Kỷ Trias là một kỷ và hệ thống địa chất kéo dài 50,5 triệu năm từ khi kết thúc Kỷ Permi cách đây 251,902 triệu năm (Mya), đến khi bắt đầu Kỷ Jura. Kỷ Trias là kỷ đầu tiên và ngắn nhất của Kỷ Mesozoi và là kỷ thứ bảy của Liên đại Hiển sinh. Cả sự bắt đầu và kết thúc của kỷ này đều được đánh dấu bằng các sự kiện tuyệt chủng lớn. Kỷ Trias được chia thành ba kỷ: Trias sớm, Trias giữa và Trias muộn.
Kỷ Trias bắt đầu sau sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi–Trias, khiến cho sinh quyển của Trái Đất trở nên nghèo nàn; Phải đến giữa kỷ Trias, sự sống mới phục hồi được sự đa dạng như trước. Có thể phân biệt ba loại sinh vật trong hồ sơ kỷ Trias: những sinh vật sống sót sau sự kiện tuyệt chủng, những nhóm mới phát triển mạnh mẽ trong thời gian ngắn và những nhóm mới khác tiếp tục thống trị Kỷ Trung sinh.
Bò sát, đặc biệt là thằn lằn chúa, là động vật có xương sống trên cạn chính vào thời điểm này. Một nhóm chuyên biệt của archosaur, được gọi là dinosaurs, lần đầu tiên xuất hiện vào cuối kỷ Trias nhưng không trở nên thống trị cho đến thời kỳ Jura tiếp theo. Archosaur trở nên thống trị trong thời kỳ này chủ yếu là pseudosuchian, họ hàng và tổ tiên của cá sấu hiện đại, trong khi một số archosaur chuyên về bay, lần đầu tiên trong số các loài động vật có xương sống, trở thành pterosaur. Therapsids, loài động vật có xương sống chiếm ưu thế của kỷ Permi trước đó, đã chứng kiến sự gia tăng đột biến trong quá trình đa dạng hóa vào kỷ Trias, với các loài Dicynodont và Cynodont nhanh chóng trở nên chiếm ưu thế, nhưng chúng suy giảm trong suốt thời kỳ này và phần lớn đã tuyệt chủng vào cuối kỷ. Tuy nhiên, nhóm động vật có vú đầu tiên (mammaliamorph), bản thân chúng là một phân nhóm chuyên biệt của động vật răng chó, đã xuất hiện trong kỷ Trias và sống sót sau sự kiện tuyệt chủng, cho phép chúng phát triển trong kỷ Jura. Động vật lưỡng cư chủ yếu được đại diện bởi temnospondyls, loài săn mồi khổng lồ dưới nước đã sống sót sau sự kiện tuyệt chủng cuối kỷ Permi và chứng kiến sự bùng nổ đa dạng hóa mới vào kỷ Trias, trước khi tuyệt chủng vào cuối kỷ này; Tuy nhiên, các loài lưỡng cư thân gỗ nhóm tán đầu tiên (bao gồm ếch nhóm thân cây, kỳ nhông và lưỡng cư không chân) cũng trở nên phổ biến hơn trong kỷ Trias và sống sót sau sự kiện tuyệt chủng. Các loài cá neopterygian sớm nhất được biết đến, bao gồm cả cá xương và cá xương lưng, xuất hiện vào đầu kỷ Trias và nhanh chóng đa dạng hóa để trở thành một trong những nhóm cá chiếm ưu thế ở cả môi trường nước ngọt và nước biển.
Siêu lục địa rộng lớn Pangaea thống trị toàn cầu trong kỷ Trias, nhưng vào kỷ Trias muộn nhất (kỷ Rhaetia) và đầu kỷ Jura, nó bắt đầu dần tách ra thành hai khối đất liền riêng biệt: Laurasia ở phía bắc và Gondwana ở phía nam. Khí hậu toàn cầu trong kỷ Trias chủ yếu là nóng và khô, với các sa mạc trải dài khắp bên trong Pangaea. Tuy nhiên, khí hậu thay đổi và trở nên ẩm ướt hơn khi Pangaea bắt đầu trôi dạt ra xa nhau. Sự kết thúc của kỷ này được đánh dấu bằng một cuộc tuyệt chủng hàng loạt lớn khác, sự kiện tuyệt chủng kỷ Trias-Jura, đã xóa sổ nhiều nhóm, bao gồm hầu hết các loài pseudosuchia, và cho phép khủng long thống trị trong kỷ Jura.
