MỘT SỐ TRANG PHỤC Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
I. ÁO DÀI – TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
* Áo dài Việt Nam qua các thời kì
- Áo giao lãnh (1744) còn gọi là áo đối lĩnh, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ tay rộng, thân dài chấm gót. Đây là kiểu dáng sơ khai nhất của áo dài Việt Nam.
- Áo tứ thân ra đời vào thế kỉ XIX (thời vua Gia Long) nhằm tạo sự cách biệt sang trọng giữa tầng lớp quý tộc và nông dân trong xã hội thời bấy giờ. Áo có 4 vạt được may như áo dài.
- Áo ngũ thân là kiểu áo truyền thống của phụ nữ miền Bắc, áo gồm năm thân, năm tà (hai tà sau, hai tà trước và một tà ẩn dưới hai tà trước). Vạt cả (vạt bên trái, nằm ở ngoài) rộng gấp đôi vạt con (vạt bên phải, nằm ở trong). Hai vạt nối nhau nhờ cổ áo cao 2 – 3cm được cài kín bằng năm khuy. Khi mặc, phụ nữ thường chỉ cài bốn khuy, để hở khuy cổ nhằm khoe cổ cao ba ngấn. Người giàu thường mặc áo ngũ thân để phân biệt với tầng lớp nghèo hơn mặc áo tứ thân.
- Áo dài Lemur được cải biến từ áo ngũ thân do hoạ sĩ Cát Tường thiết kế năm 1939 và thịnh hành đến năm 1943. Áo có 2 vạt, tà trước chấm đất, tay thẳng và có viền nhỏ, khuy áo được mở sang bên sườn.
- Áo dài Lê Phổ xuất hiện từ những năm 1945 – 1950. Áo dài Lê Phổ đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn. Phần cổ áo cao của áo dài Lê Phổ được xem là mẫu nguyên gốc của thiết kế áo dài Việt Nam hiện nay.
- Áo dài Raglan xuất hiện vào những năm 1960 do nhà may Dung ở Đakao (Sài Gòn) sáng tạo ra với điểm khác biệt là cách nối tay raglan vào áo dài. Tay áo được nối từ cổ chéo xuống một góc khoảng 45o tới nách. Tà trước và tà sau nối với nhau qua hàng nút bấm từ cổ xuống nách và dọc theo một bên hông. Áo dài Raglan đã góp phần định hình phong cách chiếc áo dài Việt Nam ở cả những thiết kế cách tân sau này.
- Áo dài bà Nhu, thiết kế và cải tiến vào thập niên 60 của thế kỉ XX. Phần cổ được khoét rộng, gọi là áo cổ thuyền. Phần eo được chiết thon gọn.
- Những năm 1960 – 1970, mẫu áo dài chiết eo ra đời, tôn phần eo, ngực, tà áo may rộng, gấu áo thẳng, dài đến mắt cá chân.
- Trải qua nhiều biến đổi, mẫu áo dài hiện đại được phát triển trên cơ sở trang phục truyền thống từ áo dài Lê Phổ. Trang phục áo dài đã tôn lên vẻ đẹp quý phái của phụ nữ Việt Nam.
II. TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI KHMER
- Trang phục truyền thống của người Khmer không chỉ phong phú về màu sắc, hoạ tiết, hoa văn mà còn được thiết kế theo nhiều kiểu dáng.
- Chiếc áo vêng mang màu trắng hoặc vàng làm chủ đạo được dệt bằng tơ tằm, sợi bông hay chỉ kim tuyến với các loại hoa văn khác nhau. Màu vàng được ưa dùng vì đây là màu sắc gợi nên không khí hội hè và đây cũng là màu sắc thường gặp trong trang trí kiến trúc tôn giáo truyền thống. Loại áo này thường có đặc điểm dài qua gối, thân rộng, xẻ ngực, tay áo chật, hai bên sườn ghép thêm bốn miếng vải theo chiều dọc từ nách đến gấu áo.
- Sà rông là một mảnh thổ cẩm rực rỡ trang trí nhiều hoạ tiết hoa văn, trong đó hình trám là hoa văn chủ đạo, khi mặc thì cuốn lại che nửa người phía dưới. Vào mỗi dịp lễ tết, lên chùa lễ Phật, người Khmer mặc sà rông có đính chuỗi hạt cườm ở cạp. Mỗi khi xuất hiện hay trình diễn, nét đặc trưng của trang phục luôn thu hút mọi ánh nhìn bởi sự cầu kì, tỉ mỉ, màu sắc rực rỡ, hoa văn trang trí tinh xảo được điểm xuyết, nhấn nhá bằng những hạt cườm, kim sa lấp lánh,…
- Riêng chiếc váy cổ truyền, có tính điển hình nhất của dân tộc Khmer là chiếc xăm pốt chân khen (Sămpết chôn Kpal). Đó là tấm vải rộng quấn quanh thân từ hông xuống ngang đùi, phần vải phía sau kéo luồn giữa hai chân vắt ra phía trước rồi giắt lại ở hông thành một loại như chiếc quần phồng ngắn.