng, thông tiện, dùng bài Ma tử nhân hoàn.
Hội chứng đại tràng thấp nhiệt:
Triệu chứng: đau bụng, mót rặn, đi đại tiện, phân thường có máu mũi, có cảm giác rát, nóng ở hậu môn, nước tiểu đỏ, ít, miệng khô mà không thích uống nước, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhờ, mạch hoạt sác.
Pháp: thanh lợi thấp nhiệt, dùng Cát căn cầm liên thang.
1.3. BÀNG QUANG
Hội chứng bàng quang thấp nhiệt
Triệu chứng: đái buốt, đái dắt, đái khó, nước tiểu ít, màu vàng, đỏ, đục. hoặc có khi đái ra máu, đái ra sạn sỏi. toàn thân có thể kèm theo sốt, đau lưng, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch sác.
Pháp: thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, dùng bài Bát chính tán
1.1. Hội chứng tâm phế khí hư
Triệu chứng: khí đoản, ho, khó thở, tức ngực, tự hãn. Khi vận động nhiều thì triệu chứng tăng.Sắc mặt thường nhợt nhạt hay xạm tối, có khi môi xanh tím, chất lưỡi nhợt, mạch tế nhược.
Pháp: bổ ích tâm phế, dùng Bảo nguyên thang
1.2. Hội chứng tâm tỳ hư
Triệu chứng: hay quên, ngủ ít, giấc ngủ ít và giấc ngủ không sâu, thường hay mê, ăn kém, bụng chướng, đại tiện phân thường nát. Người mệt mỏi, sắc úa. Phụ nữ kinh nguyệt thường sắc nhợt, lượng kinh có thể nhiều hoặc ít, chất lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng, mạch tế nhược.
Pháp: Bổ ích tâm tỳ, dùng bài Quy tỳ thang
1.3. Hội chứng tâm thận bất giao
Triệu chứng: tâm phiền, ngủ ít, hay quên, hay váng đầu, ù tai. Họng khô, lưng gối mỏi đau, có thể triều nhiệt, đạo hãn. Nam giới có thể mộng tinh, mạch tế sác.
Pháp: tư âm giáng hỏa và giao thông tâm thận, dùng bài Hoàng liên a giao thang.
1.4. Hội chứng phế tỳ khí hư
Triệu chứng: ho kéo dài, khó thở, thở hụt hơi, đoản khí, đờm khạc ra nhiều với tính chất trong loãng. Ăn kém, bụng chướng, đại tiện phân nát, có khi mặt phù, chân phù, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch tế nhược.
Pháp: bổ ích tỳ phế, ôn hóa đàm thấp, dùng Lục quân tử thang
1.5. Hội chứng phế thận âm hư
Triệu chứng: người bệnh ho, khạc đờm ít hoặc trong đờm có dính máu, miệng khô, họng khô, lưng gối mỏi đau, tâm phiền, ít ngủ, có cảm giác cốt trưng (cảm giác đau nhức trong xương), triệu nhiệt, đạo hãn, gò má đỏ. Chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Pháp: tư bổ phế thận, dùng Bách hợp cố kim thang, Mạch vị địa hoàng thang
1.6. Hội chứng can tỳ bất hòa
Triệu chứng: ngực sườn có cảm giác đầy tức, tính tình nóng nẩy, dễ uất giận, thích thở dài, ăn kém, bụng chướng, hay rối loạn đại tiện, sôi bụng hay đau bụng ỉa chảy, rêu lưỡi trắng, mạch huyền
Pháp: sơ can, kiện tỳ, dùng Tiêu dao tán
1.7. Hội chứng can vị bất hòa
Triệu chứng: ngực sườn có cảm giác đầy tức, chướng, đau, thường hay nấc, ợ hơi, ợ chua. Tính tình dễ bực tức, dễ cáu giận, rêu lưỡi vàng, mạch mỏng
Pháp: sơ can hòa vị, dùng Sài hồ sơ can tán.
1.8. Hội chứng tỳ thận dương hư
Triệu chứng: người lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng nhợt. lưng gối hay vùng bụng dưới có cảm giác lạnh đau. Đại tiện phân lỏng, nát, thậm chí ngũ canh tả. Toàn thân có thể mặt phù, chi dưới phù, hay phù toàn thân, đái ít, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng nhờ, mạch trầm nhược
Pháp: ôn bổ tỳ thận
1.9. Hội chứng can thận âm hư
Triệu chứng: đàu váng, mắt hoa, hay quên, mất ngủ, tai ù như ve kêu, miệng khô, họng khô. Đau vùng mạng sườn, lưng gối cũng đau mỏi. ngũ tâm phiền nhiệt, gò má đỏ. Nam giới có thể di tinh, nữ giới thì kinh nguyệt ít, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Pháp: tư bổ can thận, dùng Kỷ cúc địa hoàng hoàn
1.10. Hội chứng can hỏa phạm phế
Triệu chứng: có cảm giác đau, nóng rát ở vùng ngực sườn, tính tình nóng nảy dễ cáu giận, đầu váng, mắt đỏ, phiền nhiệt, miệng đắng, ho, thậm chí ho đờm dính đầy máu. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch huyền sác.
