Bài 19-27
Con Biết Con Cần Chúa
Ðưa chân vào đời là vô bờ những tiếng gọi đi về tương lai. Mỗi bước chân là một lựa chọn định hướng. Lối nào cũng là lời mời gọi thiết tha. Có lối đi êm đềm của hạnh phúc lứa đôi. Cũng có tiếng gọi về một cuối đồi trải dài nẻo đường lý tưởng. Ðó là lối đi của thập giá, là bước chân Ðức Kitô. Trong lối đi ấy, hồn Ðức Kitô như một cánh diều đong gió, thênh thang, thản nhiên cõi đời.
Người thanh niên nhìn về tương lai với hai nẻo đường đi, giữa cõi trời dệt mộng và lối đi nghệ sĩ như cánh diều của thập giá. Chàng chọn con đường thứ hai. Chàng yêu những chân trời nắng dội. Chàng thích những bình minh lên đường. Chàng mơ một ngày gặp Ðức Kitô để muốn một đời phiêu lưu với Ngài.
* * *
Ðức Kitô đang đi tìm những tâm hồn nghệ sĩ. Thế là họ gặp nhau. Rồi từ đó, họ rong chơi trong vũ trụ. Qua núi. Qua đồi. Có những quãng đời nắng bụi chân trần, nhễ nhãi mồ hôi nhưng mà họ vui biết bao. Ðức Kitô dậy người học trò của mình về vương quốc của Cha Ngài. Ngài bảo vương quốc ấy không có hàng rào chia ranh giới, không có đạo quân canh giữ, vương quốc là một bữa tiệc, là một luân vũ hân hoan. Rất vui. Ai vào cũng được, tuy nhiên có điều muốn luân vũ hân hoan thì họ phải tự do, phải như gió rong chơi bốn mùa, phải như mây tan ra, vì thế họ phải từ bỏ nhiều lắm.
Ðức Kitô chuẩn bị cho người học trò của mình mai sau tiếp nối bước chân trần trên cát nên Ngài đem người học trò qua tất cả mọi nẻo đường cuộc đời. Lối dạy của Ngài rất lạ. Có những chiều hôm nắng quái, để dạy cho trò về sự sống, Ngài chọn nghĩa trang im lặng. Hai Thầy trò bên ven rừng hoang vu. Giữa những ngôi mộ đã nghìn thu im tiếng mà Ngài cứ say sưa giảng: Ðó là sự sống! Ðó là sự sống!
Ðể thấy vũ trụ xôn xao, để hiểu thế nào là âm nhạc, người học trò phải vất vả theo Ngài cả một ngày dài, sau cùng Ngài dẫn vào sa mạc. Ðêm về, trăng lên. Vằng vặc không một bóng người. Lặng lẽ quá đỗi. Chỉ có mênh mông. Không một âm thanh mà Ngài chìm vào một hòa tấu như cả vũ trụ đang khiêu vũ rồi Ngài say sưa nói với học trò: Ðó là âm nhạc! Ðó là đàn ca!
Ngược theo những vạt nắng. Xuôi về những bến sông. Một lần ngang qua phố chiều, Ngài cho người học trò nhìn thấy tất cả tiền bạc giấu kín trong bao. Vàng bạc ngời sáng làm người học trò không biết nhìn nơi đâu. Chung quanh là tiền rừng bạc bể mà Ngài lại hỏi người học trò: Con thấy không, đâu là sự tự do, con thấy không, họ nghèo túng quá!
Có lần người học trò hãnh diện chỉ vào đền đài: "Kìa, Thầy nhìn xem vinh quang của Giáo Hội ta." Ðức Kitô hỏi người học trò: "Con muốn vào ở trong đó hay con muốn đi với Thầy?" Người học trò không hiểu. Ðức Kitô nói tiếp: "Con muốn nhà tù hay tự do". Người học trò chẳng hiểu. Ngài bảo người học trò: "Thôi đi con ạ." Cả hai lại tiếp tục lên đường. Ở đằng trước mặt, con đường vẫn còn hun hút chưa thấy nơi tới....
* * *
Ði qua phố núi. Về qua chợ chiều. Rong ruổi trong đời đã là bao năm. Lên những bình minh rực rỡ. Xuống những mưa rầm rì. Rồi cũng đến ngày Thầy trò chia tay. Ðức Kitô đã dạy cho người học trò tất cả lý tưởng của mình. Nghi thức vào đời làm chứng nhân, kết thúc những ngày theo học với Thầy sẽ là vòng tay chúc bình an của Thầy. Trăng mờ lạnh hơi sương, người học trò nghĩ đến sáng mai, khi vạt nắng trải dài xuống sườn đồi chàng sẽ giã từ Thầy. Nôn nao như một mùa hội mới. Cũng buồn vì xa Thầy, nhưng chàng đã trưởng thành, và Thầy gởi gắm giấc mơ của Thầy nơi mình, chàng phải can đảm. Cứ nghĩ đến một ngày rong ruổi độ thân như đời Thầy, cứ nghĩ đến đời mình như cánh diều lộng gió bay cao, chàng xôn xao chờ phút giây trọng đại.
Vạt nắng bắt đầu hắt lên, nắng rực rỡ sẵn sàng làm chứng cho một chia tay hào hùng. Khi mặt trời nứt đất đẩy lên một vùng lửa cũng là lúc không gian trang trọng đón chân Ðức Kitô đến. Hiến lễ tạ ơn đã xong, chàng đến quỳ trước Thày mình nhận sứ vụ. Ðức Kitô từ từ cúi xuống chúc bình an cho người học trò của mình, gửi chàng những thâm tình lần cuối. Khi vòng tay của Ngài buông xuống bờ vai, mặt Ngài cúi sát xuống vầng trán của người học trò thì cũng là lúc mặt trời ngưng hơi thở và nắng hốt hoảng lo âu. Nhìn lên mặt Thầy mình chàng mới thấy vòng gai nhọn trên đầu Thầy cũng dần dần cúi xuống sắp sửa rạch lên trán. Một cách ngại ngùng, người học trò nhăn mặt nới thõng vòng tay. Vòng gai còn đó, nụ hôn không thành.
Ðức Kitô thấu hiểu tâm hồn người môn sinh. Ngài không thể chúc bình an cho người học trò được nữa. Sự tự do là tất cả giá trị của tặng vật, vòng tay ngại ngùng đã đánh rơi lòng muốn, ánh mắt sợ hãi đã lên mờ sương đục của thiết tha. Ðức Kitô không thể cứ cúi ôm người học trò khi mà người học trò ấy ngại ngùng. Không có tự do là cưỡng bức. Bất ngờ quá. Người học trò bối rối trước vòng gai nhọn, đôi tay đã buông thong mà không hẳn là dám dứt bỏ, muốn đi tới mà nặng trĩu ở đàng sau. Nắng đang sẵn sằng chứng giám cho cuộc lên đường anh hùng đột nhiên xanh xao sợ hãi vì chẳng biết những gì sắp xẩy ra. Ðức Kitô cũng không ngờ sự thể ngoài tầm dự đoán. Lòng xót thương đẩy Ngài đến một sáng kiến cũng không ngờ. Ðể gỡ cho người học trò khỏi mất mặt không biết phải phản ứng như thế nào trước vòng gai nhọn, Ngài ôn tồn hỏi người học trò:
· Con muốn xuống núi sáng nay không hay con muốn ở lại với Thầy ít lâu nữa?
· Người học trò bám vào câu hỏi như chiếc phao để rỡ rối. Và dĩ nhiên chúng ta biết người học trò đã ở lại. Vòng gai còn đó, nụ hôn không thành.
* * *
Từ ngày nhánh gai nhọn chạm lên trán, chàng bối rối nhiều về nụ hôn. Chàng sợ vòng tay chúc bình an của Thầy, vì vòng gai và nụ hôn không thể tách rời. Chàng tự hỏi rồi lo sợ cho một cuộc lên đường. Những xuôi mùa trăng. Những ngược mùa gió. Từ ngày xuống núi không thành, chàng trăn trở tiếng gọi theo Thầy. Cánh diều lộng gió hôm nào, có đẹp, có mêng mông, nhưng không dễ để mình bay cao. Bước chân Thầy đơn sơ nghèo khó mà sao quá đỗi nặng nề đối với mình. Những vạt nắng về rồi đi, loãng thoãng trong hồn. Loãng thoãng cho thấy nỗi buồn loang lổ của một trái tim dang dở. Nó loãng thoãng nhưng đủ móng vuốt nhẩy bổ vào chiếu dọi đây đó trong vùng sâu tâm tư những ngõ tối mà khi bắt đầu cuộc sống chứng nhân chàng mới hiểu nỗi đau.
Còn Ðức Kitô, từ ngày đó, cánh diều là người học trò mà Ngài đang nương giây đẩy gió cho lên cao có lẽ sẽ bay mất. Nó đứt giây không phải vươn mình trên cõi đời mà là chao đảo rồi rơi sập.
Trong băn khoăn, sáng kiến đã đưa đến lời nguyện cầu sáng tạo táo bạo. Ngài thầm nghĩ người học trò chỉ vì sợ vòng gai chạm vào da mặt mà không dám ôm Ngài, nên Ðức Kitô quyết định xin Cha Ngài một đặc ân là tạm bỏ vòng gai trên đầu trong giây lát để có thể chúc bình an cho người học trò mà không làm nó miễn cưỡng chấp nhận. Ðức Chúa Cha chấp nhận và rừng lá lại nôn nao chứng dám cho một cuộc lên đường hào hùng.
* * *
Nhè nhẹ như cánh lá vàng thu của một đồi chiều hạnh phúc trong trái tim. Ðức Kitô an tâm hơn, có niềm vui nhưng còn kín đáo đợi chờ. Cũng như lần trước, người học trò chuẩn bị hiến lễ tạ ơn rồi chờ đợi Thầy mình đến. Từ lúc được Thầy báo tin giây phút chia tay, hình ảnh gai nhọn lại hiện về. Lần trước chia tay không thành. Mũi gai và vòng tay chúc bình an là một. Người học trò bịn rịn mồ hôi cho một cuộc lên đường. Sau cùng Ðức Kitô đã đến.
Trong là ngơ ngác khó hiểu. Ngoài là ngạc nhiên buông xuống. Người học trò chăm chăm nhìn Ðức Kitô xa lạ. Chàng chẳng thể nhận ra. Vòng gai và Ðức Kitô không thể tách rời. Thiếu vòng gai Ðức Kitô không còn là Ðức Kitô nữa. Người học trò hỏi người khách lạ.
☼ Ông là ai?
Ðức Kitô trả lời:
☼ Con không nhớ là Thầy hẹn ở đây để chúng ta có nghi thức chia tay sao?
Phân vân, người học trò nhìn lên mặt Ðức Kitô rồi xác quyết:
☼ Không! Ông không phải là Thầy tôi. Nhưng ông là ai mà biết bí mật câu chuyện giữa tôi và Thầy tôi?
☼ Ðã bao năm theo Thầy mà con không nhận ra giọng nói của Thầy sao?
Người học trò càng phân vân hơn nữa. Có lẽ là giọng nói đó chăng, nhưng còn vòng gai đâu. Dấu hiệu của Thầy mình là vòng gai hay giọng nói?
Mẩu đối thoại tiếp tục. Theo dõi hai người nói chuyện mà mặt trời lại hồi hộp ngừng thở và nắng sợ hãi lo âu không biết những gì sắp sẩy ra. Một bên nhận là Thầy. Một bên chối là không. Người học trò mỗi lúc mỗi liên tưởng đến vòng gai nhọn mà thấy khuôn mặt người khách lạ này khác Thầy mình quá. Khuôn mặt Ðức Kitô không có vòng gai trông lạ lẫm làm sao!
Rồi trời lại về những hoang mang. Rồi đất lại đi những ngập ngừng. Cuộc chia tay lần thứ hai không thành. Nắng đã lên cao trên đỉnh đồi. Nắng đổ xuống chói chang đọng vào tim người học trò những găy gắt.
* * *
Bạn thân mến, Ðức Kitô có hai khuôn mặt. Lúc Ngài lang thang ở biển hồ Galilê, lúc gọi các môn đệ theo mình, Ngài không có vòng gai trên đầu. Những ngày theo Thầy học đạo, các môn đệ chỉ theo Thầy để học bằng lời.
