NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
Nhã nhạc cung đình là thể loại nhạc có từ thời phong kiến được biểu diễn phục vụ trong cung đình vào những dịp lễ như: Đại triều, Thường triều, Tế giao, Tế miếu… Nhạc có lời hát tao nhã cùng điệu thức cao sang, quý phái góp phần tạo sự trang trọng cho các buổi lễ. Đây còn là biểu tượng của vương quyền và sự trường tồn, hưng thịnh của triều đại. Chính vì thế Nhã nhạc cung đình Huế rất được các triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng.
Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". "Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam đến thời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất". Cùng với không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, đây là di sản phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO chính thức ghi danh.
Theo sử sách ghi lại, Nhã nhạc cung đình Huế có quá trình hình thành và phát triển theo từng giai đoạn qua các triều đại Lý - Trần. Các thế hệ kế thừa tiếp tục gìn giữ, bổ sung sáng tạo và phát triển loại hình nghệ thuật này ngày càng phong phú, tinh tế đạt đỉnh cao vào triều đại Nhà Nguyễn.
Dưới thời Lý: Nhã nhạc cung đình có từ thời Lý (giai đoạn 1010 - 1225) và bắt đầu hoạt động có quy củ về sau. Ở thời này, Nhã nhạc có lời hát tao nhã, điệu thức cao sang là biểu tượng cho sự trường tồn, hưng thịnh và quyền lực của quân chủ phong kiến.
Dưới thời Lê: Nhã nhạc cung đình vào thời Lê (giai đoạn 1427 - 1788) được dành riêng cho giới quý tộc, bác học. Thể loại nhạc có kết cấu phức tạp, chặt chẽ với quy mô tổ chức rõ ràng, chi tiết.
Từ triều Lê, Nhã nhạc được phân định ra nhiều thể loại riêng biệt như: Giao nhạc, Đại triều nhạc, Miếu nhạc, Đại yến nhạc, Thường triều nhạc, Cửu nhật nguyệt lai trùng nhạc…
Tuy nhiên vào cuối triều Lê, Nhã nhạc không còn giữ được sự phát triển mà bắt đầu bước vào thời kỳ suy thoái, nhạt phai do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Dưới thời Nguyễn: Nhã nhạc cung đình Huế phát triển mạnh mẽ trở lại và được tổ chức bài bản vào triều Nguyễn (giai đoạn 1802 - 1945). Đặc biệt vào nửa đầu thế kỷ XIX, triều đình vua Gia Long đã biết sử dụng thể loại âm nhạc bác học này để “di dưỡng tinh thần” khi mới lập nghiệp ở phương Nam.
Từ đây Nhã nhạc đã gắn liền với cung đình Huế và phát triển theo mô thức quy phạm đúng chuẩn, có hệ thống, bài bản với hàng trăm nhạc chương. Giai đoạn này cũng là bước chuẩn bị quan trọng, tạo tiền đề phát triển cho âm Nhạc Cung Đình qua các đời vua sau.
Thành phần trình diễn của nhã nhạc cung đình Huế bao gồm:
Người trình diễn
Nhạc công: Những người chơi các nhạc cụ cung đình, thường thuộc ban nhạc của triều đình.Dàn nhạc trong Nhã nhạc cung đình Huế thường bao gồm:
Đàn Đại nhạc: Trống lớn (Trống cái, Trống chiến), Chập chõa (não bạt), Đàn bầu, Kèn bầu (tiêu biểu là kèn địch), Đàn nhị.
Đàn tiểu nhạc: Đàn tranh, Đàn nguyệt, Đàn tỳ bà, Sáo trúc, Đàn nhị, Đàn tam thập lục.
Ca công: Những người hát trong các buổi biểu diễn nhã nhạc. Họ thường là những người có giọng hát điêu luyện, thể hiện các bài hát trang nghiêm, mang tính nghi lễ.
Vũ công: Những người thực hiện các điệu múa cung đình, như "Lục cúng hoa đăng," "Bát dật," "Múa lân," thường đi kèm với nhã nhạc.
Nhã nhạc cung đình Huế là một di sản văn hóa phi vật thể quý báu của Việt Nam, được UNESCO công nhận vào năm 2003. Giá trị nghệ thuật của nhã nhạc cung đình Huế thể hiện rõ trong cả đời sống văn hóa và nghệ thuật qua nhiều khía cạnh:
a. Giá trị trong đời sống văn hóa
Gắn liền với nghi lễ cung đình: Nhã nhạc từng là âm nhạc chính thức trong các nghi lễ quan trọng của triều đình nhà Nguyễn, như tế lễ, đăng quang, tiếp sứ thần, và các dịp đại triều.
Biểu tượng của quyền lực và truyền thống: Nhã nhạc phản ánh sự uy nghiêm, trật tự và hệ thống lễ nghi của triều đình, đồng thời thể hiện sự tôn kính đối với thần linh và tổ tiên.
Gìn giữ bản sắc dân tộc: Dù không còn trong đời sống cung đình, nhã nhạc vẫn được bảo tồn và biểu diễn trong các sự kiện văn hóa quan trọng, giúp thế hệ sau hiểu về giá trị truyền thống Việt Nam.
b. Giá trị nghệ thuật
Tinh hoa âm nhạc cung đình: Nhã nhạc là sự kết hợp hài hòa giữa nhạc, lời ca, và vũ đạo, với hệ thống nhạc cụ phong phú như đàn tranh, đàn bầu, đàn nguyệt, sáo trúc, trống, chiêng, kèn bầu.