Pháp: thanh can tả phế, dùng Đại cáp tán.
1.11. Hội chứng phế thận khí hư
Triệu chứng: khó thở, hơi thở ngắn, khi vận động thì tăng nhiều. Tự hãn, tay chân lạnh, sắc mặt xanh nhợt, lưỡi nhợt, thậm chí ra mồ hôi lạnh. Mạch hư phù, vô căn, hoặc sắc mặt đỏ, họng miệng khô ráo, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác.
Pháp: bổ thận nạp khí
8. Tên các hội chứng bệnh tam tiêu
1. Hội chứng bệnh lý thượng tiêu
Thường do yếu tố thấp nhiệt bên ngoài xâm nhập vào cơ thể con người trong giai đoạn đầu nên bệnh thường ở biểu và phế với bì mao bị tổn thương.
Triệu chứng: sợ lạnh, sốt nhẹ, đầu và tay chân có thể có cảm giác nặng, ngực tức, không ra mồ hôi, tinh thần mệt mỏi, miệng nhớt, dính, không khát, ăn kém, bụng có cảm giác chướng đầy, mạch nhu.
Pháp: ôn tán biểu thấp, dùng Hoắc hương chính khí tán.
2. Hội chứng bệnh lý của trung tiêu
Thấp nhiệt đã xâm nhập vào trung tiêu nghĩa là bệnh đã bước vào giai đoạn giữa. trên lâm sàng, thấp nhiệt sẽ làm tổn thương tới tỳ vị nên chức năng vận hóa của tạng tỳ và chức năng thu nạp của vị sẽ bị suy giảm, dẫn đến cơ nhục và tứ chi sẽ bị ảnh hưởng, người bẹnh thường rói loạn tiêu hóa kết hợp với đau mỏi nặng nề.
Triệu chứng: thường có sốt, sốt không cao nhưng hay tái phát. Tay chân có thể có cảm giác nặng nề. ngực và bụng thì đầy tức, có cảm giác buồn nôn nhưng không đói, không muốn ăn. Miệng khát nhưng không thích uống nước, sắc mặt thường úa vàng, tinh thần thường chậm chạp. điêu tiểu thì tiểu ít, đại tiện phân thường nát và sống phân, rêu lưỡi trắng có ẩn sắc vàng, mạch nhu sác.
Pháp: thanh hóa thấp nhiệt, tuyên thông khí cơ, dùng bài Cam lộ tiêu độc đan.
3. Hội chứng bệnh lý ở hạ tiêu
Thấp nhiệt ở hạ tiêu thường là do từ trung tiêu chuyển đến, bệnh biểu hiện tổn thương Can, Thận, Đại trường, Bàng quang
Triệu chứng: đi tiểu tiện mà không thông, khát mà không thích uống nhiều hoặc bí đại tiện, bụng dưới thường trương cứng, đầu có cảm giác choáng váng, nặng đầu, rêu lưỡi trắng xám hay vàng nhờ, mạch nhu sác.
Pháp: thẩm thấp phân tiêu, dùng bài Phục linh bì thang
Khái niệm: Trương Trọng Cảnh trên cơ sở chương Nhiệt luận – Tố vấn, kết hợp với triệu chứng và đặc điểm diễn bến của bệnh, đề xuất ra một phương pháp biện chứng chủ yếu đối với bệnh ngoại cảm.
Lục kinh bệnh chứng lấy âm dương làm cương lĩnh, có thể phân thành sáu loại bệnh chứng như Thái dương bệnh chứng, Dương minh bệnh chứng, Thiếu dương bệnh chứng, họp lại gọi là chứng Tam dương. Thái âm bệnh chứng, Thiếu âm bệnh chứng, Quyết âm bệnh chứng được gọi là Tam âm.
