Tối hôm ấy, tôi cùng Trưởng ban Tác chiến Trần Tâm trực tiếp đề nghị sư đoàn tổ chức đánh chiếm điểm cao 224 càng nhanh càng tốt. Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn đã chấp nhận ngay phương án chiến đấu theo đề xuất của cơ quan tham mưu. Sư đoàn cũng cử đồng chí Nguyễn Phúc Thanh quyền Tham mưu trưởng cùng Phó Chính ủy Sư đoàn Lê Văn Dánh xuống Trung đoàn 2 trực tiếp chỉ huy trận đánh quan trọng này.
Hai ngày sau đó, đúng 16 giờ ngày 10 tháng 3, Tiểu đoàn 4 do Trung đoàn phó Nguyễn Thì Khoái quê ở Bắc Ninh và Chính ủy Trung đoàn Lê Văn Mẹo quê ở Thanh Hóa trực tiếp chỉ huy đã cùng các đơn vị hỏa lực của trung đoàn và sư đoàn tiến hành tấn công chiếm được điểm cao 224. Sở chỉ huy tiểu đoàn địch bị tiêu diệt. Mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ đường 14 của chúng đã bị chặt đứt.
Trận đánh xe tăng ở bắc núi Bông của Phân đội Trinh sát và công binh diễn ra rất tốt, diệt được 11 xe tăng của địch. Tuy nhiên, sau khi kết thúc trận đánh, đồng chi Nguyễn Xuân Lộc tự đề nghị nhận kỷ luật vì chỉ huy chưa tốt nên đã để bộ đội thương vong nhiều (một chiến sĩ hy sinh, năm thương binh của ta bị địch bắt). Sư đoàn xét thấy lỗi trên là do khách quan nên đã đề nghị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai cho đồng chí Nguyễn Xuân Lộc.
Ngày 10-3-1975, chúng tôi nhận được tin Mặt trận Tây Nguyên nổ súng. Kẻ địch rất lúng túng bị động, chúng không thể ngờ đòn tiến công chiến lược của ta lại giáng vào Tây Nguyên. Bởi vì quân đội Sài Gòn vẫn cho rằng hướng tiến công chủ yếu của ta là chiến trường Trị Thiên.
Sư đoàn 324 nổ súng tiến công địch từ ngày 08 tháng 3 ở Thừa Thiên đã khiến địch tập trung lực lượng, căng sức chống đỡ. Ngoài ra chúng còn phải chống đỡ ở nhiều nơi khác nữa trên khắp các chiến trường miền Nam. Cho nên lực lượng của địch ở Buôn Ma Thuột, một mục tiêu quan trọng ở Tây Nguyên rất mỏng. Quân ta chiếm thị xã Buôn Ma Thuật rất nhanh gọn trong ngày 10 và 11-3-1975.
Tối 14-3-1975, tôi nhận được một thông báo từ Cơ quan Trinh sát Quân đoàn 2. Theo trinh sát ta nắm được, sáng 14 tháng 3, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Phú, Tư lệnh Vùng hai chiến thuật của quân đội Sài Gòn sử dụng máy bay trực thăng cùng thị sát chiến trường Tây Nguyên. Chúng đã đi đến quyết định " rút bỏ Tây Nguyên”.
Tôi đã báo cáo thông tin trên với Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324. Các đồng chí chỉ huy trong Bộ Tư lệnh rất phấn khởi. Tình hình chiến sự ở tất cả các chiến trường miền Nam nóng lên từng ngày. Nó báo hiệu sự đột biến lớn cho một thời cơ lớn sắp xảy ra.
Hướng Trung đoàn 2, ta và địch giành đi giật lại điểm cao 224. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Đêm 16 tháng 3, tôi cùng một số cán bộ cơ quan sư đoàn lên điểm cao 224 kiểm tra. Chúng tôi chứng kiến trận địa của bộ đội ta không còn một ngọn cỏ. Khu vực điểm cao này bị bom đạn cày xới thành một lớp đất bột dày ngập mắt cá chân.
Chúng tôi thấy thương và vô cùng cảm phục anh em cán bộ chiến sĩ phòng ngự trên điểm cao 224. Các đồng chí của chúng ta thật vô cùng dũng cảm. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo, sư đoàn đã ưu tiên chi viện hỏa lực tối đa cho lực lương phòng ngự điểm cao 224 để tạo điều kiện cho bộ đội ta giữ vững trận địa.
Nhiều trận chiến đấu của Sư đoàn 324 trên trục đường 14 tuy bước đầu có khó khăn nhưng quân ta đã chiếm được các điểm cao có giá trị. Những điểm cao này đã làm bàn đạp rất thuận lợi cho quân ta tiến về đồng bằng. Tình thế mới đang mở ra trước mắt cho tất cả các đơn vị trong sư đoàn.
Tối 19 tháng 3, tôi nhận được tin các đơn vị dồn dập báo về những động thái khác thường của địch. Đồng chí Dư- trung đội trưởng phụ trách Đài quan sát ở Lương Điền, nam sông Truồi báo cáo: “Trong ngày có chừng 400 xe ô tô con chở hàng cồng kềnh, xuất phát từ Huế chạy vào hướng Đà Nẵng”. Anh Giang chỉ huy Phó tỉnh đội Thừa Thiên cũng bất ngờ thông báo: “Chúc Mao, một cứ điểm mạnh của địch ở vùng giáp ranh Tây huyện Hương Trà không còn địch”. Ngay sau đó, đội Trinh sát Kỹ thuật Sư đoàn báo tin: Trinh sát kỹ thuật nhận được tin, lính thông tin của địch kháo nhau rằng: "Xe tăng và lính Quốc gia hành quân từ hướng Quảng Trị qua cầu Mỹ Chánh đông lắm”.
Căn cứ vào những tin tức trên cùng nhiều nguồn thông tin khác trên chiến trường, Cơ quan Trinh sát Sư đoàn đã họp đánh giá và dự đoán được tình hình khả năng diễn biến sắp tới của địch trên chiến trường. Sau đó, tôi lên ngay Trung tâm Chỉ huy báo cáo. Tại Trung tâm Chỉ huy lúc bấy giờ có Phó Tư lệnh Quân đoàn Hoàng Đan, Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn và Chính ủy Nguyễn Trọng Dần. Tất cả các thủ trưởng đang chờ, sẵn sàng nghe tình hình địch từ cơ quan trinh sát.
