CA TRÙ
CA TRÙ
Ca trù (còn gọi nôm na là hát cô đầu / hát nhà trò) là loại hình diễn xướng bằng âm giai nhạc thính phòng rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí thức yêu thích. Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc.
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, ca trù được ghi danh là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi tới 16 tỉnh, thành phố ở nửa phía Bắc Việt Nam. Hồ sơ đề cử Ca trù là di sản văn hóa thế giới với không gian văn hóa Ca trù trải dài khắp 16 tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Ca trù là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại đứng thứ hai sau ả đào pansori của Hàn Quốc.
Ngày 23 tháng 2 năm 2020, nhằm ngày giỗ tổ nghiệp ca trù, Google lần đầu tiên tôn vinh loại hình nghệ thuật truyền thống này bằng biểu tượng đặc biệt thay thế tạm thời trên trang chủ của Google tại Việt Nam.
Là loại hình nghệ thuật dân gian lâu đời, không ai biết nguồn gốc chính xác của hát ca trù. Theo người đời truyền lại thì nó được khai sinh bởi Đinh Dự – con của công thần Lam Sơn và công chúa Đường Hoa (người nhà trời) nên chúng có nguồn linh thiêng, cao quý.
Thời Tiền Lê năm 987 chính là thời gian ra đời của nghệ thuật dân gian tiền thân của hát ca trù với điệu “bẻ thành làn hát”.
Vào thời Lý, nghệ thuật hát ca trù được coi trọng, năm 1025 vua Lý Thái Tổ định ra hát xướng với con trai là Quản giáp, con gái gọi là ả đào, lần đầu tiên trong lịch sử nghề ca kỹ được coi trọng và mở các gánh hát riêng để hành nghề.
Vào thời nhà Trần (từ năm 1225 – 1400) ca trù ngày càng phát triển hơn và đi sâu vào trong văn hoá xã hội của toàn đất nước.
Thời Lê Sơ, vua Lê Thánh Tông đã ra quy chế quản nhạc, phân chia ca trù thành 2 loại nhạc là nhạc Bát âm và Hát ả đào.
Từ cuối thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 17, những người hành nghề ca kỹ phải hoạt động ở trong ty giáo phường, hát cửa đình lên ngôi trong giai đoạn này.
Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 ca trù phát triển mạnh trên khắp cả nước, các đào nương chuyển ra các thành phố lớn để kiếm sống.
Không có một dấu mốc thời gian đánh dấu sự ra đời chuẩn xác của ca trù. Có tài liệu ghi nghệ thuật ca trù xuất hiện từ thời Lý khoảng thế kỷ XI nhưng lại có những tư liệu chỉ ra rằng loại hình nghệ thuật này ra đời vào thế kỷ XV.
Một chầu hát cần có ba thành phần chính:
Một nữ ca sĩ (gọi là "đào" hay "ca nương") sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,
Một nhạc công nam giới (gọi là "kép") chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát. Nhạc công đàn đáy có lúc hát thể cách hát sử và hát giai, vừa đàn vừa hát
Người thưởng ngoạn (gọi là "quan viên", thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.
Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là "tức tịch," nghĩa là "ngay ở chiếu."
Âm nhạc ca trù mang tính chất bác học, sử dụng những làn điệu phức tạp với kỹ thuật hát ngân rung, nhấn nhá tinh tế. Các bài ca trù thường dựa trên thể thơ 6-8, thất ngôn hoặc thể thơ đặc trưng như hát nói.
Chủ đề ca trù rất đa dạng: ca ngợi thiên nhiên, tình yêu, triết lý nhân sinh, lòng trung quân ái quốc.
Ca trù vừa là loại thanh nhạc, vừa là loại khí nhạc. Có một ngôn ngữ âm nhạc tế nhị, tinh vi.
Thanh nhạc: Ca nương phải có giọng thanh - cao - vang, khi hát phải biết ém hơi, nhả chữ và hát tròn vành rõ chữ, biết nảy hạt (đổ hột), đổ con kiến. Ca nương vừa hát, vừa gõ phách. Phải biết rành 5 khổ phách cơ bản, đánh lưu không, tiếng phách phải chắc và giòn, lời ca và tiếng phách phải ăn khớp với nhau.
