HÁT CHẦU VĂN
HÁT CHẦU VĂN
Hát chầu văn, còn gọi là hát văn, hát hầu đồng, hát bóng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn trau chuốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh.
Nghệ thuật chầu văn đang được quan tâm bảo tồn và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể vào năm . Hiện tại, Nghi lễ chầu văn của người Nam Định và cả Việt Nam đã được đưa vào danh sách 33 di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam (đợt 1) và được công nhận là Di sản thế giới. Ở Huế cũng có hình thức chầu văn, nhưng giai điệu rất khác biệt so với các tỉnh Bắc Bộ.
Nguồn gốc của hát chầu văn đến nay vẫn chưa được xác định một cách chính xác. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều giả thuyết cho rằng hát chầu văn đã xuất hiện từ rất lâu đời, gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Theo nghiên cứu của các nhà sử học và tìm hiểu về nghệ thuật dân gian Việt Nam, hát Chầu văn có nguồn gốc từ rất sớm, khoảng những năm 1225 – 1400, khi nó được gọi là hát Chầu.
Hát Chầu văn đã phát triển mạnh mẽ tại vùng Nam Định trong thế kỷ XVII, với nhiều di tích nổi bật như phủ Dầy, phủ Quảng Cung, đền Bảo Lộc và đền Cố Trạch. Từ đó, nó nhanh chóng lan rộng sang nhiều tỉnh thành ở Bắc Bộ, như Hà Nam và Thái Bình. Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trong giai đoạn cuối triều Nguyễn, chính là thời kỳ hưng thịnh nhất của hát Chầu văn. Nhiều cuộc thi hát được tổ chức nhằm chọn người hát cung văn phục vụ trong cung đình. Tuy nhiên, từ năm 1954, hát văn bị cấm do bị coi là liên quan đến mê tín dị đoan, dẫn đến việc mai một và mất đi nhiều nét đẹp trong biểu diễn và ca từ. Mãi cho đến những năm 1990, khi đất nước bắt đầu hội nhập và phát triển, hát Chầu văn mới có cơ hội tái phát triển.
Hát văn có nhiều hình thức biểu diễn bao gồm là hát thờ, hát thi, hát hầu (hát phục vụ hầu đồng, lên đồng), và hát văn nơi cửa đền, cửa đình:
Hát thờ: được hát vào các ngày lễ tiết, những ngày tiệc thánh (ngày thánh đản sinh, ngày thánh hóa...) và hát trước khi vào các giá văn lên đồng.
Hát hầu, trong hát hầu theo tín ngưỡng tứ phủ thì ba giá tam tòa Thánh Mẫu là bắt buộc và hầu tráng bóng chứ không tung khăn. Các giá tung khăn bắt đầu từ hàng Quan Lớn trở xuống. Trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, người ta có thể kết hợp hầu tứ phủ hoặc hầu riêng, nếu hầu kết hợp với tứ phủ thì thường thỉnh tam tòa Thánh Mẫu đầu tiên, còn nếu hầu riêng thì mới thỉnh đức Thánh Vương Trần Triều đầu tiên.
Hát văn nơi cửa đền, đình: thường gặp tại các đền phủ trong những ngày đầu xuân, ngày lễ hội. Các cung văn hát chầu văn phục vụ khách hành hương đi lễ. Thường thì cung văn sẽ hát văn về vị thánh thờ tại đền, đình và hát theo yêu cầu của khách hành hương. Nhiều khi lời ca tiếng hát được coi như một bài văn khấn nguyện cầu các mong ước của khách hành hương.
Âm điệu, nhịp điệu, giai điệu cũng như lời hát trong chầu văn chính là điểm đặc trưng khiến chúng khác biệt hoàn toàn so với những loại hình nghệ thuật dân gian khác.
Trong hát chầu văn có rất nhiều quãng âm vực khác nhau, dao động trong quãng 8 – 13, quãng 10 gặp nhiều nhất trong hát văn. Hầu như 38 làn điệu trong chầu văn sẽ sử dụng trong chầu văn sẽ sử dụng các quãng này.
Các làn điệu quãng 3 thứ mở rộng lên phía trên như Phú nói, Phú Bình, Phú rầu được ứng dụng nhiều hơn so với quãng ba mở rộng xuống dưới. Về hướng tiến hành, giai điệu thường là đi xuống dần. Ngoài ra còn có các lối tiến hành theo chữ A, chữ V hoặc theo hướng đi ngang.
Nhịp điệu trong hát văn có thể là nhịp một, nhịp đôi hoặc nhịp ba trong đó thì nhịp ba là nhịp phổ biến nhất. Nhịp điệu mang tính chu kỳ, ngoài ra có tính đảo phách vì hầu hết hát văn được hình thành từ thơ.
Giai điệu trong hát văn thực sự rất đa dạng tùy theo từng bài hoặc theo từng lối hát. Trong đó:
Mở giá đồng hát thờ nên tiết tấu tương đối nhanh và gấp gáp.
Khi nhập đồng: Giai điệu dồn dập hơn với các câu chữ được nhấn nhá, nội dung ca ngợi công đức của thánh thần.