- Lục kinh bệnh chứng, quy nạp theo Bát cương thì:
Bệnh ở kinh thái dương, kinh thiếu dương, kinh dương minh: thuộc biểu
Bệnh ở 3 kinh âm: thuộc lý
Bệnh ở 3 kinh dương thuộc chứng thực, chứng nhiệt
Bệnh ở 3 kinh âm, thuốc chứng hư, chứng hàn
1. Thái dương bệnh chứng: có 2 loại kinh chứng và phủ chứng là Thái dương kinh chứng (tà khí xâm phậm vào phần cơ biểu và lại được phân loại thành 2 loại là trúng phong và thương hàn) và Thái dương bệnh phủ chứng do biểu tà không giải truyền vào bên trong ảnh hưởng tới phủ Bàng quang mà gây nên.
2. Dương minh biện chứng: do bệnh từ thái dương, theo truyền kinh mà đến. Bệnh biểu hiện thực nhiệt, phân thành 2 loại DƯơng minh kinh chứng và Dương minh phủ chứng.
3. Thiếu dương bệnh chứng
Thiếu dương bệnh chứng với đặc điểm là tà khí đã rời khỏi biểu, song chưa vào đến lý (dương minh), tà khí và chính khí đấu tranh với nhau ở đó (giữa biểu và lý) vì vậy diễn biến bệnh không còn hoàn toàn ở biểu nhưng lại cũng chưa hoàn toàn nhập vào lý nên gọi là chứng bán biểu bán lý.
4. Thái âm bệnh chứng
Nếu tà khí ở dương minh mạnh thì truyền vào thái âm (quan hệ biểu lý). Thái âm là phần đầu của ba kinh âm, khi tà khí xâm nhập vào ba kinh âm thì thái âm là kinh đầu tên phải đấu tranh với tà khí. Thái âm bệnh chứng khí liên hệ với tạng phủ là biểu hiện do tỳ dương hư dẫn đến hàn thấp nội sinh.
5. Thiếu âm bệnh chứng
Thiếu âm bệnh khi liên hệ với tạng phủ là biểu hiện suy giảm chức nưng của hai tạng tậm – thận. tâm thận là tạng cảu thủy hỏa, là gốc của âm dương. Bệnh đến thiếu âm là biểu hiện chức năng cảu hai tạng này suy thoái theo hai hướng hoặc là dương hư, âm mạnh hoặc là âm hư hỏa vượng.
6. Quyết âm bệnh chứng
Triệu chứng: miệng khát liên tục trong ngực cảm giác đau, nóng, đói mà không muốn ăn, tay chân lạnh, đại tiện lỏng, nôn mửa.
1. Trình bày những đặc điểm cơ bản của phép biện chứng luận trị cho hội chứng bệnh của vệ khí dinh huyết.
- Phân biệt được mức độ của bệnh tật. bệnh ở phần vệ, khi liên hệ tương đương với bệnh ở phần biểu của phép biện chứng bát cương, cũng như vậy bệnh ở phần dinh, huyết tương đương với lý chứng. Bệnh ở phần vệ thì phần lớn tà khí xâm phạm vào phế vệ, tứ chi, đầu mặt, mũi họng. Bệnh ở phần khí thì phần lớn tà khí đã xâm phạm vào tạng phủ. Bệnh ở phần dinh phần lớn tà khí đã xâm phạm phần nông của huyết. bệnh ở phần huyết phần lớn tà khí đã vào phần huyết của tạng phủ.
2. Những triệu chứng đặc trưng cho giai đoạn của bệnh:
Đặc trưng bệnh ở phần vệ: sốt nhẹ, sợ lạnh, đau đầu, rêu lưỡi trắng, mạch phù
Đặc trưng bệnh ở phần khí: sốt cao, ra mồ hôi, miệng khát, thích uống nước, mạch hồng đại
Đặc trưng bệnh ở phần dinh: phát sốt, về đêm sốt càng cao, phiền táo, miệng khát, trên da có nốt ban chẩn, lưỡi đỏ sẫm, ít rêu, mạch tế sác.
Đặc trung bệnh ở phần huyết: bệnh nhân mê sảng nặng, trên da nổi nốt ban chân rõ, thậm chí xuất hiện như nôn ra máu, đi ngoài ra máu, đái ra máu, không có rêu, mạch trầm tế sác.
3. Quy luật diễn biến của bệnh ôn nhiệt
Thường khởi phát từ phần vệ rồi đến phần khí, đến phần dinh và tới phần huyết, bệnh chuyển từ biểu vào lý, từ nhẹ cho tới nặng.