Sau khi nghe báo cáo cụ thể về diễn biến tình hình địch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn yêu cầu tôi trình bày rõ về khả năng sắp tới của địch. Tôi mạnh dạn trình bày nhận định cá nhân:
- Theo tôi, địch sẽ rút bỏ khỏi Quảng Trị. Rất nhiều khả năng chúng chọn phía nam sông Ô Lâu để tổ chức tuyến phòng thủ mới. Sắp tới, có thể chúng còn rút bỏ tiếp một số cứ điểm ở vùng rừng núi phía tây tỉnh Thừa Thiên để tập trung lực lượng về chiếm các điểm cao giáp ranh phía tây đường 1. Mục đích của chúng là ngăn chặn ta, cố giữ thành phố Huế. Hiện tại tướng Lâm Quang Thi trực tiếp chỉ huy tại Huế.
Phó Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn trưởng và Chính ủy Sư đoàn nhất trí với nhận định về địch của tôi.
- Đồng chí có biết 400 xe ô tô từ Huế vào Đà Nẵng chở những gì không? Phó Tư lệnh quân đoàn hỏi rõ thêm.
- Thưa Thủ trưởng, đài quan sát của ta ở cách đường 1 hơn một cây số. Chúng tôi chỉ quan sát biết được xe con chở hàng cồng kềnh, có vẻ hàng dân dụng hoặc hậu cần gì đó chứ không phải là vũ khí, khí tài quân sự- tôi trả lời.
- Đúng rồi! Hai tên Tướng Ngô Quang Trưởng và Lâm Quang Thi cùng lên tiếng quyết tâm tử thủ tại Huế. Nhưng rồi, cả tướng lẫn quân đều không tin quân đội Sài Gòn có thể giữ được Huế nên chúng dùng xe con, xe to, chở vợ con, đồ đạc vào Đà Nẵng trước đấy - Phó Tư lệnh quân đoàn Hoàng Đan nhận xét, rồi ông quả quyết - Thời cơ giải phóng thành phố Huế đã đến rồi. Không thể bỏ lỡ cơ hội này. Chậm nhất ngày 28-3-1975, bộ đội ta sẽ lấy được Huế.
Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 Hoàng Đan quê ở huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An. Ông là một cán bộ dũng cảm, thông minh, sâu sát cấp dưới, có tính quyết đoán cao. Trong những năm tháng bảo vệ biên giới phía Bắc, Thiếu tướng Hoàng Đan được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân Đoàn 14 rồi lên làm Phó Tư lệnh Quân khu 1, sau đó ông làm phái viên của Bộ Tổng tham mưu ở Mặt trận Vị Xuyên (tỉnh Hà Giang). Cuối đời quân ngũ, ông làm Cục trưởng Cục Nghiên cứu Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng rồi nghỉ hưu ở Hà Nội. Ông từ trần sau một căn bệnh hiểm nghèo.
Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn cho phép tôi về cơ quan làm việc. Ông dặn tôi đúng 23 giờ đêm phải có mặt tại Trung tâm Chỉ huy Sư đoàn nhận nhiệm vụ. Tối hôm đó, tại Cơ quan Trinh sát sư đoàn, chúng tôi nóng lòng chờ đợi. Dự cảm của người lính đi trước nắm địch mách bảo chúng tôi một việc rất hệ trọng sắp diễn ra trên chiến trường. Tại hầm họp Cơ quan Trinh sát có các anh Cao Sỹ Nguyên quê ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, anh Phan Đình Hạ quê ở huyệnVĩnh Tường, Vinh Phúc, anh Lê Minh Duyệt quê ở huyện Qùy Hợp, tỉnh Nghệ An và anh Trần Cảnh Yên quê ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An…
Tất cả chúng tôi nghiên cứu kỹ tình hình chiến sự ở Tây Nguyên và những nhận định của Sư đoàn trưởng Duy Sơn, Phó Tư lệnh Quân đoàn Hoàng Đan. Sau đó, anh em chụm đầu bên tấm bản đồ, sôi nổi hào hứng bàn nhau tìm ra các phương án trinh sát, chuẩn bị đường để sẵn sàng đưa các trung đoàn tiến về đồng bằng, đánh sâu vào thành phố Huế.
Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn đã có cuộc họp khẩn cấp. Đúng 23 giờ, tôi có mặt ở Trung tâm Chỉ huy Sư đoàn. Vừa gặp tôi, Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn đã giao ngay nhiệm vụ: “Đồng chí khẩn trương tổ chức trinh sát chuẩn bị đường đưa Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 xuống đồng bằng ven biển chiếm cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Chậm nhất đêm 21 tháng 3 các đơn vị sẽ xuất phát tiến về đồng bằng.
- Rõ, thưa Thủ trưởng! - Một luồng suy nghĩ thoáng qua rất nhanh trong đầu, khiến tôi mạnh dạn đề nghị - Với hai ngày một đêm, trinh sát chỉ đủ thời gian chuẩn bị đường đưa các đơn vị đến phía tây đường 1. Tôi đề nghị sau khi vượt đường, các đơn vị phải vừa đánh địch vừa tự tìm đường đến mục tiêu quy định.
- Được! Sư đoàn đã phân công anh Minh Long - Phó Tư lệnh Sư đoàn xuống Trung đoàn 2; anh Lê Văn Dánh - Phó Chính ủy cùng anh Nguyễn Phúc Thanh - quyền Tham mưu trưởng sư đoàn xuống Trung đoàn 1 để trực tiếp chỉ đạo các đơn vị tiến về đồng bằng- Sư đoàn trưởng đồng ý đề nghị của tôi và cho biết thêm.