Sau biến cố Golgotha, từ ngày Ðức Kitô bị treo trên thập giá, khuôn mặt Ngài mang chứng tích tình yêu và cứu độ là vòng gai trên đầu. Theo Ðức Kitô để học là theo 3 năm Ðức Kitô dạy phải chết thế nào cho trọn lời Kinh thánh. Còn theo Ðức Kitô làm chứng nhân là theo Ðức Kitô sau biến cố tử nạn, là theo một khuôn mặt luôn luôn có vòng gai trên đầu. Từ ngày tử nạn thì tấm căn cước, chứng minh nhân dân của Ngài luôn luôn có vòng gai.
Hôm nay theo Ðức Kitô là làm chứng nhân chứ không phải chỉ nói về Ngài. Bỏ vòng gai trên đầu Ðức Kitô không còn là Ðức Kitô nữa. Bỏ vòng gai trên đầu, Ðức Kitô không vào phục sinh được. Vinh quang và đau thương là một. Không thể chỉ có một Ðức Kitô rao giảng mà không có Ðức Kitô bị đóng đinh. Không thể tách rời thập giá vòng gai và ơn cứu độ. Ðức Kitô chỉ rao giảng mà không vào khổ nạn đấy không phải là Ðức Kitô thật. Bởi đó, kẻ chỉ theo Ðức Kitô cắt nghĩa Kinh Thánh mà không theo Ðức Kitô vòng gai là một loại ngôn sứ giả hiệu.
* * *
Ðã hai lần người học trò không xuống núi làm chứng nhân được. Bây giờ là lần thứ ba. Bạn có nghĩ lần này người học trò xuống núi được không. Khi biết rõ theo Thầy học Kinh Thánh thì khác mà theo Thầy làm nhân chứng thì khác. Khi biết rõ vòng gai và nụ hôn là một không thể tách rời. Khi biết rõ Thầy mình luôn luôn mang vòng gai, và theo Thầy bây giờ là theo khuôn mặt vòng gai ấy, người học trò sẽ từ bỏ lý tưởng làm con diều lộng gió hay sẽ tiếp tục.
Trở về câu hỏi riêng tư của lòng mình, lần thứ ba này là của riêng bạn, của riêng tôi. Biết rõ nghĩa trang là đường vào sự sống và thinh lặng là âm nhạc. Biết rõ làm chứng nhân là theo Ðức Kitô có vòng gai. Biết rõ thập giá và phục sinh không thể tách rời. Chúng ta có theo Ngài không? Trong cõi tim mình tôi đi tìm câu trả lời cho riêng tôi, bạn tìm câu trả lời cho riêng bạn, vì tiếng gọi là một lựa chọn tự do. Thôi chúng ta phải chia tay ở đây.
Còn lần thứ ba đã xẩy ra những gì cho người học trò? Câu chuyện quá riêng tư, mà thế giới riêng tư thì chẳng phải của bạn, chẳng phải của tôi, cứ để cho người học trò đó thế giới của anh ta. Như thế chắc ta chẳng nên băn khoăn tìm hiểu lần thứ ba của người học trò làm gì.
Này Ta sai sứ ta đi trước mặt ngươi kẻ sẽ dọn đàng cho ngươi. Tiếng của người hô trong sa mạc: Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi. (Mc. 1: 2-3)
Máccô bắt đầu Tin Mừng bằng hình ảnh tiếng kêu với sa mạc. Nếu kêu thì phải kêu ai chứ, mà kêu ai thì sao lại kêu trong sa mạc, vắng như vậy có ai đâu mà kêu. Nếu lên tiếng thì phải lên tiếng ở chỗ đông người chứ. Nhưng Yoan lại lên tiếng trong cõi tịch liêu lặng lẽ.
Lên tiếng gọi đời
"Hãy dọn đường cho Chúa đi!" Ðó có là tiếng gọi của Yoan gởi vào cuộc đời? Ðó có là tiếng gọi của Yoan truyền đến người nghe? Nói đến gọi là gọi ai. Người ta chỉ truyền đi khi có đối tượng nhận. Ở đây, tôi thấy chung quanh là sa mạc, chỉ có đất với trời, có mây và gió. Mây bay đi, gió không dừng lại, vậy Yoan gọi ai?
"Hãy dọn đường cho Chúa đi!" Nếu tiếng kêu ấy chỉ là tiếng kêu Yoan gọi đời thì tôi hiểu thế nào về Nước Trời trong đời sống của tôi. Trong đời, có những quãng trống không ai song hành với tôi. Có những quãng vắng tôi không gặp ai. Có phải vì không có người nghe mà tôi không cất tiếng gọi ấy lên? Nếu tiếng kêu trong sa mạc của Yoan chỉ là tiếng ông gọi người, thì khi không có người, ông không có động lực để cất tiếng kêu. Tin Mừng Máccô cũng nói về Nước Trời "như người kia gieo giống xuống đất, dù người ấy ngủ hay thức, ban đêm hay ban ngày, hạt giống cứ nảy mầm lớn lên mà người ấy không biết" (Mc. 4: 26-27). Như thế, lời công bố Nước Trời không tuỳ thuộc vào có mặt của người nghe. Ngay cả khi tôi im lặng thì Nước Trời cũng cứ âm thầm lớn lên. Như vậy, tiếng kêu trong sa mạc là tiếng kêu của ai gởi cho ai?
Tiếng gọi lòng mình.
Mùa vọng khởi đầu bằng lời ngôn sứ trong hoang địa: "Hãy dọn đường cho Chúa đi! Hãy bạt lối cho Chúa đi!" Tôi nghe như tiếng kêu ấy vang lên rất lẻ loi. Trong sa mạc tịch liêu, tiếng ấy vang lên, vang lên, cứ một mình. Giữa cái hoang vu của đất trời, Yoan mình trần trong manh áo da thú, đầu tóc bụi mù đất rừng. Ông ngửa cổ nhìn trời mênh mông cất tiếng: "Hãy dọn đường cho Chúa đi!" Ông nói với ai giữa đất trời hoang vu ấy. Cái dáng ông lẻ loi như quay cuồng với lời vọng của mình. Giữa đất trời ấy, ông đã nghe thấy tiếng lòng ông thúc bảo.
Yoan không giữ tiếng lòng ấy trong thinh lặng. Ông không chờ tiếng lòng ấy khi đến dòng sông Jordan rồi mới cất tiếng. Ông không để dành tiếng lòng ấy khi thấy có kẻ lắng nghe rồi mới nói ra lời. Trong hoang vu lạnh lùng, ông cất tiếng. Trong sa mạc đìu hiu, ông nói lên lời. Như vậy, trong lẻ loi với bóng, ông nói với chính mình: "Hãy dọn đường cho Chúa đi!"
"Hãy dọn đường cho Chúa đi!" Tiếng hô ấy Yoan đã hô to cho lòng của chính ông. Ông đựng lại cơn lốc của âm vang ấy cho chính ông. Rồi từ âm vọng đó ông đến bờ sông Jordan cho âm vang ấy xuôi dòng thế kỷ chảy vào thế giới, đến ngày hôm nay. Tiếng gọi đời của Yoan chỉ là nối dài tiếng gọi cho lòng mình. Nghĩa là nếu không có người nghe thì tiếng gọi ấy vẫn đi vào không gian.
Chỉ trong sa mạc tiếng vọng mới âm vang cho cõi lòng. Hễ nói trong hoang vu không bóng người là nói với mình thôi. Khi có người tôi mới nói là để nói cho người chứ không phải cho tôi, vì mục đích chỉ để nói cho người cho nên chưa chắc điều tôi nói đã là niềm thao thức trong tôi. Khi không có ai mà tôi vẫn nói, khi tôi nói cho chính mình nghe, điều tôi nói đó mới là băn khoăn tự tình. Trong sa mạc chỉ có bóng, nhưng Yoan đã nói với bóng của mình: "Hãy dọn đường cho Chúa đi!" Tiếng mời gọi dọn đường cho Chúa phải là tiếng lòng mình trước đã. Tiếng ấy chỉ trở nên si mê khi hình băn khoăn với bóng, và bóng khắc khoải với hình.
* * *
Khi thấy con người được tạo dựng, các thần dữ đã ghen tức với con người. Sợ rằng con người biết đâu cũng lại là một vị thần, họ bàn tính phải hành động sao đây. Vì không muốn có thêm vị thần nào khác nữa, các thần dữ gian ác này quá đỗi băn khoăn về con người mới được tạo dựng. Lúc đó con người chỉ là pho tượng đất sét còn ẩm ướt, đang chờ thành hình. Các thần gian manh đề nghị với nhau là pho tượng đất đang còn mềm, chúng ta hãy ngắt đầu con người rồi giấu đi, để rồi mai sau con người sẽ mãi mãi bận tâm đi tìm cái đầu của nó. Một số thần được sai đi, và quả thật, tượng đất sét còn mềm, họ đã ngắt đứt được đầu con người đem về, nhưng vấn đề nan giải là giấu cái đầu đó ở đâu bây giờ. Con người cứ đi tìm mãi, rồi cũng có lúc nó tìm ra.
Trong lúc tất cả bối rối về cái đầu, một vị thần già quỷ quyệt nhất thủng thẳng bước ra an ủi các thần khác rằng đừng sợ. Vị thần phù thuỷ này nhặt cái đầu lúc đó là một cục ánh sáng xanh nhợt nhạt đang run rẩy. Lão thần già rực mắt hung đỏ quỷ quyệt, trong nháy mắt đập đầu con người xuống nền đá. Chiếc đầu con người vụt biến mất, để lại ngơ ngác cho lũ thần đang bối rối.
Lão thần già gian ác cất tiếng cười man rợ nói với lũ thần trẻ còn khờ khạo. Các ngươi giấu ở đâu rồi con người cũng tìm ra đầu của nó. Nó sẽ lục lọi khắp cả vũ trụ này. Tuy có chỗ nó chẳng để ý, nó sẽ không tìm đâu là chính con người của nó. Ta đã giấu cái đầu của nó trong chính nó! (Theo Rudyard Kipling)
* * *
Lạy Chúa,
Hàng năm, cứ khi gió se se lạnh đem Mùa Vọng tới, tiếng kêu trong hoang địa của Yoan lại đưa con về một nhắc nhở. Con cần những khoảnh khắc sa mạc để âm vang khi con gọi đời là gọi chính lòng mình đó thôi: "Hãy dọn đường cho Chúa đi!" Khi con gọi người dọn đường cho Chúa mà thôi thì khi không có người con sẽ không gọi, mà con không lên tiếng gọi thì con mất ơn gọi làm ngôn sứ. Khi con gọi người thì âm vang của con ra đi mà không về với con. Con cần những sa mạc thinh lặng, để khi con cất tiếng gọi thì tiếng gọi ấy vọng về với con ngay. Trong hoang vu một mình, Yoan an cứ ngẩng đầu gọi để ông nghe tiếng lòng ấy, để dù nếu không gặp ai, không ai gặp, ông vẫn mãi mãi là sứ ngôn. Hình ảnh đẹp của Yoan là ông không để mình nhiễm lạnh cái hoang vu độc thoại.
Con những tưởng rằng con cần đối thoại với đời, phải lên tiếng gọi đời, nhưng, lạy Chúa, con cần độc thoại biết bao về tiếng gọi ấy: "Hãy dọn đường cho Chúa đi!". Nếu con không độc thoại tiếng gọi này với lòng mình thì con cũng chẳng thể có đối thoại với đời về tiếng gọi đó.
Câu chuyện người con hoang đàng trong Tin Mừng Luca (Lc. 15: 11-32) nói đến trở về. Mùa chay là mùa xám hối. Ði tìm một khoảnh hồi tâm, ta hãy đọc lại đoạn Tin Mừng.
Người con hoang đàng
Từ xưa tôi vẫn nghĩ rằng hãy trở về như người con hoang đàng. Ðứa con hoang đàng như một mẫu mực trở về. Khi thấy con về, người cha vui mừng quá làm tôi thấy sự trở về của người con như một hành động anh hùng. Ðã bao năm tháng qua, tôi vẫn được nhắc nhở rằng hãy lên đường anh hùng, dứt khoát như người con ấy.
Ðọc kỹ đoạn Tin Mừng, tôi thấy man mác đó đây một mầu tím buồn. Một giải mây tím buồn rất xa. Ở một điểm nào đó, tôi thấy sự trở về của người con có làm cho cha vui, nhưng tôi vẫn không ra khỏi giải mây tím lặng lẽ. Trong sự trở về của người con hoang đàng tôi thấy có điều không ổn. Rồi chiều nay, mùa chay lại trở lại. Tôi muốn đọc lại đoạn Tin Mừng, chậm rãi hơn, lặng lẽ hơn để đi tìm cái không ổn của mầu tím đó.