Tính trang trọng và tinh tế: Âm nhạc nhã nhạc có tiết tấu chậm rãi, du dương, mang đậm chất cung đình, tạo cảm giác trang nghiêm và thanh cao.
Ảnh hưởng đến nghệ thuật truyền thống: Nhã nhạc có ảnh hưởng sâu rộng đến các loại hình nghệ thuật khác như tuồng cung đình, ca Huế, múa cung đình, góp phần làm phong phú kho tàng nghệ thuật dân gian Việt Nam.
Lưu giữ kỹ thuật trình diễn độc đáo: Nhã nhạc không chỉ là âm nhạc mà còn là nghệ thuật trình diễn mang tính học thuật cao, với sự tham gia của dàn nhạc, ca công và vũ công.
Tóm lại, nhã nhạc cung đình Huế không chỉ có giá trị về mặt lịch sử mà còn mang ý nghĩa nghệ thuật và văn hóa sâu sắc, góp phần quan trọng vào kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.
Một số bản nhạc như:
10 bản Ngự (Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ quảng, Liên hoàn, Bình bán, Tây mai, Kim tiền, Xung phong, Long hổ, Tẩu mã)
Long đăng
Long ngâm
Tiểu khúc
các bản nhạc thường dùng trong dàn Đại nhạc (Tam luân Cửu chuyển, Thái bình Cổ nhạc, Đăng đàn cung, Phú lục, Tẩu mã, Bông, Mã vũ, Mang, Đăng đàn đơn, Đăng đàn kép)
cùng một số bài bản khác.
LONG ĐĂNG- LONG NGÂM- TIỂU KHÚC
Ba bài nhạc Long Đăng, Long Ngâm, và Tiểu Khúc trong Nhã nhạc cung đình Huế đều mang ý nghĩa sâu sắc trong việc thể hiện quyền uy của triều đình nhà Nguyễn và bầu không khí trang nghiêm của cung đình.
TAM LUÂN CỬU CHUYỂN
"Tam Luân Cửu Chuyển" là một bài nhạc quan trọng trong Nhã nhạc cung đình Huế, mang ý nghĩa sâu sắc về triết lý vũ trụ, sự vận hành của thiên nhiên và quyền uy của nhà vua.
MÃ VŨ- DU XUÂN- TẤU MÃ
Ba bài nhạc này đều thuộc Nhã nhạc cung đình Huế và có mối liên hệ chặt chẽ với các nghi lễ, đặc biệt là trong những dịp hoàng gia di chuyển hoặc các buổi lễ mang tính biểu tượng. Mỗi bài nhạc mang một ý nghĩa riêng nhưng đều thể hiện sự trang nghiêm, uy quyền và vẻ đẹp của vương triều Nguyễn.
Nghệ nhân Lữ Hữu Thi
Nghệ nhân Lữ Hữu Thi (104 tuổi) là "báu vật nhân văn sống" của Nhã nhạc Huế. Là người cuối cùng của đội nhạc Hòa Thanh, dưới triều Vua Bảo Đại xưa, nay ở vào tuổi 104, với hơn 80 năm theo nghề Nhã nhạc, cụ vẫn say sưa truyền nghề. 80 năm theo nghề Nhã nhạc, điều làm cụ mãn nguyện nhất là đã truyền lại được các ngón nghề từ cây đàn nhị và chiếc kèn bóp cho các thế hệ con cháu, góp phần bảo tồn và giữ gìn được những giá trị Nhã nhạc truyền thống của dân tộc.
Giáo sư Trần Văn Khê
Giáo sư Trần Văn Khê đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế (Âm nhạc Cung đình Việt Nam) đệ trình UNESCO công nhận là kiệt tác Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại.Trong thời gian lập hồ sơ, mặc dù tuổi đã cao, sức khỏe không tốt, nhưng giáo sư vẫn thường xuyên về lại Việt Nam để cùng các thành viên nhóm lập hồ sơ của Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế và các chuyên gia tư vấn khác xem xét điều chỉnh nội dung và các tư liệu cần thiết, bổ sung kịp thời theo yêu cầu của UNESCO, góp phần cho sự thành công của bộ hồ sơ.
NSUT La Cẩm Vân
NSƯT La Cẩm Vân quê ở Thừa Thiên - Huế. Cha của bà là cố nghệ nhân La Cháu - nghệ nhân tuồng cung đình cuối cùng của triều Nguyễn. Lớn lên trong môi trường nghệ thuật truyền thống, đến năm 1976 bà giành được giải diễn viên trẻ xuất sắc của miền Trung trong Liên hoan nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc.Năm 1993, bà được phong tặng danh hiệu NSƯT vì những đóng góp cho việc khôi phục nghệ thuật tuồng và múa cung đình nhà Nguyễn và là NSƯT duy nhất của lĩnh vực múa cung đình.
NSUT Trương Tuấn Hải
Sinh ra là thế hệ thứ 4 trong một đại gia đình đã 4 đời sinh tử với nghiệp Tuồng. Lên 9 tuổi, ngoài học hát, múa, đánh trống, là con thứ 3 của dòng họ, anh đã bắt đầu lên sân khấu trong những vai nhí. Nhưng ý thức về những vinh quang và bọt bèo của thân phận một nghệ sĩ tuồng thì đã ngấm sâu vào anh khi chứng kiến trọn vẹn sự tan tác và phá sản của một loại hình nghệ thuật đã gắn với số phận của bao nhiêu cuộc đời qua 4 thế hệ trong gia đình của anh