Biết rằng đây là nhiệm vụ rất quan trọng nên tôi xin phép Sư đoàn trưởng được trở về cơ quan ngay. Tại căn hầm họp, tôi cùng các đồng chí trong cơ quan trinh sát bàn bạc chuẩn bị phương án đưa các đơn vị xuống đồng bằng rất chi tiết. Tiếp theo chúng tôi triển khai nhiệm vụ cho các đồng chí Ban chỉ huy Đại đội Trinh sát và cơ quan Trinh sát các trung đoàn vào lúc trước khi trời sáng. Tôi phân công anh Lê Minh Duyệt đi cùng Sư đoàn phó Minh Long xuống giúp Trung đoàn 2. Anh Cao Sỹ Nguyên đi cùng quyền Tham mưu trưởng Phúc Thanh và Phó Chính ủy Sư đoàn Lê Văn Dánh xuống giúp Trung đoàn 1.
Để tăng sức chiến đấu cho Sư đoàn 324. Ngày 14 tháng 3 Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 3 - từ Thượng Đức tỉnh Quảng Nam cấp tốc hành quân trở về đôi hình Sư đoàn 324 tham gia chiến dịch giải phóng thành phố Huế.
Ngày 19 tháng 3, Trung đoàn 3 vừa về đến khu vực Nam Đông Khe Tre ( trên trục đường 14) đã được lệnh tổ chức lực lượng thay thế Trung Đoàn 1 và Trung đoàn 2 ở khu vực Núi Bông, Núi Nghệ, điểm cao 224... Hoàn thành vào ngày 21 tháng 3 trong điều kiện địch dùng bom pháo đánh chăn rất ác liệt... Để các đơn vị kịp chuẩn bị tiến về đồng bằng theo nhiệm vụ được giao.
Mờ sáng ngày 20-3-1975, hai phân đội trinh sát Sư đoàn tăng cường cho các trung đoàn làm nhiệm vụ cắt đường xuống đồng bằng lặng lẽ xuất phát. Cả hai phân đội đều có nhiệm vụ đến Sở Chỉ huy các Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 trực tiếp báo cáo lại kế hoạch của Cơ quan Trinh sát Sư đoàn. Sau đó dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Chủ nhiệm Trinh sát Trung đoàn thực hiện nhiệm vụ cắt đường đưa các đơn vị xuống đồng bằng.
Trưa hôm ấy, các phân đội trinh sát mới bắt đầu thực hiện cắt đường để chuẩn bị cho Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 tiến về đồng bằng theo nhiệm vụ được giao. Hướng của Trung đoàn 1 dự kiến phương án: Trinh sát từ bắc núi Bông cắt rừng men theo nam đường 14 đến đường 1, đoạn cách nam ngã ba La Sơn khoảng 1 ki-lô-mét. Sau đó bộ đội vượt đường 1, vượt phá Tam Giang tiến về cửa Thuận An. Hướng của Trung đoàn 2 dự kiến phương án: Trinh sát từ Sở Chỉ huy Trung đoàn 2 (đông nam Động Truồi) cắt đường men theo bắc sông Truồi đến đường 1, cách đoạn bắc cầu Truồi chừng 500 mét. Sau đó bộ đội vượt đường 1, vượt phá Tam Giang rồi tiến về cửa biển Thuận An và cửa biển Tư Hiền.
Thời gian phải hoàn thành nhiệm vụ là quá gấp. Địa hình lại trống trải. Bộ đội ta hoạt động ban ngày rất hạn chế nên trinh sát của ta buộc phải tổ chức cắt đường theo phương pháp sâu đo. Nghĩa là cắt đường đến đâu thì đưa bộ đội đến đó.
Đến gần sáng ngày 21 tháng 3, sau khi cắt được một đoạn đường khoảng 10 ki-lô-mét, trinh sát cả hai hướng Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 phải tính toán cho người quay về đón bộ đội. Từ sáng ngày 21 tháng 3, trong quá trình cắt đường, trinh sát ta phải chia thành từng tổ nhỏ, cắt từng chặng đường từ 2 đến 3 cây số, sau đó lại bố trí người quay lại đón bộ đội. Đúng vào đêm 21 rạng sáng 22 tháng 3, trinh sát đã đón và đưa Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 tiến xuống đồng bằng đúng thời gian quy định.
Sau một ngày hành quân theo những con đường trinh sát chuẩn bị, đêm 22 tháng 3, hầu hết các đơn vị của Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 đã vượt đường 1 an toàn tiến về hướng cửa Thuận An, cửa Tư Hiền. Ban đêm trời tối, đường lạ, địa bàn phức tạp, tốc độ tiến quân chậm. Gần 100 chiến sĩ của Trung đoàn 1 bị tụt lại ở tây đường 1. Vì trời đã sáng số quân này không thể mạo hiểm vượt đường. Tham mưu phó trung đoàn Hà Quang Đinh đã tổ chức cho bộ đội chiếm khu vực nam làng La Sơn, xây dựng công sự và trận địa bám trụ sẵn sàng đánh địch.
Trong cái rủi lại có cái may. Lực lượng của ta chốt giữ nam làng La Sơn cả ngày 23 tháng 3 khiến cho quân địch trong vùng lúng túng bị động. Kẻ địch ở đây báo cáo với cấp trên của chúng: “Cứ điểm La Sơn bị bao vây nên trận địa pháo không thể nào hoạt động được. Đoạn đường 1, nam làng La Sơn bị Việt cộng khống chế nên cũng không thể di chuyển đi được”. Như vậy, lực lượng ta bị tụt lại ở phía tây đường 1 do anh Hà Quang Đinh chỉ huy đã lập chiến công lớn. Quân ta tạo được thế uy hiếp cả cứ điểm La Sơn và đường 1. Kẻ địch rơi vào tình thế rất lúng túng.
Trưa ngày 23-3-1975, chúng ta nhận được tin: Tướng Ngô Quang Trưởng đã ra lệnh cho các đơn vị của chúng rút khỏi Huế, tập trung về bảo vệ Đà Nẵng. Chiều hôm ấy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324 đã ra lệnh cho Trung đoàn 3 cùng với các đơn vị xe tăng theo đường 1, đánh thẳng vào cố đô Huế. Tôi đã cử anh Phan Đình Hạ cùng một phân đội trinh sát xuống giúp Trung đoàn 3 tiến công chiếm thành phố Huế.
