MỞ
Theo lịch thực hành của Bát Nương Diêu Trì Cung, mỗi đêm tịnh sĩ thực hiện 15 phút luyện cộng với 15 phút tịnh liền ngay sau đó. Khi luyện, tịnh sĩ phải thở bụng đồng thời tưởng tượng hơi thở chạy theo mạch Nhâm và mạch Đốc. Trái lại, trong 15 phút tịnh, chỉ cần thở bình thường, nhưng phải chấm dứt mọi suy nghĩ.
Luyện và tịnh quan trọng ngang nhau, nên phải thực hiện cả hai. Theo kinh nghiệm cá nhân, sau 15 phút thở bụng, tinh thần đã khá tập trung, bớt suy nghĩ lan man. Một tâm lý như vậy dễ đi vào phần tịnh hơn.
TÂM VIÊN Ý MÃ
Tịnh, nghĩa đen là làm sao cho đầu óc yên lặng, không còn suy nghĩ lung tung. Mới nghe qua thì thấy rất dễ dàng, nhưng xin nhớ rằng đụng tới suy nghĩ là chúng ta bước vào lãnh vực ý thức. Nói đơn giản, đó là tất cả nhận biết, suy nghĩ, lý lẽ, tính toán trong đầu của chúng ta khi còn sống. Người không có ý thức sẽ sống thực vật, tức là không chết, nhưng không hay biết gì cả. Người có ý thức bất bình thường là người điên.
Hiện nay, giới khoa học thần kinh thừa nhận ý thức là một câu đố chưa có giải đáp hoàn chỉnh. Cụ thể hơn, nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng, Edward Witten, hiện nay là Giáo Sư tại Viện Nghiên Cứu Cao Cấp ở Princeton, New Jersey, Hoa Kỳ, nói rằng nhờ sinh học và vật lý, có thể hiểu cách não bộ hoạt động, nhưng con người sẽ mãi mãi không biết tại sao có ý thức hoặc điều gì sinh ra ý thức.
Nhận xét của các nhà khoa học càng khiến chúng ta hiểu chuyện làm cho trí óc tĩnh lặng là cực kỳ khó khăn. Họ còn phải dò dẫm thì chắc chắn chúng ta phải học hỏi thật nhiều mới mong hiểu được chút ít.
Giờ xin quay lại với chủ đề tịnh. Trước hết, người viết xin trích nguyên văn một đoạn trong quyển Bí Pháp Luyện Đạo của Bát Nương: “Tịnh là bắt tâm ý không hoạt động nữa, không cho tới mức không không. Muốn cho tâm ý không hoạt động nữa, trước hết ta phải từ bỏ dục tình, từ bỏ lợi danh, từ bỏ ham muốn, cho tới không ham muốn thành Phật nữa. Không ham muốn, tức không suy nghĩ, không so đo, không cân nhắc, cho tới mức không không.”
Quý đồng đạo nào đã thử “bắt tâm ý không hoạt động nữa, không cho tới mức không không.” sẽ thấy việc này không hề dễ dàng. Này nhé, để bắt đầu tịnh, chúng ta sẽ tự nói thầm, “Giờ mình sẽ không suy nghĩ đến việc gì nữa.” Nhưng, sự thật là càng nói, dù cả chục lần, trong đầu càng hiện lên nhiều chuyện lặt vặt trong cuộc sống. Nào là mai phải đi đám giỗ, nào là phải đi xin giấy tạm trú, nào là coi chừng đồng nghiệp nói xấu với xếp v.v… Mặc dù lúc ở trong tịnh thất không được liên lạc với bên ngoài, những câu chuyện như thế chưa chắc chịu dừng lại.
Qua thực hành, người viết nhận ra 2 tính chất đặc trưng của những suy nghĩ này. Một, chúng ta không biết khi nào suy nghĩ khởi đầu. Khi nhận ra thì ta đã suy nghĩ được một đoạn rồi. Hai, khi biết được mình suy nghĩ chuyện gì thì chuyện đó kết thúc. Không lâu sau, một chuyện khác nhảy vào thế chỗ. Và cứ liên tục như vậy cho đến khi ngủ gục. Người tu học xưa gọi lúc đó là “hôn trầm”.