Sau khi người con ra đi, thánh Luca viết về quãng đời của nó như sau:
Khi nó tiêu sạch cả rồi, thì khắp miền đó, lại sẩy ra nạn đói kém khủng khiếp và nó bắt đầu lâm phải túng thiếu. Nó đi sống bám một người dân trong vùng ấy; và người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó ước gì có thể lấy rau heo ăn mà thốn cho đầy bụng, mà cũng chẳng ai bố thí cho nó. Hồi tâm lại, nó nói: Biết bao người làm công cho cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết đói ở đây! Thôi dậy! tôi sẽ về cùng cha tôi, tôi sẽ nói với người: "Thưa cha, con đã trót phạm tội nghịch với Trời và trước mặt cha; con không còn đáng gọi là con cha nữa, xin cha xử với con như một người làm công của cha thôi".
Ðộng lực nào khiến nó trở về? Thánh Luca viết rõ: "Hồi tâm lại, nó nói: Biết bao người làm công cho cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết đói ở đây! Thôi dậy, tôi sẽ về cùng cha tôi." Như vậy động lực khiến nó trở về chỉ vì đói. Trước khi bị đói, không bao giờ thấy nó nhớ đến cha, không thấy xám hối vì bỏ cha đi, không thấy băn khoăn hồi tâm về căn nhà cũ, nơi còn có cha chẳng biết già yếu ra sao, không thấy nuối tiếc vì phá tan cả sản nghiệp của cha. Sau khi bị đói nó mới băn khoăn tìm đường về. Cái tự nhủ, băn khoăn của nó là làm sao để được ăn. Nó dự tính nói với cha nó là nó trót phạm tội nghịch với trời, nó không còn đáng gọi là con, nó chỉ xin được đối xử như một người làm công. Trong tự nhủ này có một ngập ngừng không đơn giản. Tại sao nó muốn được đối xử như một người làm công? Người làm công có dư bánh ăn! Có phải, bây giờ muốn có bánh thì chỉ cần xin được làm người làm công? Tôi không muốn khắt khe xét đoán sự trở về của nó. Nhưng vẫn có một u uẩn trong lối hành văn của thánh sử Luca. Ban đầu, vì đói nó mới về. Khi hồi tâm nó nghĩ đến miếng bánh của người làm công được ăn. Những ý tưởng này cho tôi nghĩ lời nói "trót phạm tội nghịch đến Trời và trước mặt cha; con không còn đáng gọi là con cha nữa", mang một giá trị rất nhẹ của lòng xám hối.
Nếu nó được ăn rau của heo thì nó ngang hàng bằng heo. Nhưng trước mặt người ta, nó không được ăn rau của heo, nghĩa là nó không giá trị bằng heo. Cái hoang vu của mầu tím ở đây là nếu nó được ăn rau của heo thì liệu nó có trở về không? Cái dằn vặt của một mầu tím khó tìm được câu trả lời là tại sao phải đợi đến khi ngay cả rau cho heo cũng không có ăn lúc bấy giờ mới về. Ðó là cuộc lên đường về trọn vẹn sao? Ðấy là cuộc lên đường thúc đẩy từ lòng xám hối sao?
Mỗi mùa chay, nghĩ đến cuộc trở về trong Tin Mừng thánh Luca, tôi lại mơ ước một cuộc lên đường trọn vẹn. Tôi trở về trọn vẹn để xứng đáng lòng yêu thương của Chúa, hay chỉ có thể dựa vào lòng xót thương của Chúa mà tôi có thể trở về?
Thái độ của người cha
Khi nhớ thì mỗi chiều cách biệt là một quãng đời hoàng hôn xạm tím. Lần rở lại những trang đầu của câu chuyện. Ta thấy thánh sử Luca vẽ chân dung người cha bằng một sắc mầu rất đỗi chịu đựng.
Ngài còn nói: "Người kia có hai đứa con. Con thứ nói với cha: "Thưa cha, xin ban cho con phần gia sản thuộc về con!" Vậy người cha đã phân chia của cải cho chúng nó. Không mấy ngày sau, đứa con thứ thâu góp tất cả của cải mà trẩy đi phương xa. Và ở đó nó sống trác táng phá tan cả sản nghiệp".
Bắt đầu câu chuyện là đã thấy mầu tím u uẩn như những giây đàn han rỉ. Nó như những giọt mưa buồn của một từ giã nặng nề. Nó như những tiếng chuông trầm, cũng rất thong thả, rơi trong một chiều cô tịch, gõ vào lòng người cha, rất đìu hiu. Khi người con từ giã, đi xa rồi, lòng người cha ở lại nghe những tiếng chuông ấy vọng về: "Xin ban cho con phần gia sản thuộc về con!"
Tôi không thấy mầu tím buồn trong hồn người cha than vãn, nuối tiếc vì số sản nghiệp bị mang đi. Nhưng có một ray rứt không buông thả trái tim người cha già tội nghiệp. Cha mẹ chia của cải cho con cái khi biết mình sắp chết. Con cái chia nhau sản nghiệp khi bố mẹ đã qua đời. Tài sản của cha mẹ, nên chỉ khi cha mẹ gọi con cái đến chia, con cái mới được nhận, không khi nào con cái được quyền đến đòi cha mẹ phải chia cho mình. Nhưng ở đây, người con không đợi nổi đến ngày cha mình chết. Nó mong sao ngày đó chóng đến. Nhưng bao giờ? Thôi! cha cứ chia cho tôi trước đi, đợi cha chết lâu quá! Cha cứ chia đi rồi ngày nào cha chết tùy cha!
Người cha không nổi giận. Ðưa cho con gói bạc mà thực ra nó chẳng có quyền đòi. Người cha không tiếc gia nghiệp, nhưng tiếc một tình nghĩa đang mất. Tiếng nói của người con: "Xin ban cho con phần gia sản thuộc về con" như những tiếng chuông báo tử của một linh hồn sắp lìa đời đang gõ xuống lòng người cha một sự thật đau đớn không thể chối từ. Người cha nhìn về chân trời để thấy hồn mình là một nỗi sầu tím. Người cha già giữ nỗi sầu tím ấy trong im lặng.
* * *
Lạy Chúa,
Bàn thờ đã giăng lên mầu tím của mùa chay. Ngày ngày dâng lễ con thấy mầu tím nhắc nhở con trở về. Con đã được dạy hãy lấy hình ảnh người con hoang đàng trở về làm mẫu mực. Ðọc lại câu chuyện, con thấy sự trở về của nó không phải là một mẫu mực. Sự trở về lý tưởng phải là sự trở về đến từ hồi tâm của tình yêu tha thiết.
Con thấy động lực thúc đẩy người con thứ trở về là miếng ăn. Một cuộc trở về man mác buồn. Nhưng, những tối một mình trong thinh lặng, rồi, những trang Lời Chúa nói với con bằng một ngôn ngữ rất sâu. Nếu cuộc trở về của nó mà trọn vẹn đến từ nước mắt thì câu chuyện thánh sử Luca trình bầy sẽ đẹp lắm, sẽ uy hùng lắm. Câu chuyện trở nên thiên anh hùng ca, nhưng sẽ là thách đố sợ hãi cho con.
Nhìn lại những cuộc lên đường về của con, con thấy cũng giống vậy. Con lên đường về cũng vì miếng ăn. "Khi tình yêu con còn mơ, tin yêu con dệt thơ thì tình Chúa hững hờ." Con trở về khi cuộc đời dầm bập con. Nếu người cha chỉ hân hoan đón đứa con hoang đàng khi nó về với lòng xám hối ăn năn tận đáy lòng thì chắc Chúa ít có cơ hội đón con lắm. Con trở về vì con muốn thiên đàng. Con trở về vì con sợ hỏa ngục. Con trở về vì đời hắt hủi. Sự trở về của con vẫn đến từ nỗi sợ, từ sự thèm muốn, từ một cùng đường.
Cuộc trở về của đứa con hoang đàng trong Tin Mừng Luca không là mẫu mực lên đường về như một gương xám hối, mà con thấy là cuộc trở về dựa vào tình yêu của Chúa.
Làm sao định nghĩa được tình yêu. Người ta nói như thế. Người ta bảo không định nghĩa được tình yêu vì tình yêu phức tạp quá. Con không nghĩ vậy. Tình yêu khó hiểu không phải vì phức tạp mà vì nó quá sâu để hiểu. Khi tình yêu phức tạp là người ta đang đày đọa tình yêu mất rồi. Chỉ vì miếng ăn người con mới trở về mà cũng làm cho người cha quá đỗi vui mừng. Lòng xót thương của Chúa, con không hiểu được. Con không hiểu được chẳng phải tình yêu phức tạp mà vì tình yêu quá sâu.
Con không thấy người cha hỏi đến gia nghiệp nó mang đi. Con không thấy người cha thắc mắc bất cứ điều gì để làm cho tình yêu ra phức tạp. Con không thấy người cha hỏi lý do nào nó trở về. Con chỉ thấy người cha thương con của mình. Lạy Chúa, con chỉ trở về được vì dựa lòng thương xót quá bao dung của Chúa. Con sẽ chẳng bao giờ xám hối trọn vẹn được đâu, và như thế, bao giờ con về được nếu Chúa hỏi con bằng những câu hỏi phức tạp của một tình yêu phức tạp. Nhìn vào tình thương của Chúa con chỉ thấy một chiều sâu. Quá sâu. Dựa vào đó, lạy Chúa, con xin về.
Anh Chị em thân mến,
Khi xa nhau, chúng ta hay đem hình của nhau ra xem. Cái truyền thống ở trại tỵ nạn là mỗi dịp lễ, ai cũng muốn chụp vài "pô" hình, gọi là để kỷ niệm. Chúng ta chụp hình gởi cho mẹ cha, cho bạn bè, cho người yêu. Hôm nay, mừng kính lễ Mẹ Thiên Chúa, tôi sẽ không giảng, tôi muốn chúng ta cùng trở lại những tấm hình Mẹ Maria đã chụp năm xưa để chúng ta nhìn về những ngày ấy, khuôn mặt Mẹ thế nào.
Mẹ Maria có nhiều danh hiệu. Từ trong âm nhạc, thi hứng, văn chương, Mẹ được xưng tụng là bình minh. Mẹ như sao mai rạng. Mẹ như chính cửa thiên đàng. Danh hiệu nào của Mẹ cũng đẹp. Trong các danh hiệu của Mẹ, có một danh hiệu mà chúng ta mừng lễ hôm nay: Mẹ Thiên Chúa.
Với cảm hứng từ văn chương đã được kén chọn từ ý nghĩa sâu sắc của thần học, Mẹ có quá nhiều tên gọi. Tên của Mẹ như một vườn hoa mầu nhiệm rực rỡ các loại hoa. Giữa những lung linh rực rỡ ấy, tên gọi Mẹ Thiên Chúa, đối với tôi, là tên gọi mầu nhiệm nhất.
Thật ý nghĩa khi Giáo Hội đặt ngày kính Mẹ Thiên Chúa vào ngày đầu năm, ngày thứ nhất của một khởi đầu mới. Giáo Hội muốn đặt trong tay Mẹ Maria cái khởi đầu mới cho một chuỗi thời gian huyền nhiệm trong đời của mỗi người chúng ta.
Anh chị em thân mến, để thấy liên hệ giữa Mẹ và ơn cứu độ cho nhân loại, Anh chị em hãy lần rở những hình ảnh của Mẹ chúng ta trong cuốn album Phúc Âm.
1. Tấm ảnh Mẹ chụp ở Nazareth.
Hình ảnh đầu tiên Mẹ đem ơn cứu độ cho chúng ta là tấm ảnh thiên thần chụp cho Mẹ lúc Mẹ được Truyền Tin.
Lúc đó vào tháng Sáu. Sứ thần Grabiel được sai đến báo tin Cho Mẹ: "Hãy vui lên! Hỡi người đầy ơn Chúa". Lúc ấy, Mẹ là một thiếu nữ mới lớn. Một thiếu nữ chỉ mơ về một chân trời bình dị là được gọi là nữ tỳ của Thiên Chúa thôi. Người thiếu nữ ấy không mơ một quân vương làm chồng. Maria giản đơn trong lối sống, đơn sơ trong mộng ước mai sau. Bất chợt, sứ thần làm Mẹ bàng hoàng. Mẹ băn khoăn hỏi: "Lời chào này có nghĩa gì đây?"
