Ban đầu, tên Bến Tre xuất phát từ tiếng Khmer, một trong những ngôn ngữ lâu dài được sử dụng ở khu vực này. Trong tiếng Khmer, Bến Tre được gọi là "Srok Tre," với "Srok" có nghĩa là xứ, quốc gia và "Tre" có ý nghĩa là cá. Do đó, tên Srok Tre dịch sang tiếng Việt có thể hiểu là "xứ cá." Lẽ ra, cái tên này được đặt để phản ánh về vùng đất này có nhiều loại cá sinh sống rải rác trong tỉnh.
Theo dòng chảy của lịch sử và văn hóa, tiếng Việt hóa của Srok Tre diễn ra một cách tự nhiên và ý nghĩa. Người Kinh, khi tiếp xúc với vùng đất này, giữ nguyên từ "Bến" và dịch phiên âm từ "Tre." Như vậy, cái tên Bến Tre không chỉ là sự biến đổi ngôn ngữ mà còn là một góc nhìn mới, một cái nhìn độc đáo về vùng đất này.
Bến Tre còn được biết đến với biệt danh thú vị "Xứ Dừa." Biệt danh này xuất phát từ đặc điểm nổi bật của vùng, đó là sự mọc rợp những cánh đồng dừa xanh mướt khắp nơi. Các vườn dừa trải dài, tạo nên một khung cảnh tuyệt vời và là biểu tượng đặc trưng của Bến Tre. Điều này cũng là lý do khiến cho Bến Tre trở thành "Xứ Dừa" nổi tiếng, là địa điểm không thể bỏ qua đối với những người yêu thiên nhiên và muốn khám phá những đặc sản độc đáo của miền đất hấp dẫn này.
Chỉ vị trí thì Châu Thành có chút đặc biệt, ít ra là với bạn. Một chỗ bên lề, phụ cận ngay cạnh thành phố trung tâm tỉnh lị, chừng như Châu Thành nào cũng vị trí đó, ánh đèn đô thị hắt sáng lên nó, âm thanh đô thị ì ầm vọng tới, mùi bơ tỏi lẫn nước hoa đô thị thoảng lại, ở khoảng cách mươi phút xe máy, nhưng nó vẫn rời ra, vẫn bầu khí quyển có gì đó hắt hiu. Chợ chưa đến, quê chưa khỏi, qua một Châu Thành hẳn khách lạ có lần tự hỏi cái vẫy tay của nó, là từ biệt hay đón chào.
Sự hiện diện dày đặc đến nỗi như một bí ẩn cần phải giải mật, dù chẳng có bí mật nào, cái tên chỉ vài ba nghĩa, hoặc “nơi đặt lỵ sở của địa hạt”, hoặc “thành thị, thành phố”, hoặc “những làng xã vây quanh tỉnh lị”. Sự dày đặc của Châu Thành hồi ấy, như tư liệu cũ ghi lại, khiến bạn mường tượng ai cũng mắc vào những mắt lưới của chúng ít nhất một lần. Có người thoát được, có kẻ không. Nhưng cả khi thoát khỏi, một vài cái vảy ký ức vẫn nằm lại chốn tên gọi Châu Thành, nơi một đêm anh lỡ đường nhận được tô cơm nguội ăn kèm dưa mắm, nơi chiếc xe đạp xẹp bánh được tụi con nít xúm lại nhồi rơm vô chạy đỡ, nơi một đoạn chi bị lạc mất sau loạt pháo mồ côi, nơi người vú em để lại đứa con còn hôi sữa, nơi xe lam chạy tuyến cố định đi về, xuất xứ những thang thuốc nam trị vàng da, quê của một cô gái xa nhà đêm nào nằm gác đầu nơi đất khách kể chuyện, nơi đứa em trai còn lạc nẻo…
Xuất phát từ buổi đầu khai hoang. Hồi người xưa tới đây lập nghiệp, đất đai còn rộng rãi nhưng hiểm trở. Chúa sơn lâm cũng còn trong rừng nhiều lắm. Dân cư tới đây khai phá, năm ba nóc nhà quần tụ thành chòm xóm để sinh sống. Lâu lâu, cọp lại vào làng bắt heo bắt gà, đôi khi cả người. Dân làng bèn bảo nhau lấy tre vót nhọn rào làng. Từ đó, cọp không dám vào làng nữa. Nhưng khi dân làng ra ruộng, ra rẫy, hoặc vào rừng thì cọp lại hay rình bắt người.