4. Nguyên tắc điều trị:
Bệnh ở phần vệ: giải biểu
Bệnh ở phần khí: thanh khí
Bệnh ở phần dinh: thanh dinh, tiết nhiệt
Bệnh ở phần huyết: lương huyết, giải độc
- Chứng vệ phận: tà khí xâm nhập vào phần cơ biểu làm cho chức năng của vệ khí rối loạn, thường thấy ở thời kỳ đầu của bệnh ôn nhiệt
- Chứng khí phận: là nhiệt tà xâm phạm vào tạng phủ bên trong, trùy theo tạng phủ nào bị tổn thương mà xuất hiện các hội chứng khác nhau.
- Chứng dinhh phận: là giới hạn giữa khí phận và huyết phận. dinh là khí ở trong huyết nên phần ở phận dinh có liên quan chặt chẽ giữa tâm và tâm bào lạc.
- Chứng huyết phận: là giai đoạn cuối cùng và cũng là giai đoạn nặng nhất trong quá trình phát triển của ôn nhiệt. giai đoạn này tà khí vẫn mạnh mà chính khí đã quá suy.
1. Chữa bệnh phải theo biện chứng : Dựa vào các triệu chứng đã khai thác, qua tứ chẩn phân tích xem các triệu chứng ấy do nguyên nhân nào, thuộc tạng phủ nào, theo bát cương nào để sử dụng phương pháp dùng thuốc hay không dùng thuốc cho phù hợp gọi là trị vi bệnh.
2. Chữa bệnh phải chú ý bản (gốc của bệnh) và tiêu (ngọn của bệnh) Bản của bệnh bao gồm:
- Nguyên nhân gây bệnh: nếu nhiều nguyên nhân gây bệnh thì bản là nguyện nhân chính.
- Nếu có nhiều bệnh thì bản là bệnh chính, bệnh gây ảnh hưởng tới tính mạng người bệnh. Nếu có nhiều triệu chứng thì triệu chứng ảnh hưởng tới tính mạng người bệnh là bản.
- Chính khí của cơ thể.
– Bệnh thuộc nội tạng.
Tiêu của bệnh bao gồm:
-Triệu chứng, hoặc triệu chứng chưa gây ảnh hưởng đến tính mạng.
-Bệnh mới mắc trên bệnh nhân có bệnh mạn tính.
-Bệnh thuộc bên phần thể biểu.
Từ trên ta có nguyên tắc điều trị:
"Cấp trị tiêu, hoãn trị bản". Nếu bệnh cấp tính phải chữa triệu chứng nặng trước, nếu bệnh mạn tính cần trị gốc bệnh trước. Nếu chứng cấp và hoãn đều nặng ảnh hưởng đến tính mạng thì tiêu bản kiêm trị
Trị bệnh vi bản: chữa bệnh phải chữa tận gốc bệnh.
3. Chữa bệnh phải chú ý chính khí và tà khí, tức là chú ý tới sức khoẻ và nguyên nhân gây bệnh cho nên có các nguyên tắc sau
Chữa bệnh phải kết hợp phép bổ, phép tả: bổ là bồi bổ chính khí khi chính khí hư, tả là đuổi tà khí ra ngoài bằng các con đường khác nhau như: ra mồ hôi (hãn), nôn (thổ), đại tiện (hạ)... cho nên có các nguyên tắc sau:
Phù chính khu tà: là nguyên tắc nâng cao chính khí đồng thời đuổi tà khí ra ngoài.
Hư lấy bổ làm chính, thực lấy tả làm chính. Tùy theo đánh giá mức độ hư của cơ thể qua tứ chẩn mà bổ nhiều, bổ ít, bổ phần nào hư như: huyết hư thì bổ huyết, khí hư bổ khí, âm hư thì bổ ẩm, dương hư thì bổ dương, cũng có thể lấy chính khí đuổi tà khí. Tả là đánh đuổi tà khí tùy theo mức độ gây bệnh, mức độ triệu chứng (chứng thực) và vị trí gây bệnh mà dùng cách tả
4. Chữa bệnh phải chú ý hàn nhiệt
Dùng hàn trị nhiệt, dùng nhiệt trị hàn gọi đó là chính trị hoặc nghịch trị.
5. Chữa bệnh phải chú ý chân giả tức là chú ý cái thật, cái giả của bệnh hoặc các triệu chứng
Chân hàn giả nhiệt: dùng phép nhiệt để trị bệnh còn gọi là nhiệt nhân nhiệt dụng (vì gốc là hàn, tiêu là nhiệt).
6. Chữa bệnh phải chú ý
Nhân thời, nhân địa, nhân trị: nghĩa là chữa bệnh phải quan tâm tới mùa, thà tiết, nơi ở, tập quán, hoàn cảnh gia đình, lứa tuổi, giới và hình thái của xã hội.