· Maria, đừng sợ vì người đã được ơn sủng nơi Thiên Chúa. Nơi lòng dạ người sẽ thụ thai và sinh con trai, và người sẽ gọi tên Ngài là Yêsu (Lc. 1: 30-31).
Chúng ta hãy hình dung, làm sao Mẹ không bối rối, hoang mang. Chân trời của Mẹ là thế, một sáng dịu hiền bên khóm huệ trắng với lời kinh khiêm tốn, êm như một tơ trời. Mộng ước của Mẹ là thế, một chiều hoàng hôn êm ả, với lời kinh bé nhỏ thôi, chỉ xin được là nữ tì của Thiên Chúa. Trong âm thầm, trong im lặng, trong sương ngả chiều hôm, trong sáng mai hồng, chỉ là thế, mộng ước có bấy nhiêu. Giờ đây, như có tiếng nhạc rộn ràng của minh quân. Như khung trời miền quê Nazareth thôi êm ả, vang vang lời thông báo của vì vua quyền quý đi tìm Nữ Vương. Và Nữ Vương đó lại chính là Mẹ. Làm sao Mẹ không bàng hoàng trước tiếng nhạc, vó câu hối hả, điều mà Mẹ chẳng bao giờ ủ trong hồn giấc mơ.
· Maria, đừng sợ, Thánh Thần sẽ đến trên cô, bởi thế mà trẻ sắp sinh sẽ được gọi là thánh, là Con Thiên Chúa. Vì với Thiên Chúa, nào có gì lại là không có thể (Lc. 1 :35).
Anh chị em thân mến,
Cái làm tôi ngạc nhiên là Mẹ Maria tin ngay lời của sứ thần. Mẹ chỉ thưa một lời rất ngắn: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền." (Lc. 1: 26-38). Tại sao một thụ tạo mà dám nhận làm Mẹ Thiên Chúa? Tôi không hiểu nổi, và tôi sẽ không bao giờ hiểu nổi niềm tin hun hút đó, nó là sự phó thác vô lượng của Mẹ, ngoài tầm trí tôi.
Và, từ giây phút ấy, Mẹ đem ơn cứu độ cho tôi. Giữa thân phận tôi, định mệnh tôi, ơn cứu độ tôi và Mẹ Maria là một liên hệ nhiệm mầu. Giây phút lịch sử uy hùng nhất đã đến với tôi: Thiên Chúa Nhập Thể.
Thế mà, tấm ảnh thiên thần chụp cho Mẹ gắn trong những trang đầu cuốn album của thánh Luca lại rất lặng lẽ. Một ngôi nhà nhỏ miền quê Nazareth. Căn nhà đơn sơ không có rèm cửa thêu hoa. Có thể thoang thoảng loài hương của một nhánh oliu. Có thể thoang thoảng loài hương của một cành huệ trắng. Lúc đó, nhà của Mẹ thanh thịnh làm sao, không có ai, một mình Mẹ thôi. Rất vắng. Rất lặng lẽ. Nhưng mà, vắng là vắng rất êm. Lặng lẽ là lặng lẽ rất thơ. Cái êm của duyên tình thánh. Cái thơ của ân lộc trời.
Tuy nhiên, cho dù có là thơ, có là mơ, chúng ta cũng vẫn phải để ý đến khía cạnh nổi bật của tấm hình Mẹ là: Mẹ thích lặng lẽ. Mẹ yêu âm thầm.
2. Tấm ảnh Mẹ chụp ở Cana.
Rồi đời Mẹ cứ âm thầm, cứ vắng. Cho đến một ngày, ngày Mẹ can thiệp vào biến cố tiệc cưới Cana. Cái vinh quang của Mẹ là Con Mẹ, cũng là Thiên Chúa đã làm phép lạ đầu tiên vì lời nói của Mẹ. Nhưng trong cái vinh quang đó, tấm hình Mẹ chụp cũng vẫn phảng phất cái âm thầm cố điệu thủa xưa ở Nazareth. Chân dung Mẹ vẫn là nét mầu cố điệu của một thiếu nữ miền quê yêu lặng lẽ. Phúc Âm Thánh Yoan chụp ảnh Mẹ như sau: "Bởi hết rượu nên Mẹ Ðức Yêsu mới nói với Ngài: Họ không còn rượu nữa" (Yn. 2: 3).
Vì lời nói của Mẹ mà tiệc cưới tiếp tục những đêm hoa đăng. Vì lời nói của Mẹ mà tiệc cưới tiếp tục vui. Ðó là cái vinh quang của một người có thể dùng lời nói mà thay đổi ơn cứu độ. Nhưng cái vinh quang đó không phải là vinh quang uy quyền. Lời nói của Mẹ không là lời nói biểu lộ quyền uy. Nơi Mẹ, lời nói với Chúa Kitô là lời kinh. Cái vinh quang của Mẹ nơi tiệc cưới Cana là lòng khiêm tốn thưa với Thiên Chúa đến từ lòng xót thương của Mẹ đối với đôi tân hôn. Cũng như vinh quang của Mẹ được làm Mẹ Thiên Chúa ở buổi Truyền Tin là do lòng khiêm hạ của Mẹ đến từ sự vâng lời.
Các gia nhân giúp việc biết rõ Mẹ Maria căn dặn họ như thế nào. Nhưng khi nước biến thành rượu xong, không thấy các gia nhân nói chuyện gì với Mẹ. Các môn đệ thấy vinh quang của Ðức Kitô thì tin vào Ngài, chúng ta cũng không thấy các môn đệ nói gì với Mẹ (Jn. 2: 11). Sau khi Mẹ Maria dặn các gia nhân xong, chúng ta thấy hình bóng Mẹ chìm liền.
Sự hiện diện của Mẹ có thể làm thay đổi một kỷ niệm buồn của ngày cưới, chữa lành vết thương tâm hồn vì thiếu ơn sủng. Trong cái vinh quang của Mẹ, chúng ta vẫn thấy hình ảnh nơi Mẹ là thế. Rất lặng lẽ. Rất âm thầm.
3. Tấm ảnh Mẹ chụp ở Golgotha
Xem lại những tấm hình cũ, đã hai lần tôi thấy Mẹ tham dự vào ơn cứu độ của Chúa cho nhân loại:
Tấm ảnh đầu đời của Mẹ ở Nazareth. Ảnh chụp lúc Mẹ đem ơn cứu độ cho nhân loại bằng lời xin vâng, nhận Chúa xuống trần. Nhưng nhìn vào nét ảnh chụp của Luca, trong biến cố Truyền Tin, đó chỉ là liên hệ giữa Mẹ và Chúa, ngoài ra không có nhân vật thứ ba.
Tấm ảnh thứ hai ở Cana chụp rõ nét hơn. Ảnh chụp sự hiện diện của Mẹ lúc Chúa bắt đầu công cuộc rao giảng Tin Mừng. Rõ nét ở chỗ là chính Mẹ đã can thiệp: "Họ hết rượu rồi" (Jn. 2:3). Mẹ là trung gian cho đôi tân hôn gặp ơn cứu độ của Chúa. Ở đây không chỉ là giữa Thiên Chúa và Mẹ như tấm ảnh chụp ở Nazareth mà là có nhân vật thứ ba.
Tấm ảnh cuối đời của Mẹ chụp ở núi sọ rất khác so với hai tấm kia. Trong tấm ảnh thứ ba này có cả chân dung của tôi nữa, rõ mồn một. Mẹ không còn chỉ là liên hệ mình Mẹ với Chúa như tấm hình thứ nhất. Mẹ không còn chỉ là trung gian giữa Chúa và nhân loại như ở tiệc cưới Cana nữa, nơi tấm hình thứ hai. Bây giờ, tôi là con của Mẹ. Tôi ở trong tay Mẹ. Này nhé, tấm ảnh ở chân thánh giá là đây:
Ðức Yêsu nói với Mẹ: "Hỡi bà, này là con bà." Ðoạn lại nói với môn đệ: "Này là Mẹ con." Và từ giờ đó, môn đệ đã nhận lấy bà về nhà mình" (Jn. 19: 26-27).
Nhìn kỹ trong tấm hình Mẹ chụp bên đồi tử nạn, tôi thấy cái rực đỏ u ẩn trong hồn Mẹ. Cái bão tố quằn quại mang mầu tím thẫm của một người Mẹ thấy con mình chết. Cát bụi bên một chiều đổ nắng. Maria đứng đó. Tôi thấy ở nơi Mẹ, vẫn là một kỳ diệu nhiệm mầu. Mẹ mệt mỏi trong thân xác của một con người, nhưng Mẹ không xé nỗi đau thành lời. Mẹ vẫn là im lặng thôi. Ở nơi Mẹ, vẫn là cái cố điệu âm thầm của ngày Mẹ được Truyền Tin. Cái đau đớn trong bình an. Cái rực rỡ của niềm tin trong cơn bão bùng. Cái sóng đổ trong bình thản, vì: Lòng Mẹ có Chúa.
Giữa đất trời mênh mông, ơn cứu độ đã hoàn tất, ngày rung động đất trời. Nhưng chẳng ai hiểu cả, mình Mẹ thôi. Cũng như ngày Truyền Tin, ngày mà vũ trụ xôn xao, ngày mà tinh tú ngỡ ngàng hoang mang, vẫn chỉ mình Mẹ hiểu thôi. Bên đồi thánh giá, Mẹ thầm lặng, nhưng là cái thầm lặng uy hùng như kẻ đi giữa mặt trời, giang tay ngửa đời đón cả nhân loại vào vòng tay: "Này là con bà." Chiều tâm tư ấy, đau thương, nhưng trái tim Mẹ như bình minh rực rỡ cao sang của người chỉ một mình hiểu rõ thế nào là ân điển.
Tuy nhiên, cho dù có là uy hùng, có là cao sang, chúng ta cũng vẫn phải để ý đến khía cạnh nổi bật của tấm hình Mẹ, dưới chân thánh giá, Mẹ vẫn luôn luôn là: Rất lặng lẽ. Âm thầm.
* * *
Và từ giờ đó....
Thưa Mẹ, Ở tấm ảnh thứ ba này, nó lung linh kỳ diệu làm sao. Thánh Yoan nói rằng "từ giờ đó môn đệ nhận lấy bà về nhà mình." Ở lúc trước, Mẹ là trung gian cho con và Chúa. Nhưng bây giờ, lúc Chúa chết trên thập tự. Lúc Ngài sắp xa con, Ngài kéo mọi sự lên cùng Ngài. Con là con Mẹ, Mẹ là Mẹ con và Chúa Kitô là Anh em con. Tất cả quấn quýt trong hồn Mẹ bao la. Bởi thế, hôm nay, khi chúng con mừng lễ Mẹ Thiên Chúa, chúng con có thể sửa tên ngày lễ, thêm vào là Lễ Mẹ Thiên Chúa, cũng là lễ Mẹ của con.
Thưa Mẹ,
Vâng, con hiểu, từ giờ đó, giờ mà Chúa trối lại chúng con là con Mẹ, thì nơi nào con ra đi Mẹ cũng đi với con. Những chiều dài bóng đổ bên đời lữ hành. Những thao thức cho một quãng đời vô định. Những khổ đau của tháng ngày cháy nắng. Những tâm tư khắc khoải của mảnh đời tỵ nạn. Vâng, từ giờ đó, Mẹ ở bên con. Và con hiểu, Mẹ sẽ mãi mãi ở bên con.
* * *
Anh Chị em thân mến,
Trong thánh lễ này tôi chỉ trình bày những tấm ảnh Mẹ chụp qua diễn tiến theo thời gian, từ Truyền Tin đến Ðồi Tử Nạn, để Anh Chị em thấy mầu sắc đã từ từ, đậm nét như thế nào. Chân dung Mẹ trong tình mẫu tử săn sóc chúng ta đã đi từ xa xa như thuỷ triều nhẹ nhàng trong ngày Truyền Tin, đến dâng cao sóng đổ khi cuối đời tử nạn.
Chớ gì chúng ta hãy suy niệm tấm ảnh Mẹ chụp sau khi Chúa về trời, với Thánh Thần Chúa hiện xuống, Mẹ ở giữa các môn đệ tiên khởi để chúng ta thấy mầu sắc ảnh Mẹ còn rực rỡ như thế nào giữa lòng Giáo Hội, trong chương trình Mẹ đem ơn cứu độ cho chúng ta.