Một hôm có chàng trai đi cày, mang theo cái mõ. Buổi chiều khi cày xong, anh thả trâu cho ăn cỏ rồi dùng mõ đánh gọi trâu về, không ngờ trong rừng cạnh đó có con cọp đang rình chờ bắt anh. Nghe tiếng mõ, cọp cong đuôi chạy vào rừng, những con cọp khác cũng co cẳng chạy luôn.
Những người đi chặt củi, thấy cọp chạy tán loạn, bèn nấp kín xem có chuyện gì xảy ra. Lát sau họ hiểu ra rằng cọp sợ tiếng mõ. Về làng, những người dân đi chặt củi kể lại chuyện này cho bà con nghe và bày cho nhau khi đi làm đem theo mõ để đuổi cọp.
Về sau, khi dân cư đông đúc người ta kêu nơi này là xứ Mõ Cày, dần dà gọi chệch ra là Mỏ Cày. Địa danh này trở thành tên huyện bây giờ.
Một giải thích khác cũng liên quan đến buổi đầu khai hoang. Do nơi đây xưa kia rừng rậm hoang vu, người dân đến đây lập ấp khẩn hoang thì thưa thớt, hay bị thú dữ quấy nhiễu. Để đi cày cấy phải có đông người nếu không muốn cọp beo ăn thịt. Do đó, mỗi sáng tinh sương, người dân bắt đầu đi cày đều gõ mõ, để thúc giục mọi người ra đồng cùng nhau. Ngày qua ngày, nơi ấy người ta gọi là Mỏ Cày (gõ mõ đi cày thời khai hoang).
Ba Tri là vùng đất gần biển Đông, trên cù lao Bảo, là vùng đất được khai hoang sớm nhất tại Bến Tre. Có ba thuyết về danh từ Ba Tri:
[1].Ba là sóng. Tri là lụa đen. Ba Tri là thứ lụa đen có dợn sóng. Xưa, nơi này dân chúng làm nghề nuôi tằm dệt lụa. Vào năm (1787) Chúa Nguyễn Phúc Ánh còn trốn tránh quân Tây Sơn, Ngài được nhiều bô lão đem dâng nhiều cây lụa đen. Từ khi Gia Long lên ngôi, mỗi năm huyện Bảo An (xưa) cũng đem về Huế dâng 10 đượn lụa đen (Nguyệt san Kiến Hòa, số 3, 1957, tr.23). Bộ Lễ cho lụa đen này danh từ Ba Tri (tức lụa đen có dợn sóng) để phân biệt với lụa khác như lụa Tân Châu (Châu Đốc), lụa Hà Đông.
[2]. Nhiều bậc bô lão bảo rằng: Ba Tri trước kia là do chữ BA SI, có lẽ chữ SI có bộ “nạch” ở trước. Bộ này trong Nam gọi là khuôn bịnh, có ý nghĩa không tốt đẹp. Vì lẽ đó chữ SI viết ra chữ TRI. (Lê Thọ Xuân, “Sự tích ông già Ba Tri”, Đồng Nai văn tập số 9 tháng 11,12 năm 1968, tr.33).
[3]. Thuyết người Miên: Đại đức Mékon, Hội Phật giáo nguyên thủy Vĩnh Bình, cho rằng: Danh từ Ba Tri là do Butterei của người Cao Miên (Khrme bây giờ). Butterei nghĩa là công chúa. Năm 1620 vua Chân Lạp Chey Chetta II cưới công nữ Ngọc Vạn, con gái chúa Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Nguyễn) và được phong làm hoàng hậu. Năm 1621, hoàng hậu sanh một công chúa tên Néang Nhéa Ksathoy. Vua đặt tên vùng này là Butterei để kỷ niệm hai dòng máu Miên Việt.
Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật – một con giồng có cây trôm mọc – giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu.
Có nguồn gốc từ tên một cái chợ hình thành ở vùng có nhiều cây lao cây lách, trở thành một địa danh của một đơn vị hành chính cấp huyện.