Khí nhạc: Kép đàn dùng đàn đáy phụ họa. Bản đàn không nhất thiết phải đi theo bài hát, vì phải theo khổ đàn, nhưng khổ đàn – khổ phách – tiếng ca hợp nhau, hài hòa nhuần nhuyễn. Có những cách đàn ca chân phương- theo lề lối hay hàng hoa- sáng tạo và bay bướm.
Quan viên là người cầm chầu, tiếng trống chầu vừa chấm câu khi tham gia vào cuộc diễn tấu, nhưng có tính chất phê phán, khen chê đúng chỗ, để khích lệ ca nương – kép đàn, giúp cho thính giả biết được đoạn nào hay - thật hay và như thế được giáo dục âm nhạc trong cách nghe.
HỒNG HỒNG TUYẾT TUYẾT- tác giả Nguyễn Công Trứ
Bài Hồng Hồng Tuyết Tuyết trong thể loại ca trù là một tác phẩm mang đậm màu sắc trữ tình, hoài niệm và giàu cảm xúc. Nội dung bài hát không chỉ nói về vẻ đẹp ngây thơ của tuổi thơ mà còn chứa đựng những suy tư sâu sắc về sự đổi thay của thời gian và cuộc đời.
THỀ NON - Thơ Tản Đà
Bài Thề Non Nước là một bài thơ nổi tiếng của Tản Đà, khi được phổ theo thể ca trù, nó mang một sắc thái đặc biệt, vừa trữ tình, vừa bi ai, thể hiện tình yêu son sắt nhưng cũng đầy chia ly, tiếc nuối.
TÂY HỒ HOÀI CỔ- tác giả Nguyễn Công Trứ
Bài Tây Hồ Hoài Cổ là một tác phẩm ca trù nổi tiếng mang đậm nỗi hoài niệm, tiếc nuối về sự đổi thay của thời gian và sự suy tàn của những vẻ đẹp xưa cũ. Bài hát không chỉ ca ngợi cảnh sắc Hồ Tây mà còn gợi lên suy tư sâu xa về sự biến thiên của thế sự, thời cuộc.
TỲ BÀ HÀNH - phỏng dịch từ thơ Bạch Cư Dị
Bài Tây Hồ Hoài Cổ là một bản ca trù mang đậm nỗi buồn hoài niệm về sự đổi thay của cảnh vật và con người. Bài ca không chỉ ca ngợi vẻ đẹp Tây Hồ xưa mà còn là lời nhắc nhở về sự vô thường của cuộc sống. Khi được thể hiện qua ca trù, bài hát càng trở nên sâu lắng, chạm đến tâm tư của những ai từng chứng kiến sự đổi thay và mang trong lòng nỗi nhớ về một thời vang bóng.
Cụ Nguyễn Thị Chúc
Một trong những nghệ nhân cuối cùng của thế kỉ XX. Cụ Chúc sinh năm 1930 trong một gia đình có truyền thống ca trù, vì thế ngay từ nhỏ cụ đã được bố mẹ dạy bảo nghiêm khắc và chu đáo về nhịp, về phách. Với tình yêu tha thiết môn nghệ thuật dân gian và tài năng thiên bẩm, năm 12 tuổi Chúc đã bắt đầu tự đi hát.
Cụ Nguyễn Phú Đẹ
Nghệ nhân đàn đáy tài hoa Nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ sinh năm 1923 tại Tứ Kỳ - Hải Dương. Gia đình ông nhiều đời đều là ca nương, kép đàn nổi tiếng trong vùng. Cha của cụ là một tay đàn có tiếng, còn mẹ là một ca nương.
Ca nương Phạm Thị Huệ
Nghệ sĩ trẻ trong việc bảo tồn ca trù. Ca nương Phạm Thị Huệ là một trong những nghệ nhân xuất sắc của nghệ thuật Ca trù Việt Nam. Cô không chỉ nổi tiếng với giọng hát truyền cảm, kỹ thuật tinh tế mà còn là người có công trong việc gìn giữ và phát huy nghệ thuật ca trù trong đời sống đương đại.
Ca nương Kiều Anh
Ca nương Kiều Anh tên thật là Nguyễn Kiều Anh, sinh năm 1994, tại Hà Nội. Cô xuất thân trong gia đình có truyền thống nghệ thuật, là thế hệ thứ 7 trong gia đình có nhiều đời hát Ca trù. Ngay từ nhỏ, Ca nương Kiều Anh đã sớm bộc lộ năng khiếu nghệ thuật, hát thuần thục Ca trù và từng tham gia một số chương trình âm nhạc.