Để cụ thể hoá các nguyên tắc điều trị dùng thuốc uống trong người ta quy lại có tám phương pháp: hãn pháp, thổ pháp, hạ pháp, hòa pháp, ôn pháp, thanh pháp, tiêu pháp, bổ pháp. Bát pháp dựa trên cơ sở bát cương.
1. Hãn pháp
Phương pháp làm ra mồ hôi mục đích đuổi tà khí ra ngoài cơ thể bằng đường mồ hôi. Chỉ định dùng các bệnh ở biểu tức là nguyên nhân gây bệnh (tà khí) còn ở nông (da, cơ, xương, khớp, kinh lạc). Cụ thể:
- Bệnh cảm mạo (cảm cúm, cảm sốt): có hai thể cảm hàn và cảm nhiệt. Cảm hàn dùng pháp điều trị “Tân ôn giải biểu”. Nếu biểu hư dùng bài “Quế chi thang”. Cảm hàn thuộc biểu thực chứng dùng bài "Ma hoàng thang”. Cảm nhiệt dùng phép “Tân lương giải biểu”, điển hình dùng bài thuốc “Ngân kiểu tán”.
– Bệnh ôn tà còn ở phần vệ (giai đoạn đầu của bệnh truyền nhiễm) dùng pháp điều trị giải biểu thoái nhiệt, tùy theo hàn nhiệt nhiều hay ít dùng "Đậu xị thang” (dùng chứng rét nhiều), “Ngân kiều tán” (sợ lạnh), “Tang cúc ẩm” (ớn lạnh).
Bệnh ở khớp (phong thấp): tùy theo mức độ hàn, nhiệt, thấp, phong mà pháp điều trị khác nhau, dùng thuốc cũng khác nhau. Nếu thấp gây bệnh là chính thì pháp điều trị phải trừ thấp là chính, dùng bài “ý dĩ nhân thang". Nếu hàn gây bệnh là chính thì phải trừ hàn, pháp điều trị phải tán hàn là chính, dùng bài “Ổ đầu thang gia giảm”. Nếu sưng nóng đỏ đau mà sốt cao thì dùng bài “Bạch hổ gia quế chi thang".
Bệnh ở kinh lạc: liệt đau các dây thần kinh như liệt dây VII ngoại biên, đau thắt lưng, đau thần kinh tọa thì dùng phép “thông kinh hoạt lạc”, tùy theo hàn hay nhiệt mà dùng tân lương hay tân ôn.
- Các bệnh ngoài da (bệnh da liễu) dùng phép “thấu chẩn”, dùng "Hoá ban thang”.
Chú ý:
Không nên cho ra mồ hôi nhiều hoặc dùng kéo dài các thuốc giải biểu vì gây hao tổn tân dịch.
– Nếu nguyên nhân gây bệnh vừa ở biểu vừa ở lý thì dùng phép "biểu lý song giải". – Không nên dùng cho các bệnh nhân hao tổn tân dịch và huyết hư.
2. Thổ pháp
Là phương pháp gây nôn. Mục đích đuổi nguyên nhân gây bệnh ra ngoài cơ thể bằng đường gây nôn. Chỉ định các trường hợp ngộ độc thức ăn, thực tích, ngộ độc thuốc. Khi các chất trên con hat sigma*da dày người ta thường dùng cách ngoáy họng gây nôn.
Chống chỉ định: phụ nữ có thai, khó thở, cơ thể quá yếu.
Chú ý: nếu ngộ độc thức ăn nên rửa dạ dày.
3. Hạ pháp
Là phương pháp gây đại tiện (làm sổ). Mục đích: tống chất ứ đọng trong ruột ra ngoài. Có hai phương pháp gây ỉa mạnh cấp gọi là tuấn hạ, chủ yếu dùng cho ứ trệ các chất hoặc ngộ độc đường dưới và tiết nhiệt (hậu môn trực tràng, nhiệt kết bàng lưu); gây dễ ỉa gọi là nhuận hạ, chủ yếu dùng trong táo bón kéo dài.
Dựa vào nguyên nhân gây nên do hàn thì dùng thuốc nhiệt gọi là ôn hạ (nhiệt hạ). Nếu do nhiệt thì dùng thuốc hàn gọi là hàn hạ. Đối với hàn hạ có bài “Thừa khí thang” (Đại thừa khí thang, Tiểu thừa khí thang, Điều vị thừa khí thang); đối với nhiệt hạ thì dùng Ba đậu, Lưu hoàng nhưng độc nên cơ thể dùng thuốc hàn nhưng thêm thuốc ôn trung.