CỔ ĐỊA LÍ HỌC
Trong kỷ Trias, gần như toàn bộ phần đất liền của Trái Đất đã hội tụ thành một siêu lục địa duy nhất có trung tâm ở gần khu vực xích đạo, gọi là Pangea ("tất cả các khối đất"). Nó có dạng của một "Pac-Man" khổng lồ với "miệng" quay về phía đông, tạo thành biển Tethys, một vịnh biển rộng mênh mông được mở rộng về phía tây vào giữa kỷ Trias, do sự co rút lại của đại dương Paleo-Tethys, một đại dương đã tồn tại trong Đại Cổ Sinh. Phần còn lại là một đại dương được biết dưới tên gọi Panthalassa ("tất cả biển"). Tất cả các trầm tích sâu dưới đáy biển đã trầm lắng xuống trong kỷ Trias đã biến mất do sự sụt xuống của các địa tầng đại dương; vì thế, người ta biết rất ít về sự sống trong các đại dương thuộc kỷ Trias.
Siêu lục địa Pangaea bị rạn nứt trong kỷ Trias, đặc biệt là vào cuối kỷ, nhưng vẫn chưa bị tách ra; các trầm tích biển đầu tiên trong vết nứt sớm nhất, là vết nứt đã chia tách New Jersey ra khỏi Maroc ngày nay, có nguồn gốc vào cuối kỷ Trias. Do đường bờ biển hữu hạn của một khối siêu lục địa duy nhất nên các trầm tích đại dương kỷ Trias là tương đối khan hiếm, ngoại trừ sự đa dạng tại Tây Âu, là nơi mà người ta nghiên cứu kỷ Trias lần đầu tiên. Chẳng hạn, tại Bắc Mỹ, các trầm tích đại dương chỉ có một số ít tại miền tây. Vì thế địa tầng học kỷ Trias chủ yếu dựa trên các sinh vật sống trong các phá và các môi trường siêu mặn, chẳng hạn các loài giáp xácEstheria.
KHÍ HẬU
Khí hậu đầu kỷ Trias nói chung là khô và nóng, tạo ra các tầng đá đỏ điển hình gồm sa thạch và evaporit. Không có chứng cứ cho thấy có sự tồn tại của sông băng tại hay gần các cực; trên thực tế, các khu vực miền địa cực dường như là ẩm ướt và mát mẻ, một khí hậu thích hợp cho các sinh vật dạng bò sát. Kích thước lớn của Pangea đã hạn chế hiệu ứng làm dịu của đại dương; khí hậu lục địa của nó có tính phân chia theo mùa rõ ràng, với mùa hè rất nóng và mùa đông lạnh giá (Stanley, 452-3). Rất có thể là nó có gió mùa mạnh và xuyên qua xích đạo (Stanley, 452-3).
CÁC ĐA DẠNG SINH HỌC
Trong kỷ Trias, ba loại hình chính của sinh vật có thể được phân chia như sau: những sinh vật còn sót lại từ sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-Trias, một vài nhóm mới đã phát triển nhanh chóng nhưng ngắn ngủi và các nhóm mới đã thống lĩnh thế giới trong đại Trung sinh.
Động vật biển
Trong các môi trường đại dương thì các kiểu san hô mới và hiện đại đã xuất hiện vào thời kỳ Trias sớm, tạo thành các mảng đá ngầm có kích thước khiêm tốn hơn so với các hệ thống san hô lớn của kỷ Devon hay của đá ngầm ngày nay. Các động vật chân đầu (lớp Cephalopoda) có vỏ, gọi chung là con cúc (phân lớp Ammonoidea) đã phục hồi, đa dạng hóa từ một nhánh duy nhất còn sống sót sau sự kiện tuyệt chủng cuối kỷ Permi. Các loài cá khá đồng nhất, phản ánh một thực tế là còn rất ít các họ cá sống sót sau sự kiện tuyệt chủng này. Khi đó cũng tồn tại nhiều dạng bò sát sinh sống trong các đại dương. Chúng bao gồm các nhóm thằn lằn chân chèo (siêu bộ Sauropterygia), bao gồm các phân bộ Pachypleurosauria và Nothosauria (cả hai nhóm này đều phổ biến ở thời Trung Trias, đặc biệt là trong khu vực biển Tethys), các loài bò sát thuộc các bộ Placodontia và Plesiosauria đầu tiên; các loài bò sát giống như lươn thuộc bộ Thalattosauria (chi Askeptosaurus); và thằn lằn cá (bộ Ichthyosauria) khá thành công, đã xuất hiện trong các vùng biển thời Trias sớm và đa dạng hóa khá sớm, một số cuối cùng đã phát triển với kích thước khổng lồ vào cuối kỷ Trias.