Tối 23 tháng 3, bộ đội ta ở nam làng La Sơn do đồng chí Hà Quang Đinh chỉ huy đã hành tiến qua đường 1 an toàn và đuổi theo kịp đơn vị. Được đồng chí Lê Văn Dánh Phó Chính ủy và đồng chí Nguyễn Phúc Thanh quyền Tham mưu trưởng Sư đoàn chỉ đạo trực tiếp, Trung đoàn 1 do Trung đoàn trưởng Trương Văn Núp chỉ huy đã đưa lực lượng đi đầu của trung đoàn vượt phá Tam Giang, qua đoạn bắc bến đò Lương Viên vào lúc mờ sáng 24-3-1975. Đến đêm 24 tháng 3 hầu hết lực lượng Trung đoàn 1 đã vượt phá Tam Giang an toàn, rồi tiến về hướng cửa biển Thuận An.
Hướng Trung đoàn 2, được đồng chí Minh Long - Sư đoàn phó trực tiếp chỉ đạo cũng phát triển thuận lợi. Đêm 24, sáng 25 tháng 3, Trung đoàn trưởng Nguyễn Đình Mai cùng Chính ủy Lê Văn Mẹo chỉ huy Trung đoàn 2 vượt phá Tam Giang qua đoạn nam bến đò Lương Viên. Sau đó Trung đoàn 2 tiến về hướng bắc cùng Trung đoàn 1 đánh chiếm khu vực cửa biển Thuận An. Riêng Tiểu đoàn 4, do Phó Chính ủy Trung đoàn - Trương Anh Dung chỉ đạo trực tiếp đã đánh chiếm khu vực bắc cửa biển Tư Hiền.
Đại quân của Sư đoàn 324 xuất hiện đồng loạt ở đồng bằng huyện Phú Lộc, và khu vực phía đông phá Tam Giang. Sau đó các đơn vị rầm rộ tiến về hướng cửa Thuận An và cửa Tư Hiền,quá nhanh, quá bất ngờ. Chính điều này đã làm cho quân địch ở thành phố Huế hoảng loạn, bỏ chạy về cửa biển Thuận An trong đêm 24-3-1975 để tìm cách thoát thân bằng tàu thuyền theo đường biển.
Thế nhưng hầu hết các loại tàu thuyền của địch đều bị pháo binh ta khống chế cho nên chúng không thể cập bến. Một số tàu của địch cập bến được ở cảng Thuận An thì cũng không đủ khả năng để chở hàng vạn quân đang hỗn loạn. Thực tế, chúng đã và đang bắn lẫn nhau để tranh lên tàu.
Khoảng 2 giờ sáng ngày 24 tháng 3, Sở Chỉ huy Sư đoàn 324 rời Động Truồi theo đường 14 tiến về đồng bằng. Tôi được giao chỉ huy một phân đội trinh sát, một trung đội 12,7 ly và một trung đội công binh có nhiệm vụ đi trước, đánh dẹp địch để bảo đảm an toàn cho Sở Chỉ huy Tiền phương sư đoàn trong quá trình di chuyển. Nhớ lại, mờ sáng hôm ấy chúng tôi vượt qua điểm cao 75 và 76. Anh em trinh sát cắt đường tạt sang phía tay phải theo hướng đông nam, rồi vượt đường 1 vào tối 24-3-1975. Sau khi qua đường 1, lực lượng trinh sát đi đầu tiến vào một khu làng. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi phát hiện những người dân nằm phủ phục rất đông hai bên đường. Họ cầu xin “các ông Giải phóng" đừng giết họ.
Chúng tôi phải cùng các cụ già trong làng giải thích về chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau đó mời dân “ai về nhà nấy để bộ đội Giải phóng làm nhiệm vụ”. Khoảng 20 phút sau đám đông mới được giải tán. Chúng tôi đoán khu vực này do giới cầm quyền Sài Gòn kiểm soát lâu ngày, dân chúng bị chúng tuyên truyền xuyên tạc về hình ảnh bộ đội Giải phóng. Cho nên khi chúng tôi tiến vào làng, có thể người dân sợ quá, hoặc cũng có thể việc đó nằm trong kế hoạch của địch nhằm tổ chức cản đường tiến quân của ta nên họ mới hành động như vậy?
Tối muộn 24-3-1975, lực lượng trinh sát đã quay lại đón và đưa Sở Chỉ huy Tiền phương Sư đoàn 324 vượt đường 1, đoạn bắc Cầu Truồi gần một cây số an toàn. Mờ sáng 25-3, Bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn 324 đến bến đò Lương Viên. Lúc ấy, kẻ địch đã tháo chạy, bỏ lại đây hàng ngàn súng bộ binh và rất nhiều xe máy.
Trong đêm 24 tháng 3, Sư đoàn nhận được tin: Địch ở Huế đã tháo chạy về cửa biển Thuận An. Riêng đồn Mang Cá Nhỏ chúng vẫn chiếm giữ. Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn ra lệnh: “Ta phải khẩn trương đánh chiếm đồn Mang Cá Nhỏ để địch không còn bàn đạp phản kích như hồi năm 1968”.
Đêm hôm ấy, đồng chí Trần Tâm - Trưởng ban Tác chiến Sư đoàn đã viết điện khẩn, chuyển lệnh của Sư đoàn trưởng xuống Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3. Nhưng Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn vẫn chưa thật yên tâm. Ông đã chỉ thị cho tôi cùng một đồng chí liên lạc trực tiếp vào thành phố Huế, truyền đạt lại mệnh lệnh của Sư đoàn cho lực lượng Trung đoàn 1, hoặc Trung đoàn 3 ở Huế phải khẩn trương đánh chiếm và giữ chắc đồn Mang Cá Nhỏ để địch không còn bàn đạp phản kích. Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn vẫn thường cẩn trọng như vậy.
Do thời gian đòi hỏi rất khẩn trương, cho nên sau khi nhận lệnh, tôi bàn giao nhanh quyền chỉ huy lực lượng đi trước cho đồng chí Phân đội trưởng trinh sát, rồi cùng đồng chí Thông, chiến sĩ liên lạc vội vã lên đường, hướng thẳng về Huế bằng chiếc xe Mô tô Hon-đa nữ. Tôi trực tiếp cầm lái. Thông ngồi sau ôm súng AK sẵn sàng đánh địch khi có tình huống. Tuy biết là trên đường đi vào thành phố Huế, tàn quân địch ở trong các làng xóm, hoặc trong các lùm cây, mô đất dọc đường có thể xả súng bắn vào hai chúng tôi bất cứ lúc nào, nhưng mệnh lệnh chiến đấu là trên hết, bằng giá nào cũng phải nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ.