Tình trạng suy nghĩ lung tung này ngàn xưa đã được các bậc tiền bối tu học bên Trung Hoa đặt tên “Tâm Viên Ý Mã” (dịch tiếng Việt - tâm như con vượn, ý như con ngựa). Nghĩa là, suy nghĩ của chúng ta cứ đổi liên tục từ chuyện này sang chuyện khác như vượn chuyền cành, ngựa chạy không định hướng trên đồng cỏ. Theo ghi nhận sách vở, có vẻ như các thiền sư, triết gia, tu sĩ ngày trước có nhiều cách đối phó tâm viên ý mã khác nhau.
Do chơn thần mọi người đều khác nhau, cho nên không thể có một phương pháp duy nhất để cho mọi người cùng thực hiện rồi đạt kết quả như nhau. Xin nhắc lại một câu chuyện để làm rõ thêm. Trong phẩm Đốn Tiệm, Pháp Bửu Đàn Kinh, Đức Lục Tổ Huệ Năng nói với sư Chí Thành rằng Ngài chỉ nhìn ra người tu học thiếu sót điều gì thì bổ sung chỗ đó để giúp họ giải thoát. Ngài không có một pháp (cách) nhất định nào cả để dạy người.
Suy ra, có bao nhiêu người tu học thì phải có bấy nhiêu pháp (cách) để bổ sung. Điều quan trọng là ngày nay không có Đức Lục Tổ để nhìn ra chúng ta thiếu điều gì. Còn chúng ta thì chắc chắn không thấy hết cái “ngu tối” của mình rồi. Bởi vì đã “ngu tối” thì làm sao biết được “khôn ngoan” là gì?
Có một ý kiến nữa, cũng đáng tham khảo, đó là không nên tịnh luyện. Bởi vì theo luật Cao Đài, Hộ Pháp nắm giữ bí pháp. Ngài mới có quyền “cân thần”, nghĩa là xác định một người có đủ chơn thần hay không. Đủ thì mới tịnh luyện được. Ngày nay không có Hộ Pháp nữa thì chỉ còn cách làm công quả, làm phước thiện mà thôi. Vì vậy, khá nhiều đồng đạo còn tuyên bố sẽ chờ ngày Đức Hộ Pháp tái sinh để dạy tịnh luyện.
Có lẽ Đức Hộ Pháp đã thấy trước việc này, nên đêm 01 tháng 2 Đinh Hợi (1947) tại Đền Thánh, Đức Ngài đã dạy, “Chúng ta đạt pháp do chúng ta có 3 thể tương liên. Đừng tưởng (nghĩ) chúng ta không đạt được. Chúng ta hễ đi được thì đi hoài. Đâu cũng có đường hết thảy. Song muốn đạt được pháp thì phải luyện. Ban sơ mới khai đạo chúng ta phải thi hành Thể Pháp. Nếu sau này không đạt được chơn pháp thì cũng như con người có quần mà không có áo vậy.”
Người viết rất tâm đắc câu “Đâu cũng có đường hết thảy”. Vậy muốn biết đường đi thì cứ kiên trì tìm kiếm. Đừng chờ nữa. Bởi biết đâu ngày mai cuộc sống của mình sẽ kết thúc! Người viết đã tìm đọc kinh điển nhiều tôn giáo, nghiên cứu sách của các nhà tu hành đáng kính và bây giờ xin tóm tắt những cách đối phó “tâm viên ý mã” sau đây. Không chắc những cách này sẽ phù hợp với mỗi người trong chúng ta, nhưng tham khảo để bổ sung cho cách riêng của mình cũng là một gợi ý đáng làm.