Khi các thánh đã nhập vào nhân vật thì chuyển điệu thức cao hơn một bậc.
Nhìn chung thì giai điệu hát chầu văn là cực kỳ độc đáo và khó thực hiện, không giống với bất cứ một loại hình nghệ thuật dân gian nào khác.
CÔ ĐÔI THƯỢNG NGÀN
bài Chầu văn “Cô Đôi Thượng Ngàn” thể hiện mô tả một nàng tiên không chỉ xinh đẹp ở nơi Điện Ngọc Kim Môn, mà còn là tuyệt thế giai nhân ở cõi trần. Mô tả cảnh Cô Đôi Thượng Ngàn về với trần gian Sơn lâm Sơn trang. Nơi cảnh núi non, cảnh đời, cảnh phật, cảnh tiên đẹp tuyệt diệu.
CỐ ĐÔ CẢNH ĐẸP- Chầu văn Huế
Chầu Văn Cảnh Đẹp Cố Đô là một bài chầu văn ca ngợi vẻ đẹp của vùng đất cố đô Huế, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của Việt Nam.
THỈNH PHẬT, BỒ TÁC ĐỘ CHO CỎI PHÀM
Bài hát chầu văn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, thể hiện lòng thành kính đối với chư Phật, chư Bồ Tát và mong cầu sự cứu độ, bình an cho nhân gian. Là một bài hát trong thể loại hát chầu văn, nó kết hợp giữa âm nhạc hầu đồng và tín ngưỡng Phật giáo, tạo nên không gian thiêng liêng trong các nghi lễ.
PHÚ-NÓI-XÁ THƯỢNG
Bài hát chầu văn là một phần quan trọng trong nghi lễ hầu đồng, mang ý nghĩa tôn vinh các vị thánh thần, cầu mong sự che chở, ban phước và giúp đỡ cho nhân gian. Trong hát chầu văn, Phú, Nói, Xá là ba hình thức phổ biến được sử dụng với những đặc trưng riêng.
Nghệ nhân Phạm Văn Khiêm
Cố lão nghệ nhân Phạm Văn Kiêm là một cây đại thụ trong làng Hát Văn Việt Nam xưa và nay. Cụ là người tiên phong trong việc phiên âm các bản văn từ chữ Hán ra chữ Quốc ngữ để cung văn đời sau có thể học được dễ hơn nếu không biết chữ Hán.
Nghệ nhân Bùi Quốc Thi
Nghệ nhân ưu tú Bùi Quốc Thi được coi là “cung văn đại thụ” trong làng Chầu văn ở Hà Nội hiện nay. Không chỉ hát văn trong Hầu đồng, bằng sự sáng tạo của mình, ông đã đưa Chầu văn đến gần hơn với công chúng dưới chiều cạnh giá trị nghệ thuật.
Nghệ nhân Lê Bá Cao
Nghệ nhân Lê Bá Cao sinh năm 1932, trong một gia đình có tới 3 đời làm nghề con nhang đệ tử. Ông còn nhớ, bấy giờ, cha ông - cụ Lê Ngọc Mai (hay gọi là cụ Trưởng Mai) được nhiều người biết tới là người có uy tín trong nghề tế lễ, cúng bái.
NSUT Văn Ty
Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Nguyễn Văn Ty (1953- quê Nam Định) là một trong số những người đầu tiên đưa chầu văn ra sân khấu chuyên nghiệp và nằm trong số ít nghệ sĩ vừa biết đàn, hát, gõ, nắm được đầy đủ niêm luật, lề lối cụ thể của nghệ thuật hát văn.
Nghệ sĩ trẻ Hoài Thanh
Nghệ sĩ hát chầu văn Hoài Thanh sinh năm 1989 tại Thái Bình và gia đình anh không có ai làm nghệ thuật. Tuy nhiên, cảm thụ âm nhạc chầu văn từ tấm bé nên anh đã tự nghe và học. Và môn nghệ thuật đầu tiên anh học chính là hát chèo.
Nghệ nhân Lương Trọng Quỳnh
Nghệ nhân Lương Trọng Quỳnh được tiếp xúc với hát văn từ nhỏ. Đồng hành cùng anh là người cậu, vốn cũng là nghệ nhân hát văn. Ông thường hay đưa anh lên phố cổ, cho xem và để anh hát thử. Duyên nghiệp với hát văn đã theo nghệ nhân Lương Trọng Quỳnh từ đó.
Nghệ sĩ Tuyết Tuyết
Nghệ sĩ Tuyết Tuyết sinh năm 1982, tên thật là Nguyễn Thị Tuyết, quê ở Thái Bình. Bà nội của chị là một thanh đồng (người được chọn để đứng giá hầu đồng trong nghi lễ thực hành Đạo Mẫu), bốn mùa đều làm lễ hầu thánh. Bố mẹ Tuyết Tuyết là những cung văn địa phương, thường xuyên đi đàn hát tại các lễ hội, đền chùa dù chưa từng được học chầu văn bài bản.