Khoảng 8 giờ ngày 25 tháng 3, còn cách nội đô Huế gần 20 ki-lô-mét, chiếc xe hon-đa bỗng khựng lại. Chúng tôi đang loay hoay tìm cách khắc phục thì dân trong làng gần đó chạy ra vui mừng chào đón các anh bộ đội Giải phóng. Người thì mang xăng, người thì mang cờ lê, mỏ lết sẵn sàng giúp đỡ. Tôi còn nhớ, một bác đã tầm tầm tuổi trung niên, nhanh nhẹn kiểm tra xe rồi nói: “Hết xăng", sau đó bác ấy tự tay đổ đầy bình xăng và khởi động máy cho chúng tôi. Mọi người cùng chúc: “Tốt rồi, các anh đi may mắn nhé!”
Tôi và Thông chỉ biết cảm ơn rồi vội vã lên đường. Can xăng thật quí giá, tiếp xăng còn hơn tiếp máu lúc này. Được nhân dân hướng dẫn, chỉ đường rất tỉ mỉ, hai người tiếp tục tiến về hướng bắc theo những con đường nhỏ qua các làng xóm, cánh đồng, bãi trống để vào thành phố Huế.
Hơn 9 giờ hôm ấy, hai anh em mới tới ngoại ô thành Huế. Cả thành phố im ắng không tiếng súng. Đường phố vắng bóng người. Nhà nhà đóng kín cửa. Khắp nơi ngổn ngang các loại trang thiết bị chiến đấu của quân đội Sài Gòn bỏ lại.
Đang lúng túng tìm đường về đồn Mang Cá, tôi và Thông may mắn gặp được hai người dân mặc bộ đồ lao động đang đi trên hè phố. Khi chúng tôi hỏi, họ vui vẻ: "chào bộ đội Giải phóng" rồi chỉ đường rất nhiệt tình cho hai anh em đi đến đồn Mang Cá Nhỏ. Một người còn nói với theo:
- Lính Quốc gia ở đó đã bỏ chạy về Thuận An từ đêm rồi. Thành phố không còn lính nữa mô!
Khoảng 10 giờ 30 ngày 25-3-1975, tôi và Thông đã đến đồn Mang Cá Nhỏ. Đúng là địch đã rút chạy, bỏ lại ngổn ngang bao nhiêu thứ đồ đạc nhà binh. Và cả đồn Mang Cá Lớn cũng không còn bóng giặc. Vậy là quân đội Sài Gòn đã bỏ Huế rút chạy và Thành phố Huế đã được giải phóng từ sáng ngày 25-3-1975. Không biết tôi và Thông có phải là những người lính đầu tiên tiến vào nội thành Huế trong ngày giải phóng hay không? Hôm ấy, hai chúng tôi còn đi một số nơi để xem xét tình hình trong nội đô thành phố Huế, rồi lên Hon-đa quay trở lại báo cáo Sư đoàn trưởng.
Trưa ngày 25-3-1975 Trung đoàn 3 tiến quân vào thành phố Huế. Ngay sau đó, đã nhanh chóng phát triển về phía đông cùng Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 làm chủ cửa biển Thuận An vào chiều muộn hôm ấy. Quân ta bắt được rất nhiều tù binh địch, thu nhiều vũ khí, quân trang và xe quân sự.
Nhận được tin Huế đã được giải phóng. Chiều ngày 25-3-1975, đồng chí Sư đoàn Trưởng Nguyễn Duy Sơn cùng cơ quan Sở Chỉ huy Tiền phương Sư đoàn 324 đã về đứng chân ở phường Vĩ Dạ, thành phố Huế. Tại đây Bộ Tư lệnh Sư đoàn tiếp tục chỉ huy các đơn vị gấp rút truy lùng tàn quân địch ở vùng bãi cát từ cửa Thuận An đến cửa Tư Hiền. Đêm hôm ấy, tất cả cơ quan Sư đoàn và một số đơn vị trực thuộc sư đoàn cũng hành quân từ làng Bàng Môn huyện phú Lộc về đến phường Vĩ Dạ thành phố Huế..
Ngày 26-3-1975 là một ngày vô cùng bận rộn của cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 324. Bộ đội ta tiếp tục truy lùng bắt hết số tù binh còn lại, rồi vừa phân loại tù binh, vừa thu gom các loại vũ khí, trang bị của địch.
Đặc biệt các đơn vị có nhiệm vụ chọn một số tù binh quân đội Sài Gòn biết sử dụng các loại xe con, xe vận tải để chuẩn bị cho nhiệm vụ phát triển chiến đấu tiếp theo. Tôi còn nhớ anh Phan Đình Hạ, Trợ lý Trinh sát sư đoàn kể lại. Sáng ngày 26 tháng 3, anh Hạ cùng một tổ trinh sát xuống khu vực giam giữ tù binh ở gần phường Vĩ Dạ để chọn 50 binh sĩ Sài Gòn biết lái xe.
Đến nơi, sau khi trao đổi với lực lượng quản giáo, anh tập trung khoảng 500 tù binh rồi hỏi: “Ai biết lái xe giỏi thì giơ tay?”. Lập tức hàng trăm cánh tay giơ cao. Anh Hạ chọn trong số đó lấy khoảng 60 người, đưa ra một khu vực riêng để quán triệt nhiệm vụ của người lái xe. Anh đặc biệt nhấn mạnh về vấn đề an toàn và thành thực. Sau đó anh phát giấy bút cho họ viết cam đoan, yêu cầu phải ghi rõ chức vụ, nghề nghiệp, quê quán và những ý kiến đề nghị.
Chưa đến một giờ, 60 tờ giấy cam đoan được nộp đầy đủ. Trong đó có 17 người nêu nội dung tố cáo và phản ánh (ta đã nắm được 12 tên ác ôn có nợ máu, những tên là sĩ quan quân đội Sài Gòn và năm người có tay nghề lái xe yếu). Qua đó, chúng ta đã xác minh, sàng lọc lấy đủ số lượng lái xe định chọn.