Niềm tin và lòng sốt mến của người Công Giáo đối với Mẹ Maria không phải là một lòng sốt mến dựa trên cảm xúc. Nhìn vào những tấm hình Mẹ chụp ở Nazareth, ở Cana, ở Golgotha, chúng ta thấy rõ niềm tin và lòng sốt mến này như một dòng suối thơm ngát hương Kinh Thánh. Bởi đến từ Kinh Thánh, vì thế lòng cậy trông đối với Mẹ và sự chở che của Mẹ đối với các con của Mẹ sẽ chảy dài trong Giáo Hội như một nền thần học căn bản, vĩnh cửu.
Ngày đầu năm, Lễ Mẹ Thiên Chúa 1.1.1993,
Palawan, Philippines.
Bóng mát cần thiết để dừng nghỉ. Thiếu bóng mát cuộc hành trình sẽ mệt lắm. Vì bóng mát chỉ để dừng nghỉ, nên nếu ngày nào bóng mát giữ chân tôi lại không muốn tôi lên đường thì lúc đó bóng mát trở thành đánh lừa tôi. Thiếu bóng mát cuộc hành trình sẽ mệt nên tôi cần bóng mát. Trong cái cần bóng mát ấy, dễ đưa tôi đến chỗ ôm giữ bóng mát như một nuối tiếc không muốn rời bỏ.
Có những bóng mát của một ngày hành trình dài trên đường đi bộ. Nhất là, khi mồ hôi đong vào những sợi nắng chẻ tóc. Nhất là, khi gặp một trời hạ hực nắng và gió không hiền hòa. Lúc đó, tôi cần một bóng mát làm sao!
Dù là bóng mát của một quán trọ hay bóng mát của một tàng cây, bóng mát vẫn chỉ là "bóng" chứ không phải là "thực". Vì là bóng, nên bóng mát không thể là nơi tôi nương trú. Tôi chỉ dừng chân rồi đi. Cái nguy hiểm của bóng mát là có thể làm chậm trễ hành trình tôi đi tới, có thể đánh mất đường về của tôi.
Từ bóng mát trên đường đi dẫn tôi đến "bóng mát cuộc đời".
Bóng mát cuộc đời.
Có nhiều thứ bóng mát trong cuộc đời. Một ngày nào đó với lo âu trĩu nặng, rồi có một tình thân đến chia sẻ. Một ngày nào đó bơ vơ, rồi có một tâm hồn đến cho nương tựa. Ðấy đều là những bóng mát. Trong lúc cơ cực, một tấm lòng rộng lượng đến nâng đỡ. Những bóng mát như vậy cần thiết biết bao. Trong đời ai cũng cần những bóng mát như thế. Cuộc sống không giản dị êm đềm, có những quãng vắng lặng lẽ, có những khúc đi gian nan, để rồi cuộc sống cần những bóng mát cuộc đời.
Trong những bóng mát cuộc đời ấy có những bóng mát nguy hiểm, bóng mát lừa dối. Giữa những bóng mát cần thiết có những bóng mát bất chính. Người ta lẫn lộn những bóng mát ấy với nhau. Vì đặc tính của bóng mát là cho người ta "chất mát". Ðam mê và tội lỗi cũng là một thứ bóng mát. Nhiều khi tội lỗi và đam mê càng cho người ta nhiều "chất mát" hơn.
Thí dụ trong hôn nhân, thí dụ trong đời tu, vì một lúc yếu lòng, vào một mùa thu ảm đạm. Rồi, ở một nơi nào đó trong tâm hồn mình, thấy bâng khuâng gợi nhớ, thấy man mác một nỗi sầu trống vắng thiếu thốn. Người ta dễ đi tìm "bóng mát cuộc đời" bằng lỗi chung thủy.
Ðời là con đường dài. Những lúc chớm sáng bình minh, người ta hăng hái lên đường, nhưng vào trưa oi bức, người ta muốn dừng nghỉ. Những ngày hạnh phúc êm ả người ta không cần bóng mát cuộc đời. Những ngày chán nản, bơ vơ, người ta không muốn lên đường, lúc ấy, những quán hạnh phúc bên đường dễ cám dỗ mời mọc làm sao.
Bóng mát và người chăn chiên.
Người chăn chiên nhìn về cuối chân trời. Nắng vẫn hanh, nhưng trong lòng người chăn chiên, chiều đang đổ xuống rất mau. Ðường vẫn còn dài. Người chăn chiên nhủ lòng: Phải ra khỏi cánh rừng khi chiều về!
Chúa Kitô cũng vậy, thời gian đối với Ngài là mùa màng cứu rỗi. Ngài nhìn cuộc sống của tôi với chiều đi mà nôn nao, hối hả: "Bao lâu còn sáng ngày, Ta phải làm việc của Ðấng đã sai Ta. Ðêm tối đến không ai còn làm việc được nữa" (Jn. 11:10).
Người chăn chiên tính toán kỹ lưỡng. Trời còn hanh nắng đó, nhưng phải lên đường cho kịp tránh hoàng hôn. Bầy chiên nào có biết, chúng chỉ thích an nghỉ dưới tàng cây rợp bóng. Cái êm dịu của bóng mát làm chúng ngại lên đường. Chúng muốn thiu thiu ngủ hơn ra đi. Chiều cứ xuống, chầm chậm không lời báo động. "Trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, lấy vợ lấy chồng cho đến ngày ông Noe vào tầu. Và lúc chẳng ai để ý gì, thì lụt đến và cuốn trôi đi tất cả" (Mt. 24: 38-39). Khi giấc ngủ vừa tỉnh, muốn lên đường thì đã muộn. Hoàng hôn xuống mà chưa ra khỏi cánh rừng là bóng tối bủa vây, là nguy hiểm rình chờ, sói rừng sẽ xuất hiện. Những bóng mát ấy là cõi chết rất êm. Những bóng mát đánh lừa.
Người chăn chiên lành nghề thì biết khúc đường còn bao lâu, quãng dài cần thiết bao nhiêu thời giờ để ra khỏi cánh rừng. Cho dù trời có nắng, mồ hôi có chảy, người chăn chiên vẫn cứ hối hả thúc chiên lên đường, không cho nó nằm nghỉ dưới bóng mát tàng cây. Nỗi tâm tư của người chăn là chiên chẳng hiểu mình. Chúng trách cứ, oán than. Trong bóng mát ấy, bầy chiên than thở, tại sao một chút hạnh phúc mà Ngài cũng lấy đi. Bao lần trong đời, con người đã nhìn hình ảnh người chăn chiên như kẻ khó tính, không cảm thông. Một chút hạnh phúc mà Ngài cũng không cho. Một chút an ủi mà Ngài ngăn cấm. Người chăn chiên biết cái rình mò của bóng đêm. Nhìn đường còn xa mà lo âu thương bầy chiên, nếu trời đổ tối mà chưa ra khỏi cánh rừng thì sao. Sói đến. Chết chóc. Ðổ vỡ. Dù chiên muốn hay không, người chăn chiên vẫn nhủ lòng: Nhất định phải bắt chúng lên đường!
Chúa Kitô cũng thế. Ngài thấy những "bóng mát cuộc đời" giả tạo của tôi mà lo âu. Ngài biết bóng mát ấy đang đánh lừa tôi. Bóng mát ấy có thể là tình cảm bất chính, là tiền bạc tôi không rõ ràng trong khi có trách nhiệm cầm giữ. Bóng mát ấy có thể là quyền hành tôi được trao phó, nhưng mà để thoả mãn hơn là phục vụ. Bóng mát ấy cũng có thể là giấc ngủ dài vì ngại ngùng khi thấy hành trình xám hối đòi nhiều cố gắng. Bóng mát ấy có thể là một thứ đam mê.
Những thứ bóng mát này có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng cùng một địa chỉ là lừa gạt tôi.
Khi nói về bóng mát (shadow), cả bốn Phúc Âm chỉ nói đến 2 lần. Và cả hai lần tiếng bóng mát đều liên quan đến sự chết. Lần thứ 1 trong Matthêu: "Kẻ ngồi trong bóng tối sự chết" (Mt. 4: 16). Lần thứ 2 trong Luca: "Kẻ ngồi trong tối tăm bóng chết" (Lc. 1: 79).
Trong khi những lời giảng dạy, nhiều biến cố quan trọng giữa Chúa và con người hầu hết đều xẩy ra trên đường đi đổ nắng chứ không ở trong bóng mát. Thí dụ:
· Trên đường đi Ngài hỏi họ: Người ta nói Thầy là ai? Và Phêrô tuyên tín Thầy là Ðức Kitô (Mt. 8: 27-27).
· Khi bắt đầu lên đường. Một người đến hỏi: Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sự sống đời đời (Mt. 10: 17).
· Dọc đường lên Jerusalem, Ngài nói: Con Người sẽ bị nộp trong tay người đời, các ký lục và thượng tế... (Mc. 10: 32-34).
· Trên đường đi, họ bắt ông Simon vác thánh giá đỡ cho Ðức Kitô (Lc. 23: 26).
· Trên đường đi đến một làng nọ. Mười người phong cùi đến gặp Ngài (Lc. 17: 11).
· Cuộc gặp gỡ sau biến cố Phục sinh cũng xẩy ra trên đường Emmaus. Hai ông kể lại chuyện xẩy ra khi các ông đi đường và các ông đã nhận ra Chúa lúc Ngài bẻ bánh (Lc. 24: 35).
· Giakêu gặp Chúa cũng là gặp trong lúc đi đường (Lc. 19: 4).
Khi người chăn chiên dùng gậy đánh để bầy chiên khỏi ươn lười ngủ vùi trong bóng mát, cũng là lúc, để thức tỉnh tôi, Chúa trao cho tôi "chút bánh đau thương và ít nước khốn cùng. Nhưng Ðấng dạy dỗ tôi sẽ không bao giờ rời bỏ tôi. Khi chân tôi xiêu bên phải, vẹo bên trái, chính tai tôi nghe tiếng từ đàng sau phán: Ðây là đường hãy đi theo đó" (Isaia 30: 18-21). Chúa biết ngày nào tôi còn nằm trong "bóng mát" giả tạo ấy, tôi chỉ ôm mơ một bóng hình hạnh phúc ảo ảnh. Những êm đềm ấy chỉ lừa dối tôi thôi.
Bóng cây mát ven đường đánh lừa bầy chiên để đêm tối ập xuống thế nào thì "bóng mát cuộc đời" đam mê cũng đánh lừa tôi để tôi mất mùa ơn sủng như thế.
* * *
Lạy Chúa,
Bao lần tâm tư Chúa buồn phiền khi thấy con dại dột nằm ẩn mình trong bóng mát. Những cảm xúc ngọt ngào của bóng mát chỉ cho con hạnh phúc giả mà thôi. Nó cản đường con về đồng cỏ quê trời. Nó làm chậm chân con ra khỏi cánh rừng nguy hiểm cho linh hồn. Những ngày con sống như thế, Chúa thấy thời gian đổ vỡ đã gần kề mà con vẫn ngủ, thì con xin Chúa, như người chăn chiên tốt lành, hãy dùng gậy mà đánh, mà lùa chiên ra khỏi bóng mát.
Xin cho con nhớ lời thánh Phaolô nhắn gởi: "Hỡi con chớ khinh chê lời sửa phạt của Chúa, chớ ngã lòng khi Chúa trách mắng con. Vì Chúa sửa trị kẻ Chúa yêu và đánh phạt kẻ Chúa nhận làm con. Chúa dùng đau khổ để dạy anh chị em. Thiên Chúa đối xử với anh chị em như đối xử với con cái. Có con nào mà cha không phải sửa phạt ư? Nếu anh chị em không nhận lời răn dạy như mọi người, anh chị em là con ngoại tình chứ không phải con thật nữa. Ðàng khác cha phần xác sửa dạy ta mà ta còn tôn kính, phương chi ta càng phải vâng phục cha phần hồn là Ðấng ban sự sống cho ta. Cha phần xác sửa trị ta theo ý riêng mình và vì lợi ích tạm thời, còn cha phần hồn thì vì lợi ích thực sự là để ta được thông phần vào sự thánh thiện của cha. Thật vậy, mọi sự sửa phạt lúc đầu chỉ gây buồn tủi, chẳng có đem lại an ủi đâu, song về sau, những kẻ vui lòng chịu thử thách như vậy, sẽ được sự bằng an và sự công chính làm phần thưởng (Hipri 12: 4-11).
