Đối với nước ta, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức là cơ hội lớn để đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển lực lượng sản xuất đi lên chủ nghĩa xã hội. Nếu như không biết tận dụng cơ hội này để đổi mới cách nghĩ cách làm, nâng cao năng lực nội sinh, bắt kịp tri thức của thời đại, thì không thể đi tắt đón đầu và sẽ tiếp tục tụt hậu xa. Vì vậy, việc tìm hiểu khái niệm, bản chất và xu hướng phát triển của kinh tế tri thức đồng thời tìm hiểu thực trạng, cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trước xu thế phát triển của kinh tế tri thức, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Nền kinh tế tri thức và xu thế phát triển kinh tế tri thức tại Việt NamThuật ngữ “kinh tế tri thức” lần đầu tiên được đưa vào năm 1990 trong một báo cáo của Liên hợp quốc. Người đầu tiên nêu khái niệm kinh tế tri thức là ông Daniel Bell và sau đó có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này. Trong bản báo cáo “Nền kinh tế tri thức lấy cơ sở là tri thức” của OECD có định nghĩa: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức, thông tin”.1Đặc trưng của nền kinh tế tri thứcDù có nhiều cách hiểu khác nhau, song có thể thấy, nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản sau:- Trong kinh tế tri thức tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều sâu, chủ thể là người lao động tri thức, được đào tạo, được trang bị tốt những kiến thức hiện đại, làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến.- Các ngành kinh tế chủ yếu là những ngành sản xuất vật chất và dịch vụ dựa và tri thức và công nghệ cao. Các ngành kinh tế này làm ra các sản phẩm có giá trị cao, hàm lượng tri thức cao, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP. Trong đó, dịch vụ là ngành kinh tế phát triển và tạo ra phần thu nhập lớn nhất trong GDP; đặc biệt, dịch vụ tri thức như: Nghiên cứu khoa học - kĩ thuật, thiết kế, tư vấn, tài chính, bưu chính viễn thông … phát triển nhanh.- Đầu tư của xã hội chủ yếu dành cho khoa học - công nghệ (đặc biệt là công nghệ cao) và giáo dục đào tạo. Tri thức của xã hội loài người và khoa học - công nghệ phát triển ở trình độ cao và có vị trí rất cao trong phát triển kinh tế - xã hội.- Kinh tế tri thức sử dụng ngày càng ít các yếu tố đầu vào là tài nguyên hữu hình, ngược lại sử dụng càng nhiều các đầu vào là tài nguyên vô hình như tri thức, thông tin …, mà những tài nguyên vô hình này ngày càng nhiều, không bị mất đi khi sử dụng, nhiều người, nhiều doanh nghiệp có thể cùng sử dụng đồng thời 2Ở Việt Nam, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước khác nhau”. Gần đây nhất, Đảng ta đã xác định gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường”. (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam), trong đó Đảng ta khẳng định, phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững. Như vậy, có thể thấy ngay từ thời kỳ đầu, Đảng ta đã rất coi trọng việc tạo ra động lực cho việc hình thành và phát triển kinh tế tri thức. Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta là một chuyển biến chiến lược trọng đại: chuyển nền kinh tế từ dựa vào tài nguyên sang dựa chủ yếu vào tri thức và năng lực sáng tạo của con người. Với những nguồn lực sẵn có, sử dụng tri thức mới, công nghệ mới để làm ra được nhiều hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn. Tài nguyên thiên nhiên là có hạn, năng lực sáng tạo con người là vô hạn.Nước ta là nước đi sau, có cơ hội và cần thiết phải đi tắt, phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình công nghiệp hóa. Cùng một quá trình thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ công nghiệp hóa và “tri thức hóa”. Nói cách khác, đó là công nghiệp hóa rút ngắn dựa trên tri thức. Xuất phát từ thực tế nước ta, yêu cầu hội nhập và yêu cầu phát triển rút ngắn buộc ta phải có chiến lược hai tốc độ (tuần tự và nhảy vọt) và phân biệt hai khu vực “hướng ngoại” và “hướng nội”, với sự tính toán lựa chọn khôn ngoan, sử dụng tối ưu nội lực và ngoại lực, lao động, cơ sở vật chất và công nghệ mới, đạt tới hiệu quả cao, sự phát triển nhanh và bền vững.Tuy nhiên, hiện nay về cơ bản nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế mang những dấu