Anh Hạ cùng các chiến sĩ trinh sát dẫn 50 tù binh ra bãi xe địch bỏ lại ở gần đó để chọn những chiếc xe tốt nhất. Anh em tù binh chọn xe có trách nhiệm và rất nhanh. Khoảng một giờ sau đó, 45 xe tải và 5 xe con đã xếp thành hàng trên đường, sẵn sàng về đơn vị. Được phục vụ Quân Giải phóng, anh em tù binh tỏ ra rất vui.
Trên đường lái xe về nơi quy định, gặp các bạn tù binh đang được ta giải đi trên đường, hầu hết các lái xe ấy đều vẫy tay chào và nói với các bạn rất to: “Chúng mày ơi, bọn tao có ánh sáng rồi”. Ngẫm cũng lạ, chính những người tù binh ở bên kia chiến tuyến lại lái xe chở chúng tôi tiến đánh Đà Nẵng và thực hiện nhiệm vụ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh an toàn, kịp thời gian quy định. Thế là chúng ta đã tạo cho họ góp công sức với đất nước, dù có muộn mằn. Trong số họ, có những người được khen thưởng. Sau này hầu hết số tù binh đó đều được giảm hoặc miễn đi học tập cải tạo.
Tối 26-3-1975, một ngày sau khi ta làm chủ thành phố Huế, Bộ Tư lệnh Sư đoàn có một cuộc họp quan trọng. Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 Hoàng Đan cũng dự cuộc họp này. Trong cuộc họp, Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn báo cáo tình hình khó nhất hiện nay là việc đảm bảo lương thực cho tù binh. Chỉ riêng gạo cho chúng ăn tính ra mất khoảng gần 20 tấn một ngày. Không lẽ chúng ta bỏ đói họ. Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn chỉ thị:
- Ta phải triệt để thực hiện nghiêm chính sách nhân đạo với tù binh. Các đồng chí lệnh cho các đơn vị thả tù binh địch, giao cho địa phương quản lí, cấp giấy chứng nhận cho họ. Ta chỉ giữ lại sĩ quan và bọn ác ôn. Làm như vậy, ta vừa thực hiện được chính sách nhân đạo, vừa làm được công tác binh vận.
Giải quyết xong vấn đề tù binh, Sư đoàn trưởng đề cập đến vấn đề cốt lõi:
- Bây giờ trinh sát cho tôi biết tình hình địch ở Đà Nẵng như thế nào?
- Thưa các thủ trưởng, hiện nay Đà Nẵng có khoảng sáu vạn tên địch. Trong đó có gần bốn vạn tên ở tại chỗ, số còn lại chúng chạy từ Tây Nguyên xuống và từ Huế vào - Tôi báo cáo.
- Theo đồng chí, lực lượng địch ở Đà Nẵng có mạnh không - Phó Tư lệnh Hoàng Đan hỏi thêm.
- Thưa... Quân địch ở các nơi chạy về gieo rắc thêm tâm lý hoang mang. Bọn địch tuy có đông nhưng ô hợp nên không thể mạnh - Tôi trả lời.
- Ta nên đánh bằng cách nào - Sư đoàn trưởng quay sang hỏi Trưởng ban Tác chiến.
- Bây giờ ta đánh theo cách của Nguyễn Huệ thì thắng, theo cách của Nguyễn Trãi chắc thua. Có phải không các đồng chí - Trưởng ban Tác chiến Trần Tâm chưa kịp trả lời, Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 Hoàng Đan hóm hỉnh nói.
Cả cuộc họp cười sảng khoái. Tôi thấy cách ví von so sánh của Phó Tư lệnh Quân đoàn rất sâu sắc. Nó chỉ ra được phương thức chỉ đạo giải quyết chiến trường thật tuyệt vời. Tôi hiểu đánh như cách của Nguyễn Huệ tức là hành quân thần tốc vào Đà Nẵng nhanh như cơn lốc. Ngày xưa Nguyễn Huệ đã đưa quân từ xứ Huế ra Thăng Long rất nhanh và đánh thắng quân Thanh thật tài tình. Còn đánh theo cách của Nguyễn Trãi, Phó Tư lệnh mượn ý câu thơ trong Đại cáo bình Ngô: “Lại cho quân bốn mặt vây thành, đợi đến giữa tháng 10 diệt địch”. Nếu chúng ta tiến vào Đà Nẵng theo lối chậm chắc thì đó là cách đánh mất thời cơ, bỏ lỡ lợi thế.
- Ngày mai 27 tháng 3, Sư đoàn 324 khẩn trương tiến vào Đà Nẵng. Các cơ quan sư đoàn lên kế hoạch và chuẩn bị thật tốt cho cuộc hành quân gấp rút này - Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn ra lệnh.
Hội nghị kết thúc, rất căng thẳng nhưng đầy phấn chấn. Sau cuộc họp, tất cả cán bộ chiến sĩ sư đoàn chuẩn bị hành quân, gần như suốt đêm không ngủ. Mới mờ sáng ngày 27-3-1975, các đơn vị của Sư đoàn 324 sử dụng xe ô tô chiếm được của địch ở Huế do tù binh lái, cùng xe của người dân tự nguyện chở bộ đội, các đơn vị lần lượt hành quân tiến sâu vào phía Nam.
Trung đoàn 3, Trung đoàn pháo binh 78 cùng Sở Chỉ huy Tiền phương Sư đoàn đi trước. Tiếp theo là Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 hành quân theo đường 14 B qua núi Đồng Đen, rồi qua huyện Hòa Vang, vào vị trí triển khai sẵn sàng đánh chiếm thành phố Đà Nẵng, thủ phủ miền Trung của quân đội Sài Gòn. Chính tại nơi này, mấy ngày trước đó, viên Tướng Ngô Quang Trưởng của giới cầm quyền Sài Gòn còn gào thét, hô hào binh sĩ “tử thủ” - Quyết giữ thành phố Đà Nẵng đến cùng.
Tôi nhớ mãi hình ảnh hàng trăm người dân Hòa Vang tập trung, hò nhau đẩy xe của chúng tôi qua bãi lầy. Nhân dân còn đem nhiều vật dụng, kể cả cánh cửa của nhà mình ra đường chống lầy cho xe của quân ta tiến vào Đà Nẵng. Thật là cảm động!