Ngài vào và đi tắt ngang qua Jêricô. Và này, có người tên gọi Giakêu, ông trưởng ty quan thuế, và là người giàu có. Ông tìm cách để coi cho biết Ðức Kitô là ai, nhưng bởi có đám đông nên không thể được, vì ông vóc dáng thì thấp bé. Vậy ông chạy đón đằng trước, trèo lên một cây sung để thấy được Ngài, vì Ngài sắp ngang qua đó. Khi Ngài vừa đến chỗ ấy, Ðức Yêsu ngẩng lên nhìn và nói cùng ông: Giakêu, xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi". Ông vội vàng xuống và mừng rỡ đón tiếp Người. Mọi người thấy vậy thì kêu trách rằng: "Ông ấy vào ngụ nhà một người tội lỗi!" Ðứng lại, Giakêu thưa cùng Chúa: "Này, nửa phần của cải tôi, thưa Ngài, tôi xin bố thí cho kẻ khó, và nếu tôi đã gian lận gì của ai, tôi xin đền lại gấp bốn". Ðức Yêsu nói cùng ông: "Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi chưng người này cũng là con của Abraham, vì Con Người đến để tìm cứu sự hư đi" (Lc. 19: 1-10).
* * *
Cả đám đông tuôn đến, tại sao Ðức Kitô lại để ý có mình Giakêu? Làm gì mà Giakêu phải vất vả tìm Ðức Kitô? Sự kiện hai người muốn gặp nhau có thể gợi ý để ta đặt vấn đề và tìm hiểu về cuộc tìm nhau này.
Con người Giakêu
· Luca nói một điểm quan trọng về thân thế của Giakêu. Ông ta không phải là người đi thu thuế mà là "thủ lãnh" những người thu thuế. Jêricô bấy giờ là hải cảng. Thu thuế ở nơi xuất nhập cảng phồn thịnh phải là một tay có thế lực. Chức vụ lớn này do người Roma bán đấu giá cho những tay có nhiều tiền, trả cao. Kẻ thu thuế phải nộp đủ thuế. Roma cho họ quyền tìm mọi phương tiện, dù là siêu cao thuế nặng trên cuộc sống của dân. Dựa vào quyền của ngoại xâm, lại được tự do đánh thuế, họ có thể làm giầu một cách vô lương tâm. Trước mặt người Do Thái, người ta ghê tởm và miệt thị hạng người thu thuế. Giakêu bị liệt vào "những người tội lỗi, và gái điếm" (Mt. 11:19; 21:31).
· Trong nghề nghiệp đó, bạn bè của ông chắc là những người thu thuế, các sĩ quan Roma. Vậy, tại sao ông lại vất vả chen lấn với đám đông để mong gặp một người tên là Yêsu kẻ hoàn toàn khác địa vị xã hội với ông. Ðộng lực nào thúc đẩy ông đi tìm Ðức Yêsu?
· Người Do Thái thời Chúa Yêsu quan niệm rằng tật nguyền là kết quả của tội lỗi. Thí dụ, kẻ mắc bệnh cùi bị loại xa khỏi cộng đoàn. Ai chạm vào những người này đều ra nhơ bẩn. Chúa Yêsu đã chuyện trò, giao tiếp với họ, nên đã ra nhơ bẩn. Chúa Yêsu đã tiếp xúc với ngay cả những người bị thần ô uế ám. Vậy, tại sao Giakêu lại dám đón Chúa vào nhà mà không sợ gia đình phê bình chỉ trích, không sợ sẽ ra nhơ bẩn khi tiếp xúc với Chúa?
· Thu thuế là người tội lỗi. Kẻ đạo đức không bao giờ chấp nhận ngồi chung bàn. Bị dân chúng thù ghét, điều đó có nghĩa ông có thể bị nguy hiểm đến tính mạng khi đối diện với quần chúng giữa đám đông. Ðiều ấy cho thấy ông đã phải liều, và bỏ ra ngoài mọi phê bình. Ðể gặp Ðức Kitô, người ta phải trả một giá nào đó. Gặp gỡ Ðức Kitô bao giờ cũng là một thách đố. Theo Ngài luôn luôn hàm ý một cuộc thay đổi đi ngược quan niệm đương thời.
· "Này nửa phần của cải tôi, thưa Ngài, tôi xin bố thí cho kẻ khó, và nếu tôi đã gian lận gì của ai, tôi xin đền lại gấp bốn" (19: 8). Trong các sách Lêvi (5: 20-26), Xuất Hành (21: 37), Dân Số (5: 6f.) đều nói đến phải trả lại, đền bù cho người nghèo, người bị thiệt hại một số của cải. Ðó là luật trong Cựu Ước. Khi gặp Chúa, ông trình bày ngay. Việc ông trình bày ngay vấn đề cho thấy ông đã nghiên cứu Kinh Thánh, biết các lề luật đó. Như vậy, có phải hồn ông đã có một thao thức?
· Giakêu đã trình bày lòng sám hối với Chúa Kitô ngay dưới gốc cây chứ không phải ở nhà riêng của ông. Làm vậy, nhiều người nghe thấy. Tại sao không để về nhà, nói chuyện kín đáo, đây đâu có phải là chuyện tốt của đời ông để nói giữa đám đông?
· Phúc Âm kể tiếp: "Ông tìm cách để nhìn xem Chúa Yêsu là người như thế nào, nhưng không thể được vì người ta đông quá" (Lc. 19: 3). Ðám đông đã là nguyên nhân nghẽn trở. Trong cuộc sống Kitô hữu, nhiều bước đời đã chìm vào bóng đêm, lạc lối ánh sáng vì cuộc sống trần tục của đám đông đã cản họ đường về với chính lộ. Ðám đông này đã kết án Chúa khi biết Ngài lưu nghỉ ở nhà của Giakêu. Mọi người kêu trách rằng: "Ông ấy vào ngụ nhờ một người tội lỗi" (Lc. 19: 7). Như thế, đám đông chẳng những cản đường Giakêu gặp Chúa mà còn cản lối Chúa gặp Giakêu. Ðó là sức mạnh của dư luận, của trào lưu.
· Biết mình nhỏ bé không chen vào đám đông được. "Vậy ông chạy đón đằng trước, trèo lên một cây sung để thấy được Ngài, vì biết Ngài sắp đi ngang đó" (Lc. 19: 4). Sự thôi thúc đến từ một ước vọng bao giờ cũng có sáng kiến. Có những sáng kiến nhẹ nhàng, êm ái. Nhưng cũng không thiếu những sáng kiến phải chấp nhận nặng nề đau đớn như sáng kiến yêu bằng tình thập giá.
* * *
Phải chăng trong cuộc sống dư giả vật chất, bận rộn với công việc làm ăn, ông vẫn thấy lòng trĩu nặng ưu tư. Một mảnh đời lẻ loi nào đó vẫn lạc lõng. Rồi trong đêm thinh lặng, lần rở vài trang Cựu Ước, tiếng lòng hồi sinh, gọi ông trả lại của cải thế trần cho trần thế. Trả lại ngay thẳng cho lương tâm. Hồn ông như có một thao thức thầm kín, có băn khoăn và chờ đợi, đã mong. Ðiểm mang nhiều ý nghĩa là cuộc gặp gỡ này xẩy ra ngay trước khi Ðức Kitô vào Jêrusalem. Ngài sắp chết. Ðiều ấy có nghĩa rằng nếu không gặp được lần này, có lẽ Giakêu sẽ chẳng bao giờ gặp được Ðức Kitô nữa. Vì thế, ông nhất định đi tìm Ngài.
Thái độ của Chúa
Vì sự kiện Giakêu gặp Chúa xẩy ra ngay sau khi Chúa chữa người mù, trước khi vào thành Jêrusalem chịu tử nạn. Ðể tìm hiểu con người Ðức Kitô trong thái độ đi tìm nhân loại, mà điển hình là Giakêu, ta hãy liên kết hai câu chuyện trong một cái nhìn so sánh để thấy cả hai khung cảnh đều có những liên quan ý nghĩa mật thiết. Những tương quan giống nhau thật thú vị của những cuộc tìm nhau.
Người mù (Lc. 18: 35-43) …. Giakêu (Lc. 19: 1-10)
Ngài đến gần Yêricô …… Ngài đi tắt ngang Yêricô
Có người mù ăn xin ở vệ đường … Có người thu thuế tên Giakêu
Hắn hỏi xem có chuyện gì thế … Ông tìm cách để biết Ðức Yêsu là ai
Ðám đông quát bảo hắn im đi … Vì đám đông, ông không tới được
Hỡi con vua Ðavit, thương xót tôi … Leo lên một cây chờ Chúa đi qua
Ðức Kitô dừng lại ……… Ðức Kitô nhìn lên
Ngài truyền cho dẫn hắn lại …… Ngài truyền cho ông xuống
Lòng tin của ngươi đã cứu ngươi … Ơn cứu độ đã đến cho nhà này
Hắn thấy được và đi theo Ngài … Nửa phần của cải, tôi xin bố thí cho người nghèo. Nếu tôi gian lận, tôi xin đền gấp bốn.
Người mù gặp Ðức Kitô trước. Tiếp liền là Giakêu. Cả hai trường hợp đều xẩy ra ở cổng thành Yêricô. Nghĩa là Chúa sắp tới Jêrusalem để nhận thánh giá. Hai biến cố đều là những cơ hội sau cùng.
Cả hai trường hợp đều có đám đông. Nhưng đặc biệt, hai người nhận được ơn cứu rỗi là người đến từ đám đông, chứ không thuộc về đám đông.
Trong cái đám đông rừng người ấy, Ðức Kitô như vẫn lạc lõng. Cung đàn chưa bắt được độ rung. Trong cái đám đông rừng người ấy, có hai vì sao lạc: Người mù ngồi bên vệ đường, và kẻ thu thuế náu trên cây.
Cả hai trường hợp, đám đông đều là nguyên nhân cản trở. Người mù bị đám đông quát bảo: Im đi! Giakêu bị đám đông thù ghét.
Cả hai can đảm như nhau, người mù cứ la lên: Hỡi con vua Ðavít, xin thương xót tôi. Còn Giakêu thì liều mạng đi gặp Ngài. Với hai cái liều mạng ấy, xẩy cái liều mạng thứ ba: Liều mạng của Ðức Kitô.
Mọi người kêu trách: "Ông ấy vào ngụ tại nhà một người tội lỗi" (Lc. 19: 7). Một thân phận mù lòa, một kẻ thu thuế, một người bị kết án giao tiếp với hạng tội lỗi. Cả ba tâm hồn, họ bỏ lại đám đông, thản nhiên đi tìm nhau. Ðấy là hình ảnh của Nước Trời. Nước Trời như một cơn bão lốc, xoáy lên, làm ngơ ngác con người vì đi ngược lại dòng đời. Nét đẹp của Ðức Kitô là bất chấp cuộc đời dị nghị. Ngài trung thành với ơn gọi từ thủa ban đầu: "Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và Ta sẽ chăm nom chúng. Như người mục tử chăm nom đàn chiên của mình vào ngày nó ở giữa phiêu bạt thế nào, cũng vậy, Ta sẽ chăm nom chiên Ta. Ta sẽ kéo chúng ra khỏi chỗ chúng tán loạn, và ngày mây mù đen tối" (Ezek. 34: 11-12).
* * *
Lạy Chúa,
Lời nguyện của con hôm nay là xin nhìn rõ cái liều mạng của Chúa dám đi ngược lại lời kết án của đám đông. Ðối với Chúa, không có gì cản được lòng xót thương của Chúa. Chỉ có lòng ước ao gặp Chúa thôi, mà Chúa dám bỏ tất cả để tìm gặp con. Con muốn hiểu lời diễn tả về Chúa trong thư thánh Phaolô gởi cho Timôthê:
"Ðức Kitô đã đến trong thế gian để cứu các kẻ tội lỗi, mà trong số đó, tôi là người thứ nhất" (1 Tim. 1: 15).
"Anh em hãy thu lấy những mẩu bánh thừa, đừng để hư phí" (Yn. 6:12).
Với năm ngàn người ăn, không kể đàn bà và con nít (Mt. 14:21). Vậy số người phải là đông lắm. Rừng người như thế thì phải cả ngàn ổ bánh chiều đó được phát ra. Bánh nhiều như vậy tại sao Chúa lại tiếc những mẩu bánh vụn còn dư? Từ những mẩu bánh thừa mà Chúa quý hóa muốn giữ lại. Từ thái độ Chúa tiếc những miếng bánh dư. Chúng ta hãy đi tìm ý nghĩa những mẩu bánh vụn để suy niệm về thứ bánh vụn thiêng liêng.