Nếu có kiêm chứng có thể kiêm trị:
Công bổ kiêm trị: táo bón ở người già hoặc bệnh hư.
Tiền công hậu bổ: dùng hạ pháp trước sau đó dùng bổ pháp. Ví dụ người già
bị thực tích.Ngoài ra phép hạ còn dùng điều trị trục thủy (dùng cho bệnh nhân phù thũng).
Chú ý:
– Không được dùng kéo dài, phụ nữ có thai, bệnh nhân ỉa chảy.
Nếu âm hư gây táo bón nên kết hợp tư âm giáng khí.
4. Hòa pháp
Là phương pháp dùng các thuốc hàn lương, ôn nhiệt, tân tán, bổ phối hợp với nhau nhằm sơ thông biểu lý, hòa giải hàn nhiệt, điều lý tạng phủ. Chỉ định dùng cho các chứng bệnh: chứng thiếu dương, trường vị bất hòa, can vị bất hòa, sốt rét. Ở chứng bệnh thiếu dương chủ yếu dùng bài Tiểu sài hồ thang.
Chú ý: không dùng trong bệnh ở biểu hoặc ở lý đơn thuần.
5. Ôn pháp
Là phương pháp làm ấm, mục đích để chữa bệnh ở ba kinh âm và hàn trong cơ thể (lý hàn). Trong lý luận chủ yếu có bốn phương pháp: ôn trung khu hàn (bài thuốc Lý trung hoàn dùng điều trị bệnh hàn ở trung tiêu như: tỳ vị hư hàn, tỳ thận dương hư, tỳ dương hư), hồi dương cứu nghịch (bài thuốc Tứ nghịch thang dùng điều trị dương suy dương thoát (ngất, trụy mạch, hạ nhiệt độ)), ôn kinh tán hàn (bài thuốc Đương quy tứ nghịch thang dùng điều trị hàn ở ba kinh âm), ôn dương lợi thủy (bài thuốc Chân vũ thang dùng chữa âm thủy).
Chú ý:
Không dùng cho các bệnh chứng có nhiệt.
- Phân biệt chân nhiệt giả hàn: sốt cao, co giật, chân tay lạnh. – Nhiệt ở biểu dùng “Tân lương giải biểu” thuộc hàn pháp.
6. Thanh pháp
Là phương pháp làm mát, giữ tân dịch để chữa nhiệt trong cơ thể (lý nhiệt). Tùy theo tính chất của nhiệt mà có các phép điều trị khác nhau. Cụ thể:
Thanh nhiệt giải độc: hay dùng bài Hoàng liên giải độc thang, Phổ tế tiêu độc ẩm điều trị nhiệt độc, dùng trong các bệnh mụn nhọt, đình và nhiệt độc ở các tạng phủ: phế nhiệt (viêm phổi, viêm phế quản).
Thanh nhiệt lương huyết: hay dùng bài Tê giác địa hoàng thang điều trị bệnh chứng do huyết nhiệt, các chứng bệnh sưng nóng đỏ có thể chảy máu (nhiệt bức huyết vong hành) gặp trong bệnh viêm nhiễm, dị ứng, chấn thương.
Thanh nhiệt tả hỏa: ở phần khí hay dùng bài Bạch hổ thang để điều trị chứng sốt cao bằng phương pháp hạ sốt đơn thuần.
Thanh nhiệt giải thử: hay dùng bài Hương nhu tán để điều trị chứng bệnh say nắng, say nóng.
- Tư âm thanh nhiệt: hay dùng bài Thanh hao miết giáp thang điều trị bệnh do âm hư sinh nội nhiệt, hay gặp: sốt kéo dài không rõ nguyên nhân, tân dịch hao tổn (sốt do mất nước, muối nhiều), giai đoạn cuối của ôn bệnh (bệnh truyền nhiễm) thuộc bệnh thận âm hư, can thận âm hư, vị âm hư, phế âm hư.
Chú ý:
Không dùng cho các bệnh chứng nhiệt ở biểu.
Thuốc có tính chất lương hàn nên không dùng kéo dài.
7. Tiêu pháp
Là phương pháp làm mất đi các ứ đọng của các chất trong cơ thể như đàm ứ thì dùng pháp tiêu đàm hay dùng bài Nhị trần thang...; huyết ứ: dùng phép hoạt huyết hay dùng bài Tứ vật đào hồng để điều trị các chứng bệnh sưng, nóng, đỏ, chảy máu (trong chấn thương, viêm nhiễm giai đoạn đầu
Chú ý: dùng phép tiêu thuộc về tả cho nên cần chú ý tới chính khí. Nếu chính khí hư cần phải kết hợp bồi bổ chính khí và không được dùng lâu.