Khoảng 17 giờ ngày 28 tháng 3, đồng chí Phùng Ngọc Bảo, Trưởng phòng Quân báo Quân đoàn 2 đã trực tiếp thông báo cho tôi một tin quan trọng: Ta vừa mới nhận được cuộc điện đàm giữa tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Nội dung cuộc trao đổi như sau:
- Bao giờ Đà Nẵng bị tiến công - Nguyễn Văn Thiệu hỏi Ngô Quang Trưởng.
- Việt cộng muốn tấn công Đà Nẵng phải cần một lực lượng tương đương bốn quân đoàn, mà muốn cơ động được từng ấy lực lượng đến Đà Nẵng phải mất ít nhất 20 ngày - Ngô Quang Trưởng trả lời.
Ngô Quang Trưởng và bộ tham mưu của hắn cho rằng 20 ngày nữa Đà Nẵng mới bị tiến công. Mà theo kế hoạch Bộ Tư lệnh Mặt trận của ta thì 5 giơ 30 ngày mai (29 tháng 3) là giờ nổ súng tiến công Đà Nẵng. Như vậy, kẻ địch đã nhận định sai về thời gian bị ta tiến công tới bốn mươi lần. Tôi báo cáo ngay tin tức trên với Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn và Chính ủy Nguyễn Trọng Dần.
- Ngô Quang Trưởng đã đến ngày tận số rồi - Chính ủy Nguyễn Trọng Dần nói.
Đêm 28-3-1975, các trung đoàn, lữ đoàn pháo binh của ta đã vào vị trí chiếm lĩnh trận địa. Hầu hết lực lượng bộ binh của ta đã ở vị trí xuất phát tiến công, sẵn sàng đánh chiếm thành phố Đà Nẵng. Đúng 5 giờ 30 ngày 29-3-1975, pháo binh của ta đồng loạt đánh phá các vị trí quan trọng của địch ở Đà Nẵng. Thành phố biển Đà Nẵng phút chốc chìm trong biển lửa và khói đạn của pháo binh ta.
Các đơn vị của Quân đoàn 2 tiến quân theo hai hướng:
- Sư đoàn 324 từ vùng rừng núi phía tây tiến công căn cứ Phước Tượng (Sở Chỉ huy Sư đoàn 3 quân đội Sài Gòn) rồi vượt qua ngã ba Huế đánh vào trung tâm thành phố Đà Nẵng; chiếm Sở Chỉ huy Vùng 1 chiến thuật của chúng.
- Sư đoàn 325 theo đường 1 tiến vào đánh chiếm cảng Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà và một số mục tiêu quan trọng ở trung tâm thành phố.
Ở hướng nam - tây nam, lực lượng Quân khu 5 và Sư đoàn 304 cũng bất ngờ phối hợp tiến công đánh chiếm căn cứ Hòa Cầm, sân bay cùng nhiều mục tiêu quan trọng của địch trong trung tâm thành phố Đà Nẵng.
Một trận hợp đồng tác chiến vô cùng ngoạn mục của bộ đội ta kết hợp với bước tiến quân nhanh như chớp, với sức mạnh như bão táp, ập xuống trung tâm thành phố. Hàng vạn quân địch ở Đà Nẵng bị tách ra từng mảng, đội hình rối loạn. Chúng chống trả rất yếu ớt. Cảnh tượng hỗn quân, hỗn quan, kéo đàn, kéo lũ tháo chạy theo kiểu tùy nghi di tản thật thảm hại.
Như vậy là chỉ trong vòng chưa đầy một ngày, buổi sáng ngày 29-3-1975 quân ta nổ súng tiến công, buổi chiều ngày 29-3-1975 thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam đã hoàn toàn được giải phóng. Có lẽ trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, chưa có một chiến dịch nào lại diễn ra nhanh như thế. Từ sáng đến chiều khoảng sáu vạn quân của địch, với trang thiết bị hiện đại cùng với hàng chục cụm căn cứ phòng ngự kiên cố của chúng đã hoàn toàn tan rã.
Khoảng 9 giờ ngày 29 tháng 3, tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy một phân đội trinh sát bảo vệ các tướng lĩnh của ta cùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324 tiến vào Đà Nẵng. Lúc bấy giờ, trên đường phố còn rất đông binh lính Sài Gòn đi lại rất lộn xộn, nhưng thành phố đã hoàn toàn im tiếng súng. Các đồng chí trong Cơ quan Binh vận của ta phải dùng loa để kêu gọi, hướng dẫn tàn quân địch xếp súng vào hè đường rồi tự tìm đến chính quyền địa phương và các đơn vị Quân Giải phóng trình diện.
Nhân dân đứng thành hàng dài hai bên đường tay cầm cờ hoa rực rỡ vẫy chào đón đoàn quân chúng tôi tiến vào giải phóng thành phố. Trưa hôm ấy, các đồng chí tướng lĩnh cùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324 đều có mặt tại sở Chỉ huy vùng 1 chiến thuật quân đội Sài Gòn an toàn. Các thủ trưởng cùng cơ quan tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình truy quét tàn quân địch. Ngày hôm sau, hàng ngàn sĩ quan, hàng vạn binh lính địch kéo ra sân vận động Chi Lăng và một số địa điểm khác để trình diện Chính quyền địa phương và các đơn vị Quân Giải phóng.
Chiến thắng vang dội trên chiến trường Huế - Đà Nẵng đã hoàn toàn lật ngược thế cờ trong cuộc chiến ở miền Nam. Trong hơn 20 ngày tháng 3 nam 1975 lịch sử, giới cầm quyền Sài Gòn đã mất Tây Nguyên, mất Trị Thiên- Huế, và lại mất nốt Đà Nẵng, Quảng Nam. Đến thời điểm đó, quân đội Sài Gòn đã tổn thất trên 50% thực lực quân sự. Tình thế đã đặt ta vào thế thắng. Thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến. Không một thế lực nào có thể đảo ngược được. Tôi cảm nhận cũng như hiểu sâu sắc những diễn biến chóng mặt trên chiến trường trong niềm vui “chờ đón thời cơ”.