1. Nguyên nhân của những mẩu bánh vụn
"Chúa Yêsu gọi các môn đệ đến mà bảo rằng: Ta thương đoàn dân này, vì đã ba ngày họ luôn ở với ta và họ không có gì ăn, Ta không muốn để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ mệt lả dọc đường" (Mt. 15:32). Phép lạ này kéo chú ý đặc biệt của cả bốn thánh sử vì được ghi lại trong cả bốn Phúc Âm (Mt. 14:13-21; Mc. 6:31-44; Lc. 9:10-17; Yn. 6:1-13). Mátthêu và Máccô còn kể thêm Chúa làm phép lạ bánh lần thứ hai nữa (Mt. 15:32-38; Mc. 8:1-10).
Vì "Ta thương đoàn dân này", đó là nguyên nhân của câu chuyện bánh hóa ra nhiều. Tình thương của Chúa đã để đời mình rơi xuống, hạt lúa mạch rữa ra và lên bông, rồi cho thành thỏi bột. Vì "Ta không muốn để họ đói", trái tim thương xót của Chúa như một bó đuốc đốt lên trong đêm mù đặc đói khổ để ta thấy mầu vàng thơm ngát của mùi bánh. Vì "Ta sợ rằng họ lả dọc đường", lòng trắc ẩn của Chúa là lò lửa rực than hồng đẩy những thỏi bột chết im nở thành sự sống, rải xuống để ta đi trọn đường trần.
2. Tập nhìn ra những mẩu bánh vụn
Gọi là bánh vụn vì nó nhỏ. Bánh vụn là những miếng bánh bị bẻ ra rồi nên người ta không muốn. Vì không muốn nên thân phận những miếng bánh vụn thường là hẩm hiu. Vì nhỏ, vì vụn, vì bị coi thường nên người ta không nhìn ra những miếng bánh đó trong cuộc đời.
Nếu không có những cây cành nhỏ thì chẳng thể có rừng già. Sa mạc chỉ là nhìn những hạt cát rời trong cái nhìn chung những hạt cát. Nhìn toàn thể thì dễ hơn nhìn những phần tử trong toàn thể. Ði tìm những cái vụn, những cái bé đòi một nghệ thuật trầm lặng sâu sắc, một suy tư không thể lười biếng dễ dãi. Người ta không thể thưởng lãm được vẻ đẹp của bức tranh khi chối từ ý nghĩa của những mảng mầu lất phất một vài nét, nó nhỏ, có khi nhỏ lắm.
Bạn ước mơ một cuộc hành hương vượt núi qua đồi, đó là chiếc bánh rực vàng thơm ngát bạn mong. Nhưng làm sao cuộc hành hương chín lên màu vàng nếu đôi chân bạn đang mang thương tích. Ấy thế mà, bạn chẳng mấy khi hài lòng trong cuộc đời vì bạn đang có đôi chân mạnh khoẻ. Bạn coi đó chỉ là mẩu bánh vụn tầm thường.
Hạt sương se tròn trên nhánh lúa non. Cánh bướm dập dờn bình an. Tiếng ve sầu dệt lụa trên những tàng me đang lưa thưa buông lá thả xuống trưa hè. Bạn coi đó là những mẩu bánh vụn không muốn nhặt. Một ngày nào đó trong bốn bức tường trắng toát của bệnh viện, rồi bạn thèm một sợi nắng của tháng hạ rơi qua những chùm hoa phượng, bạn nghĩ đến thơ thẩn dưới hàng dừa, bạn muốn thả chân bên cầu ao gỗ, bạn ước ao ném một nắm cơm cho bầy vịt tranh nhau ăn. Khi mất rồi, bạn mới thấy những mẩu bánh bị coi thường rẻ rúng có hương thơm ngọt ngào. Vậy bao giờ bạn mới chấp nhận một sợi nắng, một bóng dừa, một cầu ao gỗ không phải là những mẩu bánh vụn vô ích. Từ sáng tới tối có biết bao hạnh phúc nhỏ chung quanh mà bạn không nhìn ra nên bạn coi thường. Và có khi vì coi thường nên không nhìn ra.
Có người lữ khách tò mò, muốn đến xem một vườn hoa rất lạ. Ðược tin ấy, người làm vườn nhà quê vội chặt hết vườn hoa. Khi tới, lữ khách ngỡ ngàng vì chẳng còn gì ngoài một cành hoa duy nhất. Người làm vườn trả lời cho người lữ khách ngàn dặm rằng nếu ông không chặt hết vườn hoa thì lữ khách chỉ thấy vườn hoa chứ chưa chắc đã thấy hoa.
Nhiều khi chúng ta ngang qua cánh đồng hoa mà chỉ thấy một cánh đồng màu sắc chứ không thấy hoa. Ði tìm cành hoa sót lại, chúng ta sẽ biết hoa như thế nào.
3. Không phải là bánh vụn
Chúng ta thấy Chúa quý những mẩu bánh vụn vì nó là phép lạ của Chúa. Nói cách khác, nó là ơn sủng, là sự cứu độ đến từ lòng xót thương, là tình yêu của Chúa. Ơn sủng, lòng thương xót, tình yêu là lửa. Giá trị của nó hệ tại phẩm chất hơn là số lượng. Lửa giả không đốt cháy. Lửa thật thì chỉ một ngọn đuốc cũng có thể biến thành rừng lửa bừng bừng trên đầu núi. Những vụn lửa nhỏ là những vì sao trời lấp lánh. Nhiều khi ta cần những vụn sao nhỏ hơn là mặt trời gay gắt. Cũng có khi những vì sao nhỏ không phải là những vụn lửa nhỏ mà chỉ vì ta không thể tới gần. Nó nhỏ vì nó ở xa.
Chính các môn đệ cũng nói với Thày: "Chúng tôi chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá thôi" (Mt. 14:17). Nhưng trong số nhỏ bé khiêm tốn ấy đã ngầm chứa hàng ngàn ổ bánh khác. Họ không nhìn thấy chỉ vì họ còn ở quá xa lộ trình hiểu biết Thày.
Có khi một lời trăn trối mà cho nhau cả một lý tưởng. Có khi chỉ là dòng nước mắt tha thứ mà nâng nhau dậy khỏi vực sâu hun hút thất vọng. Nó là những mẩu vụn hôm nay, nhưng là sức sống mãnh liệt ngày mai. Khi những cành cây bị chặt ra, trồng xuống, nó là mẩu vụn bây giờ nhưng là cánh rừng của thời gian đang tới. Trong ơn sủng của Chúa, không có gì là những mẩu vụn bé nhỏ tầm thường. Tình yêu và ơn sủng là ngọn pháo bông. Khi nó tung vỡ thành trăm ngàn vụn nhỏ nó càng rực rỡ huy hoàng. Những ơn sủng hàng ngày, ở đây, ở kia, có thể là một ngày khoẻ mạnh, có thể là mâm cơm chiều có mặt cha mẹ con cái, đấy là những đốm lửa của ngọn pháo bông. Nó không bé nhỏ dư thừa. Vụn bánh không có nghĩa là bánh vụn, vì nó chứa một giá trị lớn lao trong dáng điệu nhỏ bé ấy.
Khi tấm bánh bị bẻ ra trên bàn thờ nó trở thành nhỏ bé mỏng manh, nhưng không có nghĩa tấm bánh mất đi quyền năng và ơn thánh. Nó nhỏ vì đức tin của tôi quá xa, lòng cảm nghiệm của tôi quá chật.
Khi hiến lễ đền tội cho nhân loại của Ðức Kitô trên Núi Sọ tan ra, vóc dáng Người sụp xuống, tấm bánh hy tế ấy nhỏ lại trong dáng nhỏ nhưng như nắng vỡ, lan ra, chảy trùm kín vũ trụ.
4. Hạnh phúc
Có người tự chọn suốt đời là khắc khoải khổ đau vì đi tìm những hạnh phúc lớn. Có tâm hồn đau khổ không làm gì được họ vì họ cứ đi nhặt những hạnh phúc nhỏ. Họ đi nhặt những hạnh phúc nhỏ để trải xuống thành hạnh phúc không lớn nhưng thật dài, dài trọn cuộc đời, và đời họ là hạnh phúc.
Phúc Âm thánh Yoan, phần phụ chương, chương 21:
Sau đó, Ðức Yêsu lại tỏ mình ra lần nữa cho môn đệ ở ven biển Tibêria. Ngài tỏ mình ra như thế này: Tề tựu với nhau có Simon Phêrô và Tôma, nghĩa là sinh đôi, Nathanael người Cana xứ Galilê, các con ông Zêbêđê, và hai môn đệ khác nữa, Simon Phêrô nói với họ: "Tôi đi đánh cá đây". Họ nói với ông: "Chúng tôi cũng đi với ông". Họ ra đi, lên một chiếc thuyền; nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả (Jn. 21:2-3).
* * *
Cuộc đời Phêrô có nhiều sôi nổi. Gồm lại những sôi nổi, ta có thể chia đời của ông làm hai: Cuộc đời phần một, từ khi theo Thầy ở biển hồ Galilê đến lúc chối Thầy. Phần hai, từ khi theo Thầy ở biển hồ Tibêria cho đến cuối đời chết ở Roma.
Tôi chọn những lời Phúc Âm trên đây để vẽ căn cước cho ông vì trong cuộc đời phần một của ông, ông đi từ lỗi lầm này qua lỗi lầm khác. Cuối đời của Chúa, Chúa đã bị ông chối từ thê thảm (Mc. 14:66-72). Nhưng phần thứ hai trong đời ông là một thiên anh hùng ca. Thiên anh hùng ca được mở đầu bằng những lời chứng của Yoan trên đây. Lời chứng nói về một đêm đen mờ mịt của biển hồ Tibêria, rồi đưa đời ông từ đêm đen mờ mịt ấy về một cõi trời phiêu bạt mịt mùng sương gió cho Nước Trời.
* * *
Trên biển hồ Tibêria, thẻ căn cước của ông được viết bằng một hàng chữ ngắn: Tôi đi đánh cá. Ông mở đầu cuộc đời anh hùng ca của ông bằng mấy chữ ấy. Với thẻ căn cước đó ông vẽ chân dung của ông bằng những mảng màu độc đáo. Ðời ông ra sao về sau này, tuỳ thuộc ở tấm căn cước mà ông xác định trên biển hồ hôm nay: Tôi đi đánh cá. Vậy chúng ta hãy "xét" căn cước của ông để tìm một chút thành tố căn bản cho thiên anh hùng ca đời ông.
Chấp nhận cô đơn sương gió
Trên biển hồ hôm đó, ta thấy Yoan kể về một nhóm bạn hữu. Ðếm ra ít nhất cũng bẩy người, nếu tính cả Phêrô, biết đâu còn nhiều hơn. Thầy của họ vừa mới chết. Cái tang chế u buồn như còn chít vòng khăn sô trong tim họ. Mất Thầy rồi, giờ này biết đi đâu? tương lai chúng ta ra sao? Chắc chắn họ vọng về những ngày quá khứ đi đâu cũng có Thầy với nỗi sầu muộn u hoài. Chắc chắn họ nhìn về tương lai với nỗi lo băn khoăn. Bởi đó, họ cần nhau. Ði đâu họ cũng muốn có nhau. Cho nên cái thường tình, họ ngồi chụm với nhau một đám đông là thế.
Trời xuống đêm nặng nề. Ngoài kia biển cứ mênh mông vô tâm. Họ hỏi nhau. Chúng ta sẽ đi về đâu? Chúng ta phải làm gì? Những câu hỏi ngắn thôi mà câu trả lời sao mịt mờ quá. Trong cái bơ vơ mệt mỏi để tìm một định hướng, Phêrô lên tiếng: Tôi đi đánh cá.
Ông dại dột quá, tại sao ông không nói: Chúng ta hãy đi đánh cá. Ông lỡ lời mất rồi. Ông chỉ nói: Tôi đi đánh cá. Nếu không ai đi với ông thì sao? Khi ông nói, Tôi đi đánh cá, mà không ai đi với ông thì ông phải đi một mình. Chúng ta hãy nhìn mảng màu mà ông tự vẽ cho ông. Ông đã nhìn thấy một đêm đen mờ mịt, ngoài kia gió lạnh buông theo sương. Mênh mông một mái chèo. Lặng lẽ trong khuya khoắt một nhịp sóng cô độc, lẻ loi. Nếu không ai đi, một mình một mái chèo, một mình một biển rộng hoang vu, một mình một bão tố thăm thẳm. Nếu không ai đi, gió đưa về từng con sóng bung vạt áo, một tay đỡ nhịp, một tay chống. Chắc chắn ông đã nhìn thấy ra khơi trong đêm nay là thế. Nhưng tiếng lòng của ông là căn cước của riêng ông. Nếu không ai đi ông vẫn ra đi một mình.