ấn của kinh tế nông nghiệp, đang chuyển dần sang kinh tế công nghiệp. Vị trí của Việt Nam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu là rất thấp. Những chỉ số về kinh tế tri thức của Việt Nam đều ở nửa dưới của bảng xếp hạng. Xét phương diện những đặc trưng của nền kinh tế tri thức thì chúng ta thấy cơ cấu kinh tế - lao động của Việt Nam hiện nay vẫn là lạc hậu: tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp trong GDP còn hạn chế, ngành nông nghiệp còn cao. Cơ cấu lao động cũng chưa chuyển biến mạnh mẽ: lao động trong lĩnh vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất cao, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế. Hàm lượng chất xám trong sản phẩm của Việt Nam là rất thấp, “đến 2020 giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản phẩm công nghiệp”. (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam).Những thách thức đặt raThứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp và chưa được cải thiện nhiều Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao thể hiện ở chỗ hiệu quả nền kinh tế còn thấp, năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư có xu hướng gia tăng. Môi trường đầu tư không ổn định và năng lực yếu kém của bộ máy hành chính đã làm tăng đáng kể chi phí giao dịch và chi phí đầu vào sản xuất- kinh doanh. Việc phân biệt đối xử trong thực tế giữa các thành phần kinh tế, chậm cải cách và tiếp tục bao cấp cho doanh nghiệp Nhà nước, duy trì nhiều độc quyền và bảo hộ không có thời hạn và mục tiêu cụ thể dẫn tới sử dụng không hiệu quả các nguồn lực, giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tăng trưởng không bền vững, tạo điều kiện và sơ hở cho tệ nạn tham nhũng và những tiêu cực khác.Thứ hai, nền kinh tế thị truờng và thể chế kinh tế thị còn non yếu, thiếu sót và nhiều méo mó.Hệ thống thể chế kinh tế thị trường ở nước ta nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chưa theo kịp diễn biến thực tế của các hoạt động kinh tế, chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo, không minh bạch, và nhất là năng lực thực thi pháp luật còn yếu. Cải cách hành chính diễn ra chậm chạp, khiến cho năng lực hỗ trợ của nền hành chính cho phát triển kinh tế bị hạn chế, thậm chí trong nhiều truờng hợp các thủ tục hành chính lạc hậu, rườm rà còn gây cản trở cho công cuộc phát triển. Một số thị trường rất quan trọng mới chỉ được hình thành rất sơ khai, trong đó có thị trường khoa học và công nghệ. Hàng hoá trên thị trường khoa học và công nghệ còn nghèo nàn, lượng giao dịch trên thị trường còn ít và đơn điệu.Thứ ba, quá trình chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế chưa mạnh và chưa đồng đều Quá trình phát triển nhận thức về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế còn chậm trong các cấp, các ngành, thiếu sự thống nhất và quyết tâm cao từ trên xuống dưới. Việc chỉ đạo và phối hợp thực hiện giữa các ngành, các cấp nhiều khi còn chệch choạc, thiếu nhất quán; đặc biệt, nước ta chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế cũng như chưa có lộ trình hợp lý thực hiện các cam kết quốc tế, do đó chưa gắn kết được một cách hài hoà các lộ trình hội nhập ở các cấp độ và quy mô khác nhau: song phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Tính chủ động của nhiều cấp, nhiều ngành cũng như của doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế chưa cao, thậm chí còn khá bị động trong nhiều lĩnh vực, mong muốn tiếp tục nhận được sự bảo hộ từ phía Nhà nước.Thứ tư, các lĩnh vực biểu hiện đặc trưng của kinh tế tri thức chưa phát triểnCác ngành mới, đại diện cho kinh tế tri thức (hay gòn gọi là các ngành công nghệ cao) hoặc chưa hình thμnh hoặc mới ở trình độ phát triển rất sơ khai. Số doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm, đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) nhằm tạo ra công nghệ mới là không đáng kể. Đây chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn Việt Nam chỉ có một số doanh nghiệp nhà nước lớn có cơ sở hoạt động và nghiên cứu phát triển công nghệ, nhưng lượng vốn đầu tư cho R&D của các doanh nghiệp này chỉ đạt khoảng 0,2% doanh thu, quá thấp so với tỷ trọng 5-10% của doanh nghiệp tại các nước phát triển.