Sau khi giải phóng Đà Nẵng, Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 được dự báo sẵn sàng xuống tàu, cùng lực lượng Đặc công Hải quân tiến ra biển Đông giải phóng Quần đảo Trường Sa. Nhưng kế hoạch trên bị hoãn lại vì cấp trên quyết định dùng lực lượng khác.
Quân đoàn 2 giao cho Sư đoàn 324 cùng lực lượng Quân khu 5 tiếp quản thành phố Đà Nẵng, giữ vững vùng mới giải phóng và làm lực lượng dự bị cho quân đoàn sẵn sàng giải phóng các tỉnh Duyên hải miền Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Trong quá trình dừng chân ở Đà Nẵng, một số đơn vị của sư đoàn đã hành quân vào Quảng Ngãi rồi quay lại để nghi binh địch theo chỉ thị của cấp trên. Dừng chân ở Đà Nẵng được ít ngày, Sư đoàn 324 đã long trọng tổ chức đón đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu đến thăm. Hôm ấy, sư đoàn triệu tập cán bộ cấp tiểu đoàn, trung đoàn và tất cả cán bộ các cơ quan sư đoàn tới căn cứ Phước Tượng, nơi Sở Chỉ huy Sư đoàn 3 quân đội Sài Gòn vừa bỏ chạy để nghe Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ nói chuyện. Ông đã nói nhiều về chính sách hòa hợp dân tộc khi ta giải phóng hoàn toàn miền Nam với niềm tin mãnh liệt vào thế thắng của Cách mạng Việt nam. Đây cũng là dịp hội ngộ hiếm có của đội ngũ cán bộ trong sư đoàn qua những ngày máu lửa, tay nắm tay nhau mừng vui, như được tăng thêm sức mạnh để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Thực hiện mệnh lệnh: “thần tốc, thần tốc hơn nữa; Táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận…” của Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Trong hai mươi ngày đầu tháng 4-1975, Quân đoàn 2 cùng với lực lượng Quân khu 5, Quân khu 6 và nhân dân miền Trung đã lần lượt giải phóng các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận... Như vậy là Khu 5 dằng dặc khúc ruột miền Trung đã được hoàn toàn giải phóng. Gần 10 năm đời quân ngũ, tôi chưa từng thấy có bao giờ chiến thắng của ta lại to lớn, lại nhanh đến thế và bước phát triển của các chiến dịch đánh địch lại nhảy vọt như lúc bấy giờ.
Tại Đà Nẵng tôi tranh thủ thời gian viết thư báo tin vui cho vợ.
Đà Nẵng 18-4-75
Em thương yêu!
Bữa trước nhận được thư em, anh chỉ kịp ghi vài chữ báo tin để em và thầy mẹ hai bên yên tâm... Hôm nay, anh viết tiếp thư này để kể chuyện chiến trường cho em nghe đấy...Em có thích nghe anh kể chuyện không nào!
Trước tiên anh kể chuyện tết chiến trường cho em nghe nhé...
Em ạ! Tết vừa qua anh và các bạn của anh phần lớn đều không được về thăm nhà. Các anh định tổ chức ăn tết thật to, thật vui để bớt nhớ nhà, nhớ người thân..Các anh chuẩn bị tết từ trước tháng Chạp, nào là trồng rau, nào là nuôi gà, nuôi lợn, chuẩn bị nếp để gói bánh chưng... Nói chung các anh đã sắm tết đầy đủ. Nhưng các anh học tập cụ Quang Trung...Các anh đã ăn tết trước (ngày 6-2) để lên đường. Tuy ăn tết trước nhưng cũng vui lắm. Không những vui đón xuân mà còn kèm theo không khí của một ngày xuất trận... Về vật chất cũng chẳng thiếu thứ gì. Cũng "thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh"... Sau đó là những ngày vất vả, gian khổ lại đến với anh (anh cũng không nhớ những ngày gian khổ ấy nó đến với anh lần này là lần thứ bao nhiêu nữa)... Gian khổ để chiến thắng em ạ! Ngày mùng 1, mùng 2 đến mùng 5 tết, anh cùng đồng đội liên tục leo đèo lội suối để chuẩn bị cho chiến dịch... Thế rồi anh của em đã tham gia chiến dịch Trị Thiên.....Ngày 25-3 anh đã có mặt ở thành phố Huế và tiếp đó anh đã đi thăm cung vua, lăng Tự Đức......Ngày 29-3 anh đã có mặt ở thành phố Đà Nẵng, một thành phố soi mình bên bờ biển...Anh đã đi thăm bán đảo Sơn Trà, anh đã dạo chơi bên bờ sông Bạch Đằng và anh đã đi thăm hầu hết các phố xá ở thành phố đặc biệt này... Nhân dân đã đón tiếp các anh chẳng khác gì người thân đi lâu ngày mới về, nhiều má mừng đến rơi nước mắt,các em thiếu nhi, các bạn thanh niên nam nữ quần áo đủ màu, mang cờ, mang hoa đứng chật hai bên đường vẫy chào đoàn quân Giải phóng. Bọn lính ngụy thì ngược lại, thấy các anh mặt chúng nó tái mét, chân tay run lật bật lần lượt ra hàng đông như bầy kiến.....Bọn ngụy ở miền Nam rã nhanh quá. Chính anh cũng không tưởng tượng được. 2-3 miền Nam được giải phóng rồi. Từ chỗ anh ở hiện nay muốn vào vùng địch tạm kiểm soát phải đi theo quốc lộ 1, 700 ki-lô-mét nữa. Một ngày gần đây chắc rằng Sài Gòn và toàn bộ miền Nam sẽ được giải phóng. Ngày đó anh sẽ về thăm em và nếu có điều kiện anh sẽ đưa em đi thăm những nơi đẹp nhất trêm mảnh đất miền Nam mà anh đã đặt chân tới. Chắc lúc đó em nhất trí dành thời gian đi chơi với anh chứ.....
... Em Cường nghe nói đi bộ đội rồi phải không, hiện nay em ở đâu cho anh biết địa chỉ nhé.
Thế thôi em nhé! mong em thật vui, thật khỏe công tác thật tốt, hẹn thư sau anh sẽ tâm sự nhiều.
Anh của em - Lê Huy Mai.