Thực vật trên cạn
Trên đất liền, những loại thực vật còn sống sót là ngành Lycopodiophyta (thạch tùng, thông đất), thống lĩnh là tuế (ngành Cycadophyta), ngành Ginkgophyta (đại diện ngày nay là bạch quả (Ginkgo biloba)) và dương xỉ có hạt. Thực vật có hạt thống lĩnh mặt đất. Ở bán cầu bắc, các loài thông là chủ yếu. Glossopteris (dương xỉ có hạt) đã thống trị bán cầu nam vào đầu kỷ Trias.
Động vật trên cạn
Động vật lưỡng cư bộ Temnospondyli thuộc nhóm các sinh vật sống sót sau sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-Trias, một số nòi giống (ví dụ cận bộ Trematosauria) đã thịnh vượng trong một thời gian ngắn thời Trias sớm, trong khi các nhóm khác (ví dụ siêu họ Capitosauroidea) vẫn duy trì được thành công trong toàn kỷ, hoặc chỉ phát triển mạnh vào thời Trias muộn(ví dụ các siêu họ Plagiosauroidea, Metoposauroidea). Đối với các nhóm lưỡng cư khác, các loài thuộc phân lớp Lissamphibia đầu tiên được biết đến từ thời Trias sớm, nhưng nhóm này về tổng thể chưa phổ biến cho tới tận kỷ Jura, khi các lưỡng cư Temnospondyli đã trở nên rất hiếm.
Các loài bò sát trông tựa như cá sấu thuộc cận lớp Archosauromorpha – đặc biệt là nhóm Archosauria – đã thay thế mạnh mẽ cho các loài bò sát giống thú thuộc lớp Cung thú (Synapsida) đã thống trị trong kỷ Permi. Mặc dù bò sát răng chó (chi Cynognathus) đã từng là động vật ăn thịt hàng đầu vào thời kỳ đầu kỷ Trias (Olenekia và Anisia) tại Gondwana, và cả các loài bò sát hai răng chó (họ Kannemeyeriidae thuộc cận bộ Dicynodontia) lẫn bò sát một răng chó (gomphodont thuộc cận bộ Cynodontia) vẫn là các động vật ăn cỏ quan trọng trong phần lớn thời gian của kỷ này, nhưng vào cuối kỷ Trias thì các bò sát giống thú này chỉ đóng vai trò không đáng kể. Trong khoảng thời kỳ Carnia (phần đầu của Trias muộn), một số Cynodontia còn ưu thế đã tiến hóa thành các động vật có vú đầu tiên. Cùng thời gian đó thì các bò sát cổ chim (nhóm Ornithodira), cho đến lúc đó vẫn còn ít và không có ảnh hưởng đáng kể, đã tiến hóa thành thằn lằn có cánh (bộ Pterosauria) và các chủng loại khủng long (siêu bộ Dinosauria). Bò sát mắt cá chân chéo (nhóm Crurotarsi) là một nhánh quan trọng khác của Archosauria, và trong thời kỳ Trias muộn chúng cũng đạt tới đỉnh cao của sự đa dạng, với các nhóm khác biệt, bao gồm các bộ Phytosauria, Aetosauria, một vài nòi giống riêng biệt của bộ Rauisuchia, và các bò sát dạng cá sấu (bộ Crocodylia) đầu tiên (nhánh Sphenosuchia). Trong lúc ấy thì các loài bò sát hai cung (bộ Rhynchosauria) ăn cỏ to lớn và các loài bò sát thuộc bộ Prolacertiformes ăn côn trùng hay ăn cá có kích thước từ nhỏ đến trung bình đã là các nhóm bò sát Archosauromorpha cơ sở quan trọng trong phần lớn kỷ Trias.
Trong số các bò sát khác, các loài rùa biển sớm nhất thuộc siêu họ Chelonioidae, như các chi Proganochelys và Proterochersis, đã xuất hiện trong thời kỳ Noria (thời kỳ giữa của Trias muộn). Bò sát thuộc cận lớp Lepidosauromorpha - đặc biệt là bộ Sphenodontia, lần đầu tiên được biết tới trong các mẫu hóa thạch có niên đại sớm hơn một chút (trong thời kỳ Carnia). Procolophonidae là một nhóm quan trọng các động vật ăn cỏ kích thước nhỏ giống như thằn lằn.
Nhóm Archosauria ban đầu hiếm hơn so với các Therapsida vốn đã thống trị hệ sinh thái kỷ Permi trên mặt đất, nhưng nhóm này bắt đầu lấn át therapsida vào giữa kỷ. Điều này có thể đã đóng góp cho quá trình tiến hóa của động vật có vú bằng cách buộc các therapsida còn sống sót và các nhóm dạng thú có vú của nó phải thu nhỏ kích thước, chủ yếu ăn côn trùng và sống về đêm. Cuộc sống vào ban đêm có thể đã khiến các dạng thú có vú phải phát triển lông và có cường độ trao đổi chất cao hơn (máu nóng).