Ứng dụng công nghệ thông tin trong đời sống kinh tế- xã hội còn rất hạn chế. Mạng thông tin đa phương tiện tuy đã và đang được mở rộng khá nhanh, nhưng chưa bao phủ được khắp toàn quốc, chưa kết nối được đến hầu hết các tổ chức và các hộ gia đình. Bên cạnh đó, sự tiếp cận với mạng thông tin còn gặp phải nhiều ràng buộc liên quan đến các khía cạnh về cơ sở vật chất kỹ thuật, các thủ tục hành chính, pháp lý, giá cước… Điều này ảnh hưởng lớn đến sự tiếp cận của các thành viên trong xã hội với những thông tin cần thiết. Các phương thức kinh doanh mới như thương mại điện tử, thị trường ảo, tổ chức ảo, doanh nghiệp ảo, làm việc từ xa… còn ở trình độ thấp.Nền giáo dục, đào tạo của nước ta đang chứa đựng nhiều bất cập, bộc lộ những yếu kém dai dẳng trong nhiều năm chưa khắc phục được. Sự chậm đổi mới về phương pháp dạy và học, nội dung chương trình, các hiện tượng chạy theo thành tích, dạy thêm học thêm tràn lan… đã được đề cập, bàn bạc nhiều, nhưng chưa có những giải pháp hữu hiệu. Công tác xã hội hoá giáo dục diễn ra chậm. Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nhân lực của Việt Nam, một nguồn nhân lực dồi dào về số lượng lao động nhưng lại thiếu vè chất lượng nguồn lao động. Trên thị trường lao động của Việt Nam đang rất thiếu các chuyên gia về quản trị kinh doanh, các lập trình viên, kỹ thuật viên, các như quản lý trung gian hiểu biết về tài chính và tiếp thị với yêu cầu cơ bản về tiếng Anh, những công nhân có tay nghề cao, ham học hỏi.Giải pháp triển kinh tế tri thức tại Việt NamThứ nhất, tập trung đổi mới cơ chế, chính sách phát triển khoa học công nghệ, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội; khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tăng cường sức cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền; tăng cường hỗ trợ đổi mới và nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp; xây dựng đồng bộ các cơ chế, chính sách, tạo sự năng động và hiệu quả trong hoạt động khoa học công nghệ của mọi tổ chức và cá nhân; tạo sự gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo với sản xuất, kinh doanh, đồng thời xây dựng cơ chế hiệu quả nhằm hỗ trợ các sản phẩm nghiên cứu và phát triển công nghệ trở thành sản phẩm hàng hóa, đáp ứng được nhu cầu của các lĩnh vực kinh tế-xã hội; xây dựng và phát triển thị trường khoa học công nghệ bình đẳng, lành mạnh, phục vụ sản xuất, kinh doanh. Mỗi một chính sách phát triển kinh tế-xã hội cần phải có các giải pháp khoa học công nghệ phù hợp kèm theo. Nhà nước tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và triển khai ứng dụng công nghệ mới hiện đại để đến năm 2020 đạt mức trung bình trên thế giới.Thứ hai, nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, chú trọng các nghiên cứu cơ bản có trọng điểm, tập trung đầu tư để đạt trình độ và chuẩn mực quốc tế, coi nghiên cứu cơ bản là nền tảng để phát triển năng lực nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ của đất nước, là hạ tầng cơ sở của nền khoa học công nghệ nước nhà; đẩy mạng nghiên cứu ứng dụng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, khai thác hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên; tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động khoa học công nghệ.Thứ ba, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và cơ chế tài chính trong khoa học công nghệ tạo động lực cho đội ngũ trí thức khoa học công nghệ phát huy sáng tạo; Nhà nước tập trung xây dựng các quỹ phát triển, các chương trình khoa học công nghệ lớn, xác định và đặt hàng thực hiện những nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia, tập trung lực lượng giải quyết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ then chốt.Thứ tư, phát triển và hiện đại hóa nền giáo dục ở tất cả các bậc học, nhằm mục tiêu lâu dài là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và xây dựng nhân cách con người Việt Nam.Thứ năm, đầu tư đủ mạnh cho giáo dục đào tạo để cùng với khoa học công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu của đất nước. Có chính sách đãi ngộ, trọng dụng, tôn vinh thích hợp với đội ngũ trí thức nói chung và chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài, hạn chế hiện tượng chảy máu chất xámx