8. Bổ pháp
Là phương pháp tăng thêm (bồi dưỡng) chính khí để điều trị chính khí suy yếu (hư, kiệt). Chính khí của cơ thể gồm khí, huyết, âm và dương cho nên có các loại sau:
– Phương pháp bổ dương: phương pháp tăng thêm (bồi bổ) phần dương của cơ thể để điều trị dương hư. Bài thuốc đại diện “thận khí hoàn” (Bát vị quế phụ), các vị thuốc bổ dương.
– Phương pháp bổ âm: phương pháp tăng thêm (bồi bổ) phần âm của cơ thể để điều trị âm hư. Bài thuốc đại diện cho bổ âm là “Lục vị hoàn”, các vị thuốc bổ âm. – Phương pháp bổ khí: phương pháp tăng thêm (bồi bổ) phần khí của cơ thể để điều trị khí hư. Bài thuốc đại diện “tứ quân tử thang” và các vị bổ khí.
– Phương pháp bổ huyết: phương pháp tăng thêm (bồi bổ) phần huyết của cơ thể
để điều trị huyết hư. Bài thuốc đại diện là “Tứ vật thang”, các vị thuốc bổ huyết.
Nếu khí huyết đều hư thì phải bổ khí huyết, dùng bài “Bát trân thang" (gồm “tứ quân tử thang” hợp với “Tứ vật thang”). Nếu trung khí hư gây giáng hạ các tạng phủ khí huyết phải bổ khí thăng đề, bài thuốc đại diện “Bổ trung ích khí", các vị thuốc kết hợp Thăng ma, Sài hồ, Hoàng kỳ, Trần bì.
Chú ý khi dùng thuốc: phải có chứng hư mới được dùng phép bổ, muốn tăng tác dụng thuốc bổ khí thì nên kết hợp (phối ngũ) các vị thuốc như bổ huyết và ngược lại, muốn tăng tác dụng khi dùng thuốc bổ âm thì nên dùng thuốc bổ đương và ngược lại.
- Phòng bệnh chính là đảm bảo sự phòng ngự nhất định để ngăn ngừa sự phát sinh và phát triển của bệnh tật. Đây chính là một phương châm lớn của ngành y tế nước ta- y học dự phòng.
- Con người muốn được bảo vệ và chăm sóc sk tốt thì trước hết y học dự phòng phải được coi trọng hàng đầu. vấn đề này trong y học cổ truyền cũng đã được đề cập tới từ lâu, trong nội kinh cũng đã viết: “ phòng mắc bệnh ngay khi chưa bị bệnh” và trong tố vấn cũng viết: bất trị khi đã bệnh, trị khi chữa bị bệnh… bất trị khi đã loạn, trị khi chưa loạn”
- ở nước ta cũng có nhiều danh y nổi tiếng qua nhiều triều đại nêu cao thuật dưỡng sinh phòng bệnh
+ Tuệ tĩnh trong hồng nghĩa giác tư y thư đã viết:
“ bế tinh dưỡng khí tồn thần
Thanh tâm quả dục thủ chân luyện hình”
Khái quát phép dưỡng sinh, nâng cao sức khỏe để phòng bệnh của y học cổ truyền
+ Hoàng Đôn Hòa trong tác phẩm: “ Hoạt nhân toát yếu” đã viết về thuyết thanh tâm, tĩnh công và dao dẫn.
+ Đào công chính đã viết: “ Bảo sinh diên thọ đoản yếu” nêu phương pháp dưỡng sinh.
+ Hải thượng Lãn Ông đã viết: “ vệ sinh quyết yếu” bàn về thuật giữ vệ sinh trong các mặt của bản thân và môi trường sống, nâng cao sức khỏe, tăng cường khả năng phòng bệnh cho con người.
- Nội dung phòng bệnh trong y học cổ truyền bao gồm 2 vấn đề lớn là: pòng bệnh khi chưa mắc bệnh và phòng bệnh khi đã mắc bệnh.
- Thời kỳ trước khi bệnh xuất hiện, muốn như vậy theo quan điểm của Y học cổ truyền là phải nâng cao chính khí của cơ thể, thực chất là nâng cao sức đề kháng của cơ thể thông qua điều dưỡng tinh thần và rèn luyện thể lực
- Một con người có thể chất khỏe mạnh là yếu tố quan trọng làm giảm khả năng phát sinh ra bệnh. Trong y văn cổ “ tố vấn – thương cổ thiên chân luận” có viết: “ cần phải biết rằng…. ăn uống phải có tiết chế, chỗ ở phải thông thoáng, tránh căng thẳng về tinh thần và lao lực quá mức, có một hình thể khỏe mạnh và tinh thần an bình thì có thể sống tới trăm tuổi”.