CÁCH ĐỐI PHÓ PHỔ BIẾN
PHƯƠNG ĐÔNG
Phần lớn các đạo sư Phương Đông dạy rằng không thể bắt suy nghĩ của mình dừng lại vì như vậy là mình trực tiếp đối đầu với chính mình. Đối đầu không bao giờ có điểm dừng. Như vậy chúng ta sẽ không đạt được gì cả. Hãy nhẹ nhàng tìm một chỗ trú ẩn nào đó để cho đầu óc không lan man sang chỗ khác. Một vài ví dụ như:
Ông Patanjali, (ngày sinh ngày mất không rõ), hiền triết, thầy thuốc, triết gia Ấn Độ cổ đại, người đã soạn bộ kinh Yoga Sutras (Kinh Yoga). Ông đề nghị tập trung chú ý vào một chỗ, ví dụ như nhìn chót mũi, nhìn ngọn nến hay đọc thầm một thần chú nào cũng được. Khi nào suy nghĩ bắt đầu chuyển hướng sang chuyện khác, hãy quay lại tập trung vào nơi đó. Và cứ liên tục như vậy. Hiển nhiên, cách này không làm mất hết suy nghĩ mà tập trung vào một suy nghĩ duy nhất.
Ông Ramana Maharshi (1879 - 1950) hiền triết, đạo sư nổi tiếng người Ấn Độ. Ông sống một mình trên núi Arunachala và tu hành theo trường phái Advaita Vedanta (triết lý phi nhị nguyên). Ông dạy rằng khi một ý nghĩ xuất hiện, chẳng hạn như, “Tôi phải làm nhiều việc quá”, thì đừng nối tiếp theo đó, kể lể các việc làm mà hãy tự hỏi mình, “Ý nghĩ này dành cho ai?” Dĩ nhiên câu trả lời là, “Cho ta chớ ai.” Lúc đó hãy đưa ra câu hỏi quyết định, “Ta đó là ai?” Câu hỏi này khiến mình tập trung vào cái gốc của ý thức. Điều đó khiến cho những suy nghĩ lung tung đó tự tan biến.
Ông Jiddu Krishnamurti, (1895–1986), triết gia, tác giả, nhà diễn thuyết nổi tiếng người Ấn Độ. Ông phản đối tất cả những cách ngồi thiền, bác bỏ các đạo sư, từ chối mọi hệ thống tôn giáo. Ông dạy hãy quan sát ý nghĩ của chính mình mà không có ý thay đổi, đánh giá tốt xấu hay chặn lại. Người ta gọi cách của ông là “Nhận biết nhưng không chọn lựa.” Cứ quan sát như thế rồi ta sẽ hiểu và các suy nghĩ sẽ tự tan biến.
Thiền Sư Việt Nam Thích Nhất Hạnh (1926–2022), người lập ra Village des Pruniers (Làng Mai), một cơ sở dạy Thiền ở Pháp năm 1982. Thiền Sư dạy hãy đối xử với suy nghĩ và cảm xúc của mình giống như tiếp đãi khách quý đến nhà chơi. Cách làm cụ thể: đi bộ chậm rãi, vừa bước đi vừa thở, vừa chú ý vào sự giãn nở của lồng ngực mình. Cách này khá giống cách thứ nhất, tức là tập trung suy nghĩ vào động tác bước đi và thở.
PHƯƠNG TÂY
Để đạt được trạng thái bình yên, triết gia phương Tây không tập trung vào hơi thở mà thay đổi hẳn quan điểm. Nói ngắn gọn, phương Đông tìm cách đạt được trạng thái vô vi (không làm, tức là không suy nghĩ), phương Tây thì chọn những suy nghĩ thực hiện được.
Một ví dụ là trường phái Stoicism (chủ nghĩa khắc kỷ). Đại diện cho trường phái này là hai nhân vật nổi tiếng: Marcus Aurelius, Hoàng Đế La Mã (161 - 180 sau khi chúa Jesus ra đời) và Epictetus, triết gia Hy Lạp cổ đại (50 - 135 sau khi chúa Jesus ra đời). Phái khắc kỷ cho rằng lo âu và tâm trí hỗn loạn là do chúng ta phán đoán sai lầm và cố gắng kiểm soát những điều nằm ngoài tầm tay của mình.