Từ nay, bước đường căn cước ơn gọi làm Kitô hữu của tôi là thế. Là ngược gió mà đi, là ngược theo dòng đời mà tới. Tôi chọn hàng chữ Phêrô viết trên tấm căn cước của ông: Tôi đi đánh cá. Vì tôi thấy ông có một lựa chọn dứt khoát cho một ơn gọi. Không có ai đi, tôi vẫn đi. Trên cuộc đời, có người đi ngược, có kẻ về xuôi. Nhưng đâu là con đường của tôi. Phêrô, ông đã không để đời ông nhiễm lạnh vì cái ấm cúng của một đám đông. Ông không để đời ông sợ hãi vì không có kẻ đồng hành mà ngần ngại với ơn gọi. Tôi đang nhìn thấy một Phêrô khác cũng đang vẽ căn cước cho đời mình bằng thiên anh hùng ca của biển hồ Tiberia năm xưa, đó là Yoan-Phaolô II. Người ta chống đối Giáo Hội, vì Ngài dám nói thẳng về những tệ trạng thiếu luân lý, công bình của xã hội hôm nay.
Trong ơn gọi làm Kitô hữu của mình, tôi cần viết một hàng chữ cho căn cước của tôi.
Ðặc tính của lửa
Khi Phêrô nói: Tôi đi đánh cá. Các ông khác cùng nói: Chúng tôi cũng đi với ông. Chúng ta giả sử đêm ấy Phêrô không ra khơi, chắc hẳn chẳng có ai muốn xuống thuyền. Nhưng giờ đây, ta hãy nhìn những mảng màu táo bạo Phêrô đổ xuống biển hồ. Trong cái đêm đen mênh mông ấy, khi mà thế giới say ngủ, nhóm chài lưới bẩy người ra khơi. Họ tiến vào mù mịt gió sương, họ đập chèo vào mặt sóng không sợ hãi, họ dứt khoát đi thẳng vào mịt mùng nước mênh mông. Ðẹp làm sao trong cái u hoài sầu muộn, giờ đây bừng bừng lửa, đốt thành bẩy ngọn hải đăng thiêng liêng. Mỗi con sóng đập là toé lên từng mảng mầu dũng cảm long lanh. Mỗi ào ào gió tạt là vung tay gạt thách đố. Tôi có thể nhìn thấy Phêrô đứng ở mũi thuyền, mỗi lần sóng trào lên, mắt ông ngời sáng nhìn về phía trước. Tóc ông rối bay ẩm ướt gió sương. Không phải biển hồ đe dọa nuốt ông, mà là ông đe dọa sẽ nuốt cả biển hồ.
Lửa. Một lần Ðức Kitô đã nói: "Ta đã đem lửa xuống thế gian và ta muốn lửa ấy cháy lên" (Lc. 12:49). Ðặc tính của lửa là đốt cháy. Cái mệnh đề: "Tôi đi đánh cá" của Phêrô dẫn đến mệnh đề thứ hai: "Chúng tôi cùng đi với ông". Họ đã bị Phêrô đốt cháy.
* * *
Lạy Chúa,
Cuộc đời con có nhiều khúc đường mà kẻ đi xuôi, người về ngược, kẻ bảo dừng, người phân vân. Trong cái hoang mang đó con rất dễ đánh mất căn cước ơn gọi của con. "Xét" căn cước của Phêrô, con thấy đời ông có một lý tưởng. Thiên anh hùng ca đời ông đã bắt đầu bằng thái độ dứt khoát đó. "Xét" căn cước của Phêrô, con thấy ông đã đốt cháy đời kẻ khác chung quanh ông. Dựa vào căn cước của ông con cần xét căn cước của mình:
- Trong cuộc sống, nếu con không dám trung thành với giáo huấn của Giáo Hội, nếu con tự nhủ lối sống dễ dãi của con chẳng có gì phàn nàn vì tất cả kẻ khác cũng sống như vậy. Ðấy là dấu chỉ con bỏ căn cước ơn gọi Kitô hữu của con, con đang cầm căn cước của người khác rồi.
- Lý tưởng của Phêrô đã làm thay đổi ngoại cảnh chung quanh ông. Chỉ có lửa giả mới không đốt cháy. Nếu trong bổn phận Chúa trao cho con, mà chung quanh con mọi thứ đều tà tà, chẳng có gì thay đổi, đấy là dấu hiệu con phải "xét" kỹ lại căn cước thiêng liêng của mình.
Người ta có thể thiếu nhiều thứ, nhưng không nhà nào có thể thiếu thùng rác. Nó chẳng có gì đẹp, nhưng lại cần thiết biết bao!
Rác càng nhiều càng cần thùng rác. Rác càng dơ càng cần thùng rác tốt. Chỗ nào cũng có rác. Nơi nào thiếu thùng rác, nơi đó dơ. Một ngày không có thùng rác, nhà bếp của tôi sẽ ra sao. Rác gây mùi tanh tưởi, rác đem ruồi nhặng bu tới, rác sinh dòi bọ, rác đưa bệnh tật về. Rác làm dơ bẩn cuộc đời.
Lời nguyện linh mục
Có nhiều hình ảnh nói về thiên chức linh mục. Nhưng nếu gọi Chúa là Ðấng gánh tội trần gian thì hình ảnh thùng rác cũng là một hình ảnh có thể diễn tả thiên chức linh mục của Chúa. Tội lỗi là rác rưởi. Mà linh mục, nơi tòa giải tội, con nhận biết bao nhiêu thứ rác.
Lạy Chúa, nhà ai cũng cần thùng rác, thế hệ nào cũng vậy, nhưng không có ai đặt thùng rác ở chỗ trang trọng. Người ta dấu kín nó. Nó phải lặng lẽ chiếm một vị trí khiêm tốn trong căn phòng. Cái ẩn dật của nó không làm nó mất giá trị, trái lại nó càng dễ giấu kín bao nhiêu thì nó lại càng là thùng rác có giá trị bấy nhiêu. Nếu ngày nào dựa nào sự cần thiết của mình để đòi hỏi một chỗ đứng trang trọng thì nó trở thành một thứ rác làm dơ căn phòng. Nó phải biết vị trí của mình.
* * *
Giá trị của thùng rác là có thể chứa được rác. Ngày nào thùng rác hư thì người ta sẽ sa thải nó như một thứ rác. Chúa đã căn dặn con: "Nếu muối ra lạt thì lấy gì ướp nó mặn lại? Không còn ích gì, chỉ còn đổ ra ngoài cho người ta dẵm đạp mà thôi" (Mc. 5: 13). Ðôi khi nghĩ đến điều ấy mà con ngại ngùng.
* * *
Cái siêu bạo của thùng rác là chứa rác nhưng không để đời mình thành rác. Ðiều ấy khó lắm Chúa ạ. Ngày ngày người ta thẩy biết bao nhiêu thứ rác vào, nó phải ôm chịu, nhưng không được phép để cho đời mình lây rác. Nơi tòa giải tội, hàng ngày, hàng chiều con nhận biết bao nhiêu thứ rác của cuộc sống. Có những hoàn cảnh đáng thương làm con cũng muốn oán than cuộc đời. Có những chiến đấu mệt mỏi làm con như cũng mệt mỏi lây. Chúa bảo con tiếp tục làm thùng rác nhưng lại nghiêm trị cảnh giác con không được để mình bén rác.
* * *
Con đã thấy những thùng rác bỏ ngang đời mình, có thể vì chính họ tự ý, hoặc có thể vì đã bị cuộc đời chối bỏ. Những thùng rác không còn chứa rác được nữa thì sẽ bị loại đi như những cành cây khô gẫy. Làm sao sống với rác mà không để nhiễm lạnh của rác. Ðiều ấy, con phải cẩn thận biết bao nhiêu.
* * *
Lạy Chúa, vì tiếp cận với rác nên thùng rác cần được thanh tẩy. Nó chỉ là nơi nhận rác thôi chứ không thể giữ rác. Nếu nó không được thanh tẩy, dần dà rác sẽ biến nó thành rác. Có những thứ rác sẽ bám vào thùng rác, sẽ giữ con lại cũng như những liên hệ trong cuộc sống của con. Trong những rác rưởi ấy biết đâu chẳng có những đồng tiền han rỉ mà con ham thích, biết đâu chẳng có những liên hệ tình cảm mà con thầm mong. Thùng rác, nó cần người đổ rác biết bao. Con cần tâm sự với Chúa. Con phải đem trút đổ vào Chúa mỗi khi chiều về hoàng hôn tắt nắng. Khi cửa nhà thờ khép lại, không gian chìm vào yên tĩnh cô mặc là lúc con phải tâm sự nhiều hơn với Chúa.
Người đổ rác thường đi vào những giờ còn vắng vẻ. Xin cho con biết yêu mến sự thinh lặng. Có khi tối trời còn ngái ngủ, có khi đêm về muộn không muốn thức là lúc người đổ rác trút bỏ rác nặng cả một ngày. Con cần những giây phút tĩnh mịch hồi tâm với Chúa. Ngoài sự thinh lặng con khó mà gặp được Chúa, nhất là trong xã hội hôm nay với bao nhiêu tiếng gọi ồn ào, những tiếng gọi như bao trùm nhiều vẻ đẹp, nào là văn hóa, nào là chính trị, nào là nghệ thuật, nào là cứu trợ, nào là hòa bình....
* * *
Người ta quý những thùng rác tốt vì người ta cần nó. Khi người ta khó chịu là dấu chỉ thùng rác đã không trút đổ hết rác. Những dấu chỉ ấy con phải tinh tế để nhận ra. Con cần tâm sự với Chúa biết bao, xin chỉ bảo con.
* * *
Con xin Chúa băng bó những vết thương của con như người hốt rác chữa lành những sứt mẻ của thùng rác. Những giờ chầu bên Mình Thánh Chúa, những lúc tối trời bên Nhà Tạm yên tịnh của Cha là lúc Cha muốn gặp con.
* * *
Thùng rác cần người đổ rác thì người đổ rác cũng cần thùng rác lắm chứ. Con cứ nghĩ nếu không có thùng rác thì người đổ rác vất vả lắm. Ðiều đó cũng có nghĩa là người đổ rác sẽ gìn giữ thùng rác lành lặn, săn sóc nó. Con tin rằng Chúa thương con, thương những cuộc đời linh mục, vì là kẻ đồng hành với Chúa mà. Chẳng thế sao Chúa đã gọi con: "Hãy theo Ta" (Mc. 1: 17). Mỗi sáng người đổ rác tới thăm, nhìn xem thùng rác còn lành lặn không, đấy là niềm an ủi của con.
Nếu có những rác độc làm con sây sứt, xin Chúa chữa lành con. Cứ nghĩ đến mảnh đời hiu quạnh khi thùng rác không còn dùng vào việc gì được nữa, khi rác đã biến nó thành rác rồi người ta liệng đi, con thấy chua xót.
* * *
Thánh Phaolô đã có những băn khoăn về yếu đuối của mình, con cũng muốn lấy lời cầu nguyện của Ngài làm của con: "Ðã ba lần tôi nài xin Chúa cất đi. Nhưng Chúa đã Phán bảo tôi: Ơn của Ta đủ cho ngươi. Vì chưng quyền năng chỉ biểu hiện trong yếu đuối" (2 Cor. 12: 8-9). Dựa vào lòng thương xót của Chúa mà con chấp nhận ơn gọi. Trong âu lo con phó thác đời con, vì con biết Cha thương con.
* * *
Những hình ảnh đẹp vẽ về một chân trời, những lời ca viết về một chuyện tình sử, những lời thơ dệt một mơ ước, con không thấy hình ảnh nào đẹp như thùng rác. Ðẹp, vì ở nơi nó, tầm thường mà dũng cảm. An ủi làm sao khi người đổ rác cúi xuống nói với thùng rác: "Ta không chọn những con đường đẹp, Ta sẽ làm đẹp tất cả nơi nào Ta đi tới." Chúa cũng muốn con đừng tìm kiếm để đi trên những quãng đời có cỏ hoa nhưng làm nở hoa bất cứ nơi nào con đi tới.
Con có một mơ ước, lạy Chúa, con xin gởi ước mơ là linh mục đời đời đó nơi Chúa, hãy dìu con. Amen.