- Tu dưỡng về tinh thần: theo yhct: giận quá hại can, mừng quá hại tâm, lo quá hại tỳ, sợ quá hại thận, buồn quá hại phế… do vậy muốn ko phát bệnh phải luông giữ tinh thần điềm tĩnh, thư thái, lạc quan, tránh tham vọng quá mức.
Người xưa nói:
+ Muốn nuôi dưỡng cơ thể, phải nuôi dưỡng tỳ
+ Muốn nuôi dưỡng tỳ, phải nuôi dưỡng tâm
+ Muốn nuôi dưỡng tâm, phải nuôi dưỡng thần
+ Muốn nuôi dưỡng thần, phải nuôi dưỡng khí
+ Muốn nuôi dưỡng khí, phải nuôi dưỡng tinh
+ Muốn nuôi dưỡng tính, phải nuôi dưỡng chí
+ Muốn nuôi dưỡng chí, phải nuôi dưỡng thần
- Phải thích ứng với khí hậu bốn mùa
+ Ba tháng mùa xuân ngủ dậy sớm, đi bách bộ
+ Ba tháng mùa hè ngủ dậy sớm, luyện thở khí công
+ Ba tháng mùa thu ngủ dậy lúc tảng sáng, cho tinh thần yên bình
+ Ba tháng mùa đông ngủ dậy muộn, giữ ấm cho cơ thể
- Phải ăn uống, nghỉ ngơi điều độ
+ tránh lạm dụng các gia vị
. Ăn nóng nhiều hại trường vị
. Ăn nhiều chất bổ, béo ngọt.. dễ sinh mụn nhọt
. Ăn mặn nhiều làm mạch dễ ngưng trệ
. Ăn cay nhiều, dễ làm gân cơ co cứng
. Ăn chua nhiều, cơ bắp thường mềm nhẽo
+ lao động và nghỉ ngơi điều độ
. lao động đúng mức làm cho cơ thể cường tráng, lao động ít làm cho cơ thể béo bệu, nê trệ và lao động quá mức làm cơ thể hao tổn gầy mòn.
. nhìn lâu hại huyết, nằm lâu hại khí, ngồi lâu làm tổn thương cơ nhục, đứng lâu hại cốt tủy, đi lâu hại cân
- Rèn luyện cơ thể: sinh hoạt nề nếp, điều độ… theo luật dưỡng sinh, bách bộ… làm cho cơ thể cường tráng, chính khí bên trong mạnh, tà khí bên ngoài ko thể xâm nhập vào.
- Đối với phụ nữ và trẻ em phải có chế độ dự phòng bệnh tật riêng:
+ Đối với phụ nữ:
. Giữ vệ sinh hành kinh: giữ ấm, ăn kiêng thức ăn sống, lạnh. Ko lao động nặng, ko giao hợp, tinh thần thoải mái.
. Giữ vệ sinh khi thái nghén: lao động nhẹ, ăn uống đầy đủ, thắt lưng vừa phải, tinh thần thoải mái, ko dùng thuốc bừa bãi.
. sau khi sinh: giữ ấm cơ thể, ăn uống đầy đủ, tinh thần thoải mái
+ Đối với trẻ em: ăn uống đầy đủ theo giờ giấc, giữ ấm về mùa lạnh, thoáng về mùa nóng, được bú sữa mẹ trong năm đầu.
- Đầu tiên phải dự phòng khi chữa mặc bệnh đó là phương pháp lý tưởng nhất
- Nếu bệnh tật đã phát sinh thì phải có chẩn đoán sớm và điều trị ngay từ đầu để ngăn ngừa bệnh phát triển từ nhẹ sang nặng, từ biểu vào lý và xuất hiện biến chứng…
- Đồng thời chú ý chế độ chăm sóc, hộ lý trong quá trình điều trị
+ Trong các bệnh truyền nhiễm phải cách ly người bệnh và có chế độ chăm sóc riêng
+ Người bệnh ở phòng riêng yên tĩnh, ấm về mùa lạnh, thoáng về mùa nóng, ăn uống đầy đủ, hợp khẩu vị.
- Ngày nay kết hợp chế độ điều dưỡng của YHCT với những phương pháp hợp lý, khoa học trong chế độ chăm sóc điều dưỡng của Y học hiện đại để đảm bảo hiệu quả chữa trị cao nhất.