Phái này đề nghị phân loại mọi thứ thành hai nhóm: trong tầm kiểm soát của ta (suy nghĩ của tôi, hành động của tôi) và ngoài tầm kiểm soát của ta (thời tiết, người khác, quá khứ). Với nhóm thứ nhất thì tìm cách giải quyết. Với nhóm thứ hai thì không quan tâm nữa vì không thể giải quyết được. Như thế, tâm trí sẽ tự nhiên chấm dứt rối loạn.
ĐƯƠNG ĐẠI
Có lẽ nên kể thêm quan điểm của vài nhân vật nổi tiếng hiện nay như sau:
Ông Gaur Gopal Das (sinh 1973), Kỹ Sư điện, tu sĩ, diễn giả người Ấn Độ. Ông nói rằng đầu óc ta giống như một đứa trẻ nhõng nhẽo. Ta cứ làm ngơ, nó sẽ ngưng khóc. Càng chú ý, nó càng khóc lớn tiếng.
Ông Acharya Prashant (sinh năm 1978) Thạc Sĩ Quản Lý, hiện nay là lãnh tụ tinh thần, triết gia, tác giả và nhà thơ Ấn Độ. Ông nói rằng đầu óc chúng ta là một con khỉ rất ham hoạt động. Nếu ở không thì nó chơi đùa một mình. Do đó nên cho nó một mục tiêu, một việc gì đó để nó không nhảy nhót nữa.
CAO ĐÀI
Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, một trong những bộ kinh điển chính thức của Cao Đài, đề cập pháp môn tịnh luyện ít hơn truyền giảng giáo lý. Chỉ có quyển Bí Pháp Luyện Đạo của Bát Nương Diêu Trì Cung mới đề cập cách tu chơn rất chi tiết cho dù sách chưa được Hội Thánh kiểm duyệt và cũng chưa được phép phát hành. Tuy nhiên, đối với những người yêu thích pháp môn này thì sách cung cấp nhiều thông tin quý báu. Xin trích ra hai ý chính mà người viết cho là quan trọng nhất.
Ý THỨ NHẤT: TỪ BỎ HAM MUỐN
“Muốn cho tâm ý không hoạt động nữa, trước hết ta phải từ bỏ dục tình, từ bỏ lợi danh, từ bỏ ham muốn, cho tới không ham muốn thành Phật nữa.”(trích Bí Pháp Luyện Đạo của Bát Nương Diêu Trì Cung)
Nếu vội vã đọc lướt qua, chúng ta có thể cho rằng “tịnh” cũng dễ thôi. Ai cũng biết rằng ham muốn tiền bạc, của cải, danh tiếng, chức vụ là khuynh hướng tự nhiên của con người. Nhưng thực tế là không phải muốn cái gì cũng đạt được cái đó. Và cứ mỗi lần thất bại, ta sẽ chịu đau khổ.
Do đó, phải nói là mọi người, kể cả người viết, đều nghĩ rằng vậy thì đừng ham muốn gì hết. Khi không còn ham muốn, tâm trí sẽ tĩnh lặng, không còn bị đau khổ giày vò. Ở Á Đông chúng ta không lạ gì chuyện nhiều người từ bỏ của cải, mặc áo cũ vá chằng chịt, cầm chiếc bình tróc sơn đi xin ăn. Thậm chí bây giờ khái niệm này đã lan qua những xứ sở phương Tây. Rồi cũng có người Âu người Mỹ cạo trọc đầu, choàng áo vàng, đi chân không, xin ăn ngoài phố.
Tuy nhiên, suy nghĩ tới lui, người viết lại thấy có điều không ổn trong cái-gọi-là-không-ham-muốn này. Thứ nhất, thánh ngôn Cao Đài dạy rằng hơn 2.000 năm nay, ở Á Đông, chỉ có duy nhất một người đắc đạo. Đó là sư Huệ Mạng Trường Phan, ông thầy chùa người Khmer ở núi Bà Đen, Tây Ninh. Hóa ra không phải ai vào chùa, đi xin ăn, từ bỏ mọi ham muốn đều đắc đạo hết.
Thứ hai, một chứng cứ nữa làm người viết càng thấy khó hiểu. Đó là đạo nghị định của Đức Hộ Pháp vào ngày 20/10/Mậu Dần (11/12/1938). Đức Ngài dạy phải “thủ tiêu (xoá bỏ) hai chữ tuyệt dục trong Tân Luật Cao Đài”. Tuyệt dục nghĩa là chấm dứt ham muốn. Đây vốn là động tác đầu tiên mà người tu học tìm cách thực hành. Tại sao lại bỏ đi?
Sau khi lục lọi nhiều kinh sách, ngẫm nghĩ khá lâu, người viết tạm hiểu thế này. Ngay lúc nghĩ rằng ta không ham muốn tiền của, tiếng tăm, chức vụ nữa, thật sự ra ta vẫn còn ham muốn! Rõ ràng, ta bỏ ham muốn tiền bạc vì muốn tránh đau khổ, muốn được bình yên, muốn sáng suốt hơn, người bình dân nói là “muốn thành Phật!” Ta chỉ chuyển từ ham muốn vật chất sang ham muốn tâm linh! Ham muốn vẫn hoàn ham muốn!
Có lẽ vì thế, khi thực hành tịnh, lời dạy của Bát Nương còn quyết liệt hơn nữa: phải bỏ luôn ham muốn thành Phật. Nhưng điều cắc cớ nằm ở chỗ này đây: tôi không muốn thành Phật để thành Phật. Suy cho cùng, chúng ta không thể thực hiện chuyện đó được.
Ý THỨ HAI: YÊN LẶNG TUYỆT ĐỐI
“Gom tâm ý lại một chỗ và bắt nó yên lặng rốt ráo, yên lặng tuyệt đối, nghĩa là không còn một niệm (suy nghĩ) nào xuất hiện trong thần trí nữa.”(trích Bí Pháp Luyện Đạo của Bát Nương Diêu Trì Cung)
Người tu tập đã từng làm việc này cả ngàn năm rồi. Họ dùng nhiều cách, nào là đọc kinh, lần tràng hạt, đọc thần chú, đếm hơi thở, vân vân và vân vân. Nhưng đến mức độ không còn một suy nghĩ nào xuất hiện nữa thì không biết có ai làm được hay không. Bởi vì nếu không còn suy nghĩ nào thì làm sao ta biết là không còn suy nghĩ?
Rõ ràng lúc nào cũng còn hai suy nghĩ đối chọi nhau: một muốn chạy nhảy lung tung và một muốn dừng chuyện chạy nhảy đó lại. Đó là chưa kể còn một suy nghĩ thứ ba, chứng kiến sự xung đột của hai suy nghĩ vừa nêu. Oái oăm thay, tất cả những suy nghĩ này đều là chính ta đó vậy.
Tóm lại, rõ ràng, “không muốn thành Phật” và “không còn một suy nghĩ nào” là ngôn ngữ dụng cụ đưa người tu học vào chỗ không biết phải làm gì. Hiểu ra điều này thì mọi suy nghĩ đều dừng lại. “Tịnh” là vậy đó.
Nhưng dừng mọi suy nghĩ để làm gì? Xin mượn lời của Ngài Jiddu Krishnamurti, một triết gia Ấn Độ rất nổi tiếng để kết thúc phần này.
“Khi trí óc hoàn toàn yên lặng, không phải vì bị ép buộc, không phải vì được dạy như vậy, mà thật sự yên lặng, thì điều không biết, vốn ngoài vòng thời gian, mới hiện ra. Ta không thể chào mời điều không biết. Ta không thể đuổi theo điều không biết. Nếu làm vậy là nó không đến. Điều không biết giống như cơn gió nhẹ đi qua cửa sổ ta để trống. Nếu ta đóng cửa sổ để nhốt lại hoặc tìm cách chụp lấy thì nó vuột mất. Đầu óc ta phải bỏ trống, không kháng cự. Chỉ khi đó thực tại ngoài vòng thời gian mới hiện hữu.” (